Bài tập đường lối: nghị quyết trung ương 2 khóa VIII

Bác Hồ lúc sinh thời từng nói: "Non sông Việt Nam có thể trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có thể bước tới đài vinh quanh để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em." .Qua đó, ta có thể thấy giáo dục-đào tạo có một vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nhận định rõ được điều này, Đảng ta đã thể hiện rõ sự quan tâm và sự định hướng của mình với giáo dục-đào tạo qua Nghị quyết TW2 khóa VIII. Trong phạm vi bài viết của mình, nhóm chúng em xin được giới thiệu sơ qua về Nghị quyết này.

doc7 trang | Chia sẻ: vietpd | Ngày: 18/03/2013 | Lượt xem: 1292 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Bài tập đường lối: nghị quyết trung ương 2 khóa VIII, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
A/ LỜI MỞ ĐẦU Bác Hồ lúc sinh thời từng nói: "Non sông Việt Nam có thể trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có thể bước tới đài vinh quanh để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em." .Qua đó, ta có thể thấy giáo dục-đào tạo có một vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nhận định rõ được điều này, Đảng ta đã thể hiện rõ sự quan tâm và sự định hướng của mình với giáo dục-đào tạo qua Nghị quyết TW2 khóa VIII. Trong phạm vi bài viết của mình, nhóm chúng em xin được giới thiệu sơ qua về Nghị quyết này. B/NỘI DUNG: I/Nội dung nghị quyết 1/ Thực trạng giáo dục và đào tạo ở nước ta trước 1996 Phần đầu tiên của Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII đã tổng kết lại những thành tựu cùng như hạn chế từ đó đề ra phương hướng phát triển ngành giảo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới. Thông qua Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII chúng ta có thể nhân thấy được nhưng thành tựu giáo dục trong cả chặng đường từ 1945 đến 1996. Tiêu biểu cho những thành tựu đó là: “Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp ; ngǎn chặn được sự giảm sút quy mô và bước tǎng trưởng khá; chất lượng giáo dục - đào tạo có tiến bộ về các môn khoa học tự nhiên và kỹ thuật; nhiều học sinh đạt giải quốc tế; ở nhiều nơi hình thành phong trào học tập sôi nổi;... Đồng thời Nghị quyết đã chỉ rõ nhưng mặt yếu kém của giảo dục Việt Nam Vẫn còn 9% dân số mù chữ; tỷ lệ sinh viên còn thấp; tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt 10%. Cơ cấu ngành,trình độ, cơ cấu xã hội và cơ cấu vùng chưa hợp lý..Chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo còn thấp. Những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục đang có chiều hướng gia tǎng.. Đội ngũ cán bộ vừa thiếu vừa yếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục - đào tạo trong giai đoạn mới... Nguyên nhân của những yếu kém này là do: Công tác quản lý giáo dục - đào tạo có những mặt yếu kém. Cơ chế quản lý của nghành giáo dục - đào tạo chưa hợp lý. Nội dung giáo dục - đào tạo vừa thừa vừa thiếu. Phương pháp giáo dục-đào tạo chậm đổi mới. Giáo dục- đào tạo chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trường chưa gắn mật thiết với gia đình và xã hội. Chính phủ và các cơ quan nhà nước chưa có những quyết định đủ mạnh về chính sách, cơ chế và biện pháp tổ chức thực hiện giáo dục- đào tạo. .. 2/ Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa: Để thực hiện yêu cầu vừa phát triển nhanh quy mô giáo dục - đào tạo, vừa gấp rút nâng cao chất lượng giáo dục - đào, Nghị quyết đã đề ra định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá với những tư tưởng chỉ đạo như sau: Một là, nhiệm vụ chủ yếu và cơ bản của giáo dục là xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với ý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo, trong các chính sách, nhất là chính sách về công bằng xã hội. Hai là, thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu. Ba là, coi giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Bốn là, phát triển giáo dục – đào gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, với tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh. Năm là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo. Sáu là, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình giáo dục - đào tạo, trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý. Đồng thời Hội nghị cũng đặt ra những mục tiêu phát triển cho giáo dục nước ta đến năm 2020, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng và hoàn thiện, nâng cao chất lượng toàn bộ hệ thống giáo dục, từ bậc học mầm non cho tới đại học và trung cấp chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu về con người cho đất nước. Đây là mục tiêu có tính chiến lược, dài hạn, đòi hỏi sự nỗ lực và phối hợp lớn không chỉ từ Bộ giáo dục mà cả từ hệ thống giáo dục trên cả nước. 3/ Nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2000 Phát huy những thành tựu đã đạt được, phát huy các mặt yếu kém theo hướng: chấn chỉnh công tác quản lý, khẩn trương lập lại trật tự, kỷ cương, kiên quyết đẩy lùi tiêu cực; sắp xếp và củng cố hệ thống giáo dục - đào tạo và mạng lưới trường lớp; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo; phát triển quy mô giáo dục - đào tạo, chuẩn bị tiền đề cho những bước phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 21. Trên cơ sở định hướng chiến lược trình bày ở trên, tiến hành xây dựng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo cho thời kỳ công nghiệp hoá , hiện đại hoá. Ban hành Luật giáo dục. Trong nǎm nǎm này, Đảng, Nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội và toàn dân phải tập trung sức thực hiện bằng các nhiệm vụ trên, giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm, tạo nên sự phát triển ổn định với một chất lượng được cải thiện, phát triển nguồn nhân lực yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, điều kiện giải quyết việc làm cho nhân dân, nhất là thanh niên. Mục tiêu cụ thể nǎm 2000 Nghị quyết đã xác định được những mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức dục trí dục, thẩm dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học. Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả nǎng tư duy sáng tạo và nǎng lực thực hành. - Phát triển bậc học mầm non phù hợp với điều kiện và yêu cầu của từng nơi.. - Phổ cập giáo dục bậc tiểu học được học đủ 9 môn theo trương trình quy định. Phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, các vùng kinh tế trọng điểm. - Thanh toán nạn mù chữ cho những người trong độ tuổi 15 - 35 - Tǎng quy mô học nghề bằng mọi hình thức để đạt 22% - 25% đội ngũ lao động được qua đào tạo vào nǎm 2000. Kế hoạch đào tạo nghề phải theo sát chương trình kinh tế - xã hội của từng vùng, phục vụ cho sự chuyển đổi lao động, cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn và nông nghiệp. - Nâng quy mô giáo dục đại học, cao đẳng lên 1,5 lần so với nǎm 1995 với cơ cấu đào tạo hợp lý , theo sát nhu cầu phát triển. Xây dựng một số trường đại học trọng điểm. - Có hình thức trường, lớp thích hợp nhằm đào tạo bồi dưỡng cán bộ chủ chốt xuất thân từ công nông và lao động ưu tú, con em các gia đình thuộc diện chính sách. - Đối với miền núi, vùng sâu vùng khó khǎn, xoá "điểm trắng" về giáo dục ở bản, ấp. Mở thêm các trường dân tộc nội trú và bán trú cụm xã, các huyện, tạo nguồn cho các trường chuyên nghiệp và đại học để tạo cán bộ cho các dân tộc.... 4/ Những giải pháp chủ yếu Không chỉ đề ra những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể mà nghị quyết Trưng ương 2 khoá VIII còn đưa ra những giải pháp trên từng bước đi chặng đường nhằm định hướng chiến lược phát triển gíáo dục – đào tạo trong thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nghị quyết đã đưa ra 4 giải pháp chính, khắc phục những nhược điểm cũng như để phù hợp với tình hình của nền giáo dục hiện tại. Đó là : tăng cường các nguồn lực có giáo dục – đào tạo; xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học; tiếp tục đổi mới nội dung phương pháp giáo dục – đào tạo, và tăng cường cơ sở vật chất các trường học; đổi mới công tác quản lí giáo dục. Với phương châm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, thì việc tăng cường nguồn lực cho giáo dục – đào tạo là hoàn toàn hợp lí. Nghị quyết đã khẳng định: Đầu tư cho giáo dục - đào tạo lấy từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục - đào taọ và được sử dụng tập trung, ưu tiên cho việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, đào tạo cán bộ cho một số ngành trọng điểm, bồi dưỡng nhân tài, trợ giúp cho giáo dục ở những vùng khó khǎn và diện chính sách. Công khai mức học phí và các khoản đóng góp, luôn ưu tiên hộ trợ cho người nghèo và người thuộc diện chính sách. Đặc biệt với chính sách cho học sinh sinh viên vay vốn để có điều kiện học tập đã giúp cho nhiều hoàn cảnh khó khăn tiếp tục trên con đường học tập. Xây dựng đội ngũ giáo viên. tạo động lực cho người dạy, người học.. Hết sức tạo điều kiện trong việc đào tạo trong các trường sư phạm, có những chính sách ưu tiên cho giáo viên có thể yên tâm học tập và giảng dạy ở khắp các vùng miền trên cả nước. Trong bất cứ một vấn đề nào thì phương pháp luôn giữ một vai trò quan trọng. Chính bởi thế Nghị quyết chủ trương tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục- đào tạo và tăng cường cơ sở vật chất trong các trường học.. Đổi mới chương trinh sách giáo khoa cho phù hợp, tổ chức cho học sinh sinh viên tham gia nhiều hoạt động đảm bảo phát triển toàn diện. Giải pháp thứ 4 là đổi mới công tác quản lí giáo dục. Luôn phải tăng cường dự báo và kế hoạch sự nghiệp giáo dục. Quy định lại chức năng, nhiệm vụ các cơ quan quản lí, kiểm soát chặt chẽ chương trình và chất lượng. Xử lí nghiêm các trường hợp tiêu cực trong ngành. Coi trong công tác nghiên cứu khoa học giáo dục. Tăng cường hợp tác nước ngoài.những đổi mới về nội dung, quy trình phương pháp giáo dục, đấnh giá... đều phải dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và trải qua thực nghiệm, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đưa vào nhà trường theo đúng quy định. Có thể nói những giải pháp mà Đảng đề ra trong nghị quyết là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục trong thời kì mới, nó như những chủ trương chiến lược để các cấp các ngành và từng cá nhân làm theo tiến tới mục tiêu phát triển nền giáo dục nước nhà. 5/ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục - đào tạo Trong nghị quyết TW2 khóa VIII, sự lãnh đạo của Đảng với giáo dục và đào tạo đã được tăng cường, đều được triển khai theo chỉ thị của Đảng, cụ thể là Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Ở cấp TW, việc thể chế hóa nhiệm vụ, mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo đến nǎm 2000, tổng kết những đổi mới trong giáo dục - đào tạo được tổng kết và xây dựng chiến lược được Ban cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo. Dự án Luật Giáo dục cũng được Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo hoàn thiện trình lên Quốc hội. Ở cấp dưới, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt Trận tổ chức phong trào toàn dân học tập, tham gia làm giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh ở từng địa phương, trước hết trong chính đoàn thể mình. Tổ chức Đảng được tǎng cường xây dựng, củng cố để trở thành hạt nhân lãnh đạo trong các trường học. II/ Đánh giá thực hiện nghị quyết trung ương 2 khóa VIII 1/Mặt tích cực: - Giáo dục và đào tạo đã giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, chương trình và chính sách giáo dục. Phát huy được những ảnh hưởng tích cực, hạn chế tiêu cực của cơ chế thị trường, khuynh hướng thương mại hoá trong giáo dục. - Cải thiện công bằng xã hội trong giáo dục, đặc biệt đối với trẻ em gái, dân tộc thiểu số và con em các gia đình nghèo, các đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội... Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa tiếp tục phát triển. - Các trường công lập giữ được vai trò nòng cốt trong phổ cập giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. các trường ngoài công lập phát triển nhanh về số lượng. Việc phát triển giáo dục và đào tạo gắn với phát triển kinh tế - xã hội, khoa học – công nghệ. - Hệ thống giáo dục quốc dân được hoàn thiện hơn. Quy mô giáo dục tăng nhanh (ở bậc đại học và đào tạo nghề). Mạng lưới cơ sở giáo dục được mở rộng đến hầu hết các xã, phường, thị trấn trong toàn quốc. Cả nước đã hoàn thành công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000. - Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, giáo trình ở phổ thông, dạy nghề và đại học đang được tích cực thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giúp học sinh, sinh viên tiếp cận với phương pháp học tập mới. Chất lượng đào tạo sau đại học, đại học, đào tạo nghề ở một số ngành được nâng lên. - Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng nhanh. Việc huy động các nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục được kiểm soát và tăng dần hiệu quả sử dụng, đạt hiệu quả khá cao. - Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giáo dục. 2/Mặt hạn chế: Tuy nhiên, trong quá trinh thực hiện nghị quyết trung ương 2 khóa VII giáo dục, đào tạo nước ta vẫn còn nhiều thiếu sót, chưa đáp ứng được với yêu cầu mà nghị quyết đã đề ra. Giáo dục chưa thực sự là quốc sách hàng đầu. Mặc dù hàng năm, giáo dục được đầu tư ngân sách rất lớn nhưng hiệu quả sử dụng lại không cao. Chất lượng giáo dục còn thấp, chênh lệch giữa các vùng miền, chú trọng số lượng hơn là chất lượng. Trong những năm gần đây, việc thành lập các trường đại học, cao đẳng mới tràn lan trong khi các trường này không đáp ứng được các điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên khiến chất lượng đào tạo đi xuống, sinh viên ra khỏi trường không kiếm được việc làm. Hệ thống giáo dục chưa liên thông, đồng bộ giữa các cấp học, ngành học, cơ cấu, trình độ ngành nghề, vùng, miền. Việc giáo dục đạo đức, lối sống, truyền thống dân tộc chưa được chú trọng đúng mức cả về nội dung lẫn phương pháp khiến học sinh thiếu kĩ năng sống, mất cân đối trong việc hình thành nhân cách thế hệ trẻ. Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiên đại hóa. Nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội, nghề nghiệp, chưa chú trọng phát huy tính chủ động sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên; thi cử còn nặng nề, tốn kém. Giáo dục phổ cập ở nhiều cơ sở chưa bền vững.Công tác quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém, chậm đổi mới chưa theo kịp được với sự phát triển trên các lĩnh vực của đất nước. Đạo đức và năng lực của các cán bộ quản lý giáo dục còn thấp. Đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu. Chât lượng nghiên cứu khoa học còn nhiều bất cập chưa đề ra được những biện pháp hiệu quả khắc phục những hạn chế, yếu kém. Định hướng liên kết với nước ngoài còn nhiều lúng túng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Quản lý sinh viên Việt Nam học tập tại nước ngoài còn lỏng lẻo. Một số ngành, địa phương chưa nhận thức đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục làm hạn chế khả năng thu hút các nguồn lực để chăm lo cho công tác giáo dục đào tạo III/ KẾT LUẬN Giáo dục - đào tạo đã, đang và vẫn sẽ luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu không chỉ của Đảng ta mà còn của toàn xã hội. Nghị quyết TW2 khóa VIII là bản tổng kết tình trạng thời kỳ trước đó và mục tiêu, định hướng lãnh đạo của Đảng ta về giáo dục – đào tạo trong giai đoạn 1996-2000. Tuy vẫn còn tồn tại một số nhược điểm nhưng cũng không thể phủ nhận những đổi mới trong đường lối định hướng lãnh đạo của Đảng ta với công tác giáo dục. Đây là một trong những cố gắng của Đảng để hoàn thiện, chăm lo đời sống của nhân dân, đưa nước ta từng bước phát triển tiến tới có thể "sánh vai với các cường quốc năm châu" như mong ước của Bác Hồ năm nào
Tài liệu liên quan