Đề tài Thực trạng thị trường cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay và giải pháp

Thị trường cổ phiếu mới ra đời đầu năm 2000. Thuật ngữ “Thị trường cổ phiếu” còn khá mới mẻ đối với công chúng Việt Nam. Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới, thị trường cổ phiếu đã phát triển rất sôi động. Trải qua 10 năm phát triển, thị trường cổ phiếu ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu khả quan, huy động được một nguồn lực đáng kể cho phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, thị trường cổ phiếu phát triển chưa đầy đủ, còn nhiều bất cập. Vì vậy em đã chọn đề tài “Thực trạng thị trường cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu của mình.

doc13 trang | Chia sẻ: maiphuong | Ngày: 26/04/2013 | Lượt xem: 2467 | Lượt tải: 19download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Thực trạng thị trường cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Thị trường cổ phiếu mới ra đời đầu năm 2000. Thuật ngữ “Thị trường cổ phiếu” còn khá mới mẻ đối với công chúng Việt Nam. Trong khi đó ở nhiều nước trên thế giới, thị trường cổ phiếu đã phát triển rất sôi động. Trải qua 10 năm phát triển, thị trường cổ phiếu ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu khả quan, huy động được một nguồn lực đáng kể cho phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, thị trường cổ phiếu phát triển chưa đầy đủ, còn nhiều bất cập. Vì vậy em đã chọn đề tài “Thực trạng thị trường cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu của mình. 2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài. Do qui mô của bài viết và thời gian làm bài bị hạn chế, cho nên bài viết này chỉ tập trung đề cập vào những nội dung cơ bản nhất của thị trường cổ phiếu. Kiến thức về thị trường cổ phiếu rất lớn nhưng những kiến thức trong bài viết này cũng tương đối đủ để hiểu về thị trường cổ phiếu. Về phần nói về thực trạng và một số giải pháp cho thị trường cổ phiếu Việt Nam, cũng do đó có nhiều thiếu sót. Vì vậy, bài viết này cũng chỉ tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất đối với thị trường cổ phiếu ở Việt Nam. 3. Kết cấu của đề tài. Đề tài bao gồm các nội dung sau: - Lời mở đầu - Chương I. Cơ sở lý luận về thị trường cổ phiếu - Chương II. Thực trạng thị trường cổ phiếu Việt Nam hiện nay - Chương III. Một số giải pháp phát triển thị trường cổ phiếu Việt Nam. - Lời kết luận. CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU 1. Khái niệm về cổ phiếu Cổ phiếu là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp vào công ty phát hành. Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Nguời nắm giữ cổ phiếu trở thành cổ đông và đồng thời là chủ sở hữu của công ty phát hành. Cổ phiếu là bằng chứng và là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần. Quyền sở hữu của cổ đông trong công ty cổ phần tương ứng với số lượng cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Vì vậy, cổ phiếu còn được gọi là chứng khoán vốn. Khi nói đến cổ phiếu của một công ty, người ta thường nói đến cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu phổ thông Cổ phiếu phổ thông (Cổ phiếu thường) là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty và xác nhận cho phép cổ đông được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty. Người nắm giữ cổ phiếu thường là cổ đông thường và là đồng sở hữu của công ty cổ phần. Cổ phiếu thường có những đặc điểm chủ yếu sau: Là loại cổ phiếu có thu nhập phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của công ty. Cổ phiếu của công ty không có thời hạn hoàn trả, vì đây không phải là khoản nợ đối với công ty. Cổ đông được chia phần giá trị tài sản còn lại khi thanh lý công ty sau khi công ty đã thanh toán các khoản nợ và thanh toán cho các cổ đông ưu đãi. Người góp vốn vào công ty không được quyền trực tiếp rút vốn ra khỏi công ty, nhưng được quyền chuyển nhượng sở hữu cổ phần dưới hình thức bán lại cổ phiếu hay dưới hình thức quà tặng hay để lại cho người thừa kế. Được quyền ưu tiên mua cổ phiếu khi công ty phát hành cổ phiếu mới để tăng vốn. Được quyền triệu tập đại hội đồng cổ đông bất thường theo luật định. Cổ đông thường cũng phải gánh chịu những rủi ro mà công ty gặp phải, tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trong phạm vi số lượng vốn góp vào công ty. Các hình thức giá trị của Cổ phiếu thường Mệnh giá của cổ phiếu thường: Mệnh giá hay còn gọi là giá trị danh nghĩa là giá trị mà công ty cổ phần ấn định cho một cổ phiếu và được ghi trên cổ phiếu. Giá trị sổ sách của cổ phiếu thường là giá trị của cổ phiếu được xác định dựa trên cơ sở số liệu sổ sách kế toán của công ty. Việc xem xét giá trị sổ sách, cho phép Cổ đông thấy được số giá trị tăng thêm của cổ phiếu thường sau một thời gian công ty hoạt động so với số vốn góp ban đầu. Giá trị thị trường: là giá trị thị trường hiện tại của cổ phiếu thường, được thể hiện trong giao dịch cuối cùng đã được ghi nhận. Giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường. Giá trị thị trường cổ phiếu của một công ty phụ thuộc rất nhiều yếu tố, do vậy nó thường xuyên biến động. Cổ phiếu ưu đãi Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong một công ty, đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông phổ thông. Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi được gọi là cổ đông ưu đãi của công ty. Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi có các quyền lợi sau: Quyền được nhận cổ tức trước các cổ đông thường Quyền ưu tiên được thanh toán trước, khi giải thể hay thanh lý công ty, nhưng sau người có trái phiếu. Tương tự như cổ phiếu phổ thông, nhưng cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi không được tham gia bầu cử, ứng cử vào Hội đồng Quản trị và quyết định những vấn đề quan trọng của công ty. Cổ phiếu ưu đãi có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá và mệnh giá của nó cũng không ảnh hưởng tới giá thị trường của cổ phiếu ưu đãi. Tuy cổ tức của cổ phiếu ưu đãi là cố định, nhưng cổ đông ưu đãi cũng chỉ được nhận cổ tức khi công ty làm ăn có lợi nhuận. 2. Đặc điểm của Cổ phiếu Không có kỳ hạn và không hoàn vốn Cổ phiếu là chứng nhận góp vốn của các cổ đông vào công ty cổ phần. Chỉ có chiều góp vào, không thể hiện thời hạn hoàn vốn; không có kỳ hạn. (Khi công ty phá sản hoặc giải thể, thì sẽ không còn tồn tại cổ phiếu). Cổ tức không ổn định và phụ thuộc vào kết quả SXKD của doanh nghiệp Cổ tức cổ phiếu thường tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, và vì kết quả kinh doanh không ổn định nên cổ tức cũng không thể cố định. Khi doanh nghiệp làm ăn phát đạt thì cổ đông được hưởng lợi nhuận nhiều hơn so với các loại chứng khoán khác có lãi suất cố định. Ngược lại, khi làm ăn khó khăn hoặc thua lỗ, cổ tức có thể rất thấp hoặc không có cổ tức. Khi phá sản, cổ đông là người cuối cùng nhận được giá trị còn lại của tài sản thanh lý Giá cổ phiếu biến động rất mạnh Giá biến động nhiều nhất là trên thị trường thứ cấp, do giá chịu sự tác động của nhiều nhân tố, và nhân tố quan trọng đó là kết quả kinh doanh của công ty. Bên cạnh đó, theo quan điểm của những nhà đầu tư, Cổ phiếu có các đặc điểm sau: Tính thanh khoản cao Cổ phiếu có khả năng chuyển hóa thành tiền mặt dễ dàng. Tuy nhiên tính thanh khoản của cổ phiếu phụ thuộc vào các yếu tố sau: Thứ nhất, kết quả kinh doanh của tổ chức phát hành (công ty có cổ phiếu niêm yết). Thứ hai, là mối quan hệ cung - cầu trên thị trường chứng khoán Có tính Lưu thông Tính lưu thông khiến cổ phiếu có giá trị như một loại tài sản thực sư, nếu như tính thanh khoản giúp cho chủ sở hữu cổ phiếu chuyển cổ phiếu thành tiền mặt khi cần thiết thì tính lưu thông giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được nhiều hoạt động như thừa kế tặng cho để thục hiện nghĩa vụ tài sản của mình. Tính Tư bản giả Cổ phiếu có tính tư bản giả tức là cổ phiếu có giá trị như tiền. Tuy nhiên cổ phiếu không phải là tiền và nó chỉ có giá trị khi được đảm bảo bằng tiền. Mệnh giá của cổ phiếu không phản ánh đúng giá trị của cổ phiếu. Tính Rủi ro cao Tính rủi ro phụ thuộc vào thông tin và tình hình phát triển, chính trị. Giá trị cổ phiếu luôn biến động theo các yếu tố này. Thị trường cổ phiếu là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các cổ phiếu giữa tổ chức phát hành và người mua chứng khoán, hoặc các cổ đông với nhau, hoặc giữa cổ đông với người có nhu cầu mua cổ phiếu đó. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Những thành tựu đạt được Trong 10 năm phát triển, thị trường cổ phiếu Việt Nam đã có bước phát triển khá vượt bậc, đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời gian qua. Nhìn chung, thị trường cổ phiếu trong gần 10 năm đã đạt được một số kết quả sau: Thị trường cổ phiếu năm 2000 chỉ có hai cổ phiếu niêm yết với giá trị giao dịch 70 triệu đồng/phiên. Hoạt động phát hành huy động vốn qua thị trường cổ phiếu thực tế chỉ mới phát sinh từ năm 2006 trở lại đây. Trong năm 2006, có 44 công ty cổ phần thực hiện việc chào bán hơn 203 triệu cổ phiếu. Tuy nhiên, hoạt động phát hành mới thực sự bùng nổ vào năm 2007, khi có gần 200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng thương mại được đăng ký với UBCKNN với tổng lượng vốn huy động lên đến gần 40.000 tỷ VND. Trong năm 2008, do sự suy giảm của thị trường chứng khoán, tổng số vốn huy động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng thông qua hơn 100 đợt chào bán chứng khoán ra công chúng. Thị trường hồi phục vào năm 2009 đã tạo điều kiện cho hoạt động phát hành qua thị trường chứng khoán, đặc biệt là phát hành cổ phiếu. Tổng số vốn huy động qua phát hành cổ phiếu năm 2009 đã tăng hơn 50% so với 2008, đạt 21.724 tỷ đồng. Những thành tích trên thị trường thứ cấp đã tác động tích cực đến thị trường phát hành, nhiều công ty đại chúng, đặc biệt là các công ty niêm yết đã tăng vốn lên từ hàng chục đến hàng trăm lần. Riêng 2 năm 2008-2009 đã có 35.000 tỷ đồng giá trị cổ phiếu (tính theo mệnh giá) được phát hành ra công chúng, góp phần làm lành mạnh cơ cấu tài chính của doanh nghiệp. Ngoài ra, công tác cổ phần hoá DNNN đã được gắn kết với việc huy động vốn từ công chúng đầu tư, góp phần thúc đẩy nhanh việc sắp xếp khu vực DNNN theo tiến trình cải cách nền kinh tế của Chính phủ và huy động vốn cho ngân sách nhà nước. Thực tế, việc gắn kết công tác cổ phần hóa DNNN với công tác tạo hàng cho thị trường cổ phiếu là nhân tố chủ đạo quyết định thành công trong việc tạo ra một nguồn hàng phong phú, góp phần thúc đẩy tăng trưởng quy mô của thị trường. Hệ thống trung gian của định chế thị trường cổ phiếu Việt Nam tăng mạnh về số lượng và chất lượng; đến nay có 105 công ty chứng khoán và 46 công ty quản lý quỹ hoạt động trên thị trường. Đồng thời hệ thống các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát triển mạnh; năm đầu khai trương thị trường có 3.000 tài khoản, đến nay đạt 926.000 tài khoản. Vốn đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 7 tỷ USD. 2. Các mặt hạn chế Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thị trường cổ phiếu vẫn tồn tại một số hạn chế sau: a) Số lượng và chất lượng hạn chế của cổ phiếu niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Hạn chế lớn nhất của thị trường là chưa có một lượng hàng hóa đủ lớn về quy mô cũng như cơ cấu nếu so sánh 600 mã chứng khoán niêm yết và đăng ký giao dịch với khoảng 4.000 công ty đại chúng. Sau 10 năm hoạt động, với 600 công ty được niêm yết vào thời điểm hiện tại, quy mô của thị trường cổ phiếu ở Việt Nam còn nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Nhiều công ty niêm yết hiện là các công ty quy mô nhỏ với số vốn khoảng vài chục tỷ đồng, chưa đủ gây ra sức hút đối với các nhà đầu tư. b) Thiếu vắng sự tham gia tích cực của những nhà đầu tư tổ chức trên thị trường Về phía cầu, nhiều nhà đầu tư cổ phiếu trên thị trường Việt Nam là cá nhân và mang tính đầu cơ hơn là đầu tư, góp phần tạo tính bất ổn định của thị trường. Điều này làm cho chính các doanh nghiệp ngần ngại khi quyết định huy động vốn qua thị trường cổ phiếu. Những nhà đầu tư tổ chức Việt Nam cũng như nước ngoài chưa tham gia nhiều vào mua cổ phiếu của các công ty niêm yết, một phần là do tính kém hấp dẫn của các cổ phiếu trên thị trường, nhưng cũng một phần do những khó khăn, phức tạp liên quan đến khuôn khổ pháp lý. Những khó khăn đó là khung pháp lý về bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số chưa đầy đủ, thiếu các chuẩn mực về công khai minh bạch thông tin, các quy định chưa rõ ràng về chế độ thuế đối với nhà đầu tư, quỹ đầu tư nước ngoài, các hạn chế về hạn mức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, v.v. c) Hoạt động của mua bán cổ phiếu trên thị trường phi chính thức lớn hơn nhiều lần so với thị trường chính thức và không được kiểm soát thích đáng. Việc bán cổ phiếu cho công chúng ở bên ngoài thị trường giao dịch chứng khoán (thị trường phi tập trung OTC) diễn ra khá sôi động, nhưng hiện chưa có quy định pháp luật nào kiểm soát hoạt động này. Theo ước tính, số lượng doanh nghiệp huy động vốn cổ đông từ công chúng trên thị trường không chính thức này gấp khoảng 30 lần số doanh nghiệp niêm yết chính thức. 2 trong số khoảng 1.000 DNNN đã được cổ phần hóa, chỉ có chưa tới 3% đã niêm yết, như vậy có thể cho rằng một số lượng lớn cổ phiếu của các doanh nghiệp này đang được mua bán trên thị trường không chính thức. Ở các nền kinh tế phát triển, thị trường OTC thường cũng có quy mô lớn hơn gấp nhiều lần thị trường tập trung, song thị trường này được kiểm soát bởi các luật lệ khá chặt chẽ nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Các luật lệ này vẫn chưa được thiết lập ở Việt Nam. Lo lắng chung từ phía quản lý nhà nước cũng như giới doanh nghiệp là thị trường phi chính thức không được kiểm soát này có nguy cơ sụp đổ cao và có thể gián tiếp làm tổn hại cho thị trường chính thức mới manh nha phát triển. d) Quy mô nhỏ và mức độ công khai thông tin thấp của các doanh nghiệp Việt Nam Các công ty tư nhân của Việt Nam mới phát triển trong vòng hơn một thập kỷ qua, đặc biệt là từ năm 2000. Vì vậy, hầu hết các công ty tư nhân đều ở một quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ và thường được quản lý theo kiểu gia đình. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thường tìm cách duy trì chế độ nhiều sổ sách và không công khai thông tin. Ví dụ, số doanh nghiệp báo cáo tài chính theo quy định của Luật Doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 15-20%.3 Nguyên nhân của tình hình này không chỉ do ý định chủ quan, thói quen của doanh nghiệp mà còn do sự thiếu vắng khung pháp lý và các chuẩn mực về công khai thông tin, kiểm toán, kế toán... của Việt Nam. Các vấn đề này tiếp tục là trở ngại đối với nhà đầu tư và không khuyến khích được hoạt động huy động vốn cổ đông. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU Ở VIỆT NAM Để thực hiện các mục tiêu cụ thể theo định hướng phát triển thị trường chứng khoán nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng của Nhà nước cần phải đưa ra các giải pháp thực hiện, vừa khắc phục những điểm hạn chế còn tồn tại, vừa hướng tới phát triển thị trường. Giải pháp thực hiện được chia thành các nhóm chính, cụ thể như sau: 1. Phát triển quy mô, nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại hàng hóa để đáp ứng nhu cầu thị trường Đẩy mạnh chương trình cổ phần hóa các doanh nghiệp, Tổng công ty, ngân hàng thương mại nhà nước, gắn việc cổ phần hóa với niêm yết trên thị trường chứng khoán; Mở rộng việc phát hành cổ phiếu mới để huy động vốn trên thị trường. Đối với những doanh nghiệp đã cổ phần hóa đủ điều kiện phải thực hiện việc niêm yết; đồng thời tiến hành rà soát, thực hiện ngay việc bán tiếp phần vốn, thực hiện ngay việc bán tiếp phần vốn Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước không cần giữ cổ phần chi phối. Chuyển đổi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang hình thức công ty cổ phần và niêm yết, giao dịch trên thị trường chứng khoán. Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư chiến lược (trong và ngoài nước) mua cổ phiếu của các doanh nghiệp nghiệp Việt Nam theo phương thức thoả thuận, hoặc đấu giá giữa các nhà đầu tư chiến lược với nhau, để cải thiện nhanh hơn về năng lực tài chính, chất lượng quản trị doanh nghiệp 2. Phát triển thị trường cổ phiếu theo hướng hiện đại, hoàn chỉnh về cấu trúc, được quản lý, giám sát bởi Nhà nước và có khả năng liên kết với thị trường khu vực và quốc tế Phát triển thị trường cổ phiếu theo nhiều cấp độ để đáp ứng nhu cầu phát hành cổ phiếu, niêm yết, giao dịch của nhiều loại hình doanh nghiệp và đảm bảo khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước theo hướng tách biệt thị trường giao dịch tập trung, thị trường OTC, thị trường đăng ký phát hành, giao dịch cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nâng cấp đồng bộ hạ tầng kỹ thuật của thị trường đảm bảo khả năng liên kết với thị trường các nước trong khu vực; Nghiên cứu cơ chế giao dịch đối với các cổ phiếu không đủ điều kiện niêm yết theo mô hình thỏa thuận thông qua các công ty chứng khoán; Các giao dịch tập trung thanh toán và chuyển giao thông qua Trung tâm lưu ký chứng khoán, đồng thời thiết lập cơ chế giám sát của Sở giao dịch chứng khoán trong việc công bố thông tin,… để tăng cường tính công khai, minh bạch trên thị trường, đảm bảo sự quản lý, giám sát của Nhà nước đối với các giao dịch, thu hẹp hoạt động trên thị trường tự do. 3. Phát triển hệ thống nhà đầu tư trong và ngoài nước Khuyến khích các định chế đầu tư chuyên nghiệp (ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm…) tham gia đầu tư trên thị trường. Thực hiện lộ trình mở cửa đối với các nhà đầu tư chuyên nghiệp nước ngoài vào thị trường Việt Nam theo lộ trình đã cam kết; Đa dạng hóa các loại quỹ đầu tư, tạo điều kiện cho phép Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Tiết kiệm bưu điện…. tham gia đầu tư trên thị trường cổ phiếu; Từng bước phát triển các quỹ hưu trí tư nhân để thu hút các vốn dân cư tham gia đầu tư; Khuyến khích việc thành lập các quỹ đầu tư ở nước ngoài đầu tư dài hạn vào thị trường Việt Nam. 4. Tăng cường công tác thanh tra giám sát hoạt động của của các tổ chức tham gia thị trường, xử lý nghiêm các vi phạm về công bố thông tin, về tin đồn gây bất lợi cho hệ thống thị trường tài chính, về rò rỉ thông tin. Để ngăn chặn việc rò rỉ thông tin: Một là, rà soát lại thông tư của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin và áp dụng thống nhất cho việc công bố thông tin trên thị trường; tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm khắc việc công bố thông tin chậm, công bố thông tin không chính xác, để rò rỉ thông tin bất luận là tổ chức hay cá nhân. Hai là; xử lý nghiêm khắc các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng phương tiện truyền thông (báo, chí, trang tin…) đưa thông tin sai lệch, hoặc làm méo mó tin, hoặc thông tin bất lợi cho thị trường mà không rõ nguồn gốc. Ba là; Về phía cơ quan quản lý nhà nước cần có thông điệp rõ ràng, minh bạch về việc điều hành các chính sách kinh tế - tài chính cũng như các thông tin vĩ mô để mọi người dân biết,hiểu đúng và chấp hành nghiêm túc. Bốn là; Thu hẹp hoạt động của thị trường tự do bằng cách yêu cầu các công ty đại chúng giao dịch trên thị trường tự do phải tuân thủ các yêu cầu về kiểm toán, công bố thông tin, quản trị công ty như các doanh nghiệp đã niêm yết. Điều này vừa giúp giảm thiểu rủi ro trong thanh toán, vừa làm cho các giao dịch này được công khai, dễ kiểm soát, từng bước thu hút vào thị trường có tổ chức. Mặt khác cũng cần cải tiến và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền để người dân tiếp cận được thông tin kịp thời về cơ chế chính sách của Nhà nước nói chung và thị trường cổ phiếu nói riêng. KẾT LUẬN Đề tài đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu về thị trường cổ phiếu ở Việt Nam hiện nay, những thành tựu đã đạt được và những mặt hạn chế còn tồn tại. Đề tài cũng đã đề xuất những giải pháp nhằm phát triển thị trường cổ phiếu ở Việt Nam trong thời gian sắp tới như Do thời gian nghiên cứu ngắn và kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế nên bài viết còn nhiều thiếu sót. Em rất mong muốn nhận được ý kiến đóng góp của thầy giáo Trần Đăng Khâm để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.
Tài liệu liên quan