Bài viết Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là vấn đềluôn được các nhà khoa học, giới quản trịvà chính quyền các cấp quan tâm do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là cốt lõi của năng lực cạnh tranh của một địa phương hay một quốc gia. Bài viết nhằm mục tiêu đánh giá đúng thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam dựa trên việc phân tích các yếu tốcạnh tranh, như: năng lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực, trình độcông nghệ, thịphần, hệthống kênh phân phối, phát triển sản phẩm mới và công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu. Từ đó, bài viết trình bày một sốkiến nghịvà đềxuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM nội địa trong bối cảnh Việt Nam bắt đầu thực hiện các cam kết đối với Tổchức Thương mại Thếgiới (WTO) vềmởcửa hoàn toàn thịtrường dịch vụngân hàng. ABSTRACT

pdf12 trang | Chia sẻ: oanhnt | Ngày: 26/02/2014 | Lượt xem: 558 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài viết Nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 194 NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM IMPROVING THE COMPETITIVENESS OF VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS Đặng Hữu Mẫn Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là vấn đề luôn được các nhà khoa học, giới quản trị và chính quyền các cấp quan tâm do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là cốt lõi của năng lực cạnh tranh của một địa phương hay một quốc gia. Bài viết nhằm mục tiêu đánh giá đúng thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam dựa trên việc phân tích các yếu tố cạnh tranh, như: năng lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực, trình độ công nghệ, thị phần, hệ thống kênh phân phối, phát triển sản phẩm mới và công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu. Từ đó, bài viết trình bày một số kiến nghị và đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM nội địa trong bối cảnh Việt Nam bắt đầu thực hiện các cam kết đối với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ ngân hàng. ABSTRACT Improving organizational competitiveness has become an increasingly important topic, and received significant attention by a large number of researchers, corporate managers, and authorities at various levels, since company competitiveness is an essential element of provincial competitiveness or national competitiveness. This article focuses on evaluating the competitiveness of Vietnamese commercial banks based on the analysis of competitive factors such as financial power, human resources quality, technological levels, market-share growth, distribution systems, new product development and trademark building and propagation. On the basis of such real situations, the paper discusses suggested solutions to the improvement of competitiveness in domestic commercial banks in the context that Vietnam has been opening up the banking sector completely and starting the WTO commitments. 1. Đặt vấn đề Vấn đề nâng cao sức mạnh cho hệ thống tài chính Việt Nam nói chung và ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam nói riêng trong xu thế hội nhập quốc tế đã bắt đầu được thảo luận từ làn sóng dịch chuyển vốn đầu tư nước ngoài đến các quốc gia đang phát triển nở rộ ở những thập niên nửa cuối thế kỷ 20. Sự thay đổi tư duy quản lý kinh tế của Việt Nam tiếp tục góp phần cổ động mạnh mẽ xu thế lịch sử này. Việt Nam dần thành lập được thị trường ngoại hối, rồi thị trường chứng khoán và các hình thái thị trường tài chính thứ cấp khác tồn tại đan xen trong một nền kinh tế thị trường chưa định hình rõ nét. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) tiếp tục là liều “thuốc thử” mạnh hơn cho sức mạnh của hệ thống tài chính Việt Nam vốn còn quá non trẻ. Thật vậy, với nguyên tắc Đãi Ngộ Tối Huệ Quốc và Đãi Ngộ Quốc Gia của WTO, các TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 195 định chế tài chính khổng lồ nước ngoài sẽ có nhiều cơ hội hoạt động phong phú, đa dạng tại Việt Nam và được đối xử ngang bằng với các ngân hàng nội địa. Thực tế này đặt ra nhiệm vụ cấp bách cho cả giới khoa học, những nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý, hoạch định chính sách của Việt Nam: Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Mục tiêu chính của bài báo là đánh giá đúng thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam; từ đó, trình bày một số kiến nghị và đề xuất nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam bắt đầu mở cửa hoàn toàn dịch vụ ngân hàng và thực hiện các cam kết mở cửa thị trường. 2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam 2.1 Năng lực tài chính Theo số liệu được công bố, trong những năm qua các NHTM Việt Nam không ngừng nâng cao sức mạnh tài chính của mình. Quy mô vốn điều lệ của những NHTM (nhà nước và cổ phần) đã có sự tăng nhanh, đặc biệt là khối cổ phần (xem Bảng 1). Bảng 1. Quy mô vốn điều lệ của một số NHTM Việt Nam Năm 2007 Năm 2008 Ngân hàng Tỷ VND Triệu USD1 Tỷ VND Triệu USD % Agribank 10.464 596 10.543 601 0,75 BIDV 7.629 435 8.756 499 14,77 Vietinbank 7.608 434 7.717 440 1,43 Sacombank 4.448 253 5.116 292 15,02 VCB 4.429 252 4.429 252 0,00 Eximbank 2.800 160 7.220 411 157,86 ACB 2.630 150 6.355 362 141,63 Techcombank 2.521 144 3.642 208 44,47 VPB 2.000 114 2.117 121 5,85 SCB 1.970 112 2.180 124 10,66 DongAbank 1.600 91 2.880 164 80,00 MHB 744 42 810 46 8,87 (Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo thường niên của các NHTM năm 2007, 2008) 1 Chúng tôi quy đổi theo tỷ giá bình quân giai đoạn 2007-2008 do NHNN Việt Nam báo cáo thường niên. Theo đó, tỷ giá quy đổi USD/VND = 17.550 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 196 Mặc dù vậy, nếu so sánh với một số NHTM trong khu vực Đông Nam Á thì quy mô vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam là quá nhỏ bé (xem Bảng 2). Bảng 2. Quy mô vốn chủ sở hữu của một số NHTM trong khu vực ASEAN năm 2009 ĐVT: triệu USD Ngân hàng Quốc gia Vốn chủ sở hữu Development Bank of Singapore Limited Singapore 18.649 Maybank Malaysia 7.917 Bangkok Bank Public Company Limited Thái Lan 6.263 Banco de Oro Unibank, Inc. Philippines 1.505 (Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo thường niên của các NHTM năm 2009. Các Báo cáo thường niên được lấy từ trang web của các NHTM kể trên) Mặt khác, về phương diện mức độ an toàn vốn, với sự gia tăng vốn điều lệ, tỷ lệ an toàn vốn tối thiếu (CAR) của đa số NHTM đều trên mức tối thiểu 8% theo yêu cầu của Basel II, và vì vậy đảm bảo hoạt động an toàn của các NHTM (xem Bảng 3).2 Bảng 3. Tỷ lệ CAR của một số NHTM tiêu biểu qua các năm ĐVT: % Ngân hàng Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Agribank 0,41 4,97 7,2 - BIDV 6,80 5,50 11,00 8,94 Vietinbank 6,07 5,18 11,62 - Vietcombank 9,57 12,6 9,20 8,9 MHB 10,19 9,31 9,44 - Techcombank 15,72 17,28 14,30 13,99 ACB 12,10 10,89 16,19 - Sacombank 15,40 11,82 11,07 - DongAbank 8,94 13,57 14,36 - (Nguồn: Báo cáo phân tích ngành Ngân hàng do Công ty chứng khoán Bảo Việt thực hiện năm 2008) Về chất lượng Tài Sản Có, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của những ngân hàng 2 Tuy vậy, theo Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 25/5/2010 của NHNN Việt Nam, kể từ ngày 1/10/2010 tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM tối thiểu phải là 9%. Điều này tiếp tục là một áp lực lớn cho các NHTM Việt Nam. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 197 chiếm thị phần lớn ở Việt Nam có xu hướng tăng lên, mặc dù đều nằm trong giới hạn an toàn cho phép3 (xem Bảng 4). Bảng 4. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của một số NHTM ĐVT: % STT Ngân hàng 2004 2005 2006 2007 2008 1 Agribank 1,74 2,30 1,90 2,50 2,68 2 BIDV 14,56 11,64 11,9 4,80 2,75 3 Vietinbank 1,96 2,40 1,38 1,02 1,81 4 VCB - 3,64 2,65 2,66 4,61 5 MHB - - 0,40 - 6 Techcombank - - 3,10 1,40 - 7 ACB 0,43 0,30 0,20 0,08 0,90 8 Sacombank 1,07 0,55 0,72 0,24 0,62 9 DongAbank - - 0,80 0,40 - 10 Eximbank - 1,00 0,80 0,88 4,71 (Nguồn: Báo cáo phân tích ngành Ngân hàng do Công ty chứng khoán Bảo Việt thực hiện năm 2008) Tuy vậy, sang năm 2009, tỷ lệ nợ xấu, trong đó nợ xấu ở các nhóm nợ có rủi ro tín dụng cao (nhóm 3-5) lại có xu hướng tăng mạnh. Điều này là kết quả của sự gia tăng tín dụng quá mức của các NHTM, đặc biệt là các NHTM khối nhà nước. Theo Trung tâm Thông tin Tín dụng (CIC), tỷ trọng dư nợ nhóm 3, 4 và 5 của khối ngân hàng quốc doanh trên tổng dư nợ toàn ngành ngân hàng tính đến tháng 5/2009 lần lượt là 57,58%, 35,95% và 59,69%. Cùng với sự gia tăng của tỷ lệ nợ xấu, mức độ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của các NHTM cũng vì thế mà tăng lên qua các năm. Bảng 5. Tỷ lệ dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ của một số NHTM ĐVT: % STT Ngân hàng Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 1 Agribank 1,14% 1,83% 1,90% 2 BIDV 1,50% 2,20% 2,55% 3 Vietcombank 2,20% 2,48% 2,66% 4 Vietinbank 0,07% 1,67% 1,78% 5 MHB 1,35% 1,24% 1,04% 6 Techcombank 1,31% 0,97% 2,30% 3 Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (NPL) có thể chấp nhận được là từ 3%- 5%. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 198 7 EXimBank 0,40% 0,40% 1,77% 8 ACB 0,40% 0,40% 0,65% 9 Sacombank 0,60% 0,50% 0,72% 10 DongAbank 0,20% 0,40% 0,84% (Nguồn: Báo cáo phân tích ngành Ngân hàng do Công ty chứng khoán Bảo Việt thực hiện năm 2008) Cuối cùng, về phương diện khả năng sinh lời, theo Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, ROE trung bình năm 2008 của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt 16,42% và khá ngang bằng so với mức trung bình trong khu vực là 16,47%. Biểu đồ 1 dưới đây chỉ ra ROA và ROE năm 2008 của một số NHTM tiêu biểu. Theo đó, kết quả hoạt động của các NHTM cổ phần khả quan hơn nhiều so với các NHTM nhà nước. Biểu đồ 1. ROA và ROE năm 2008 của một số NHTM ĐVT: % (Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên của các NHTM năm 2008) 2.2 Năng lực thị phần Biểu đồ 2a, 2b chỉ ra thị phần huy động và thị phần cho vay của các NHTM năm 2008 với một đặc điểm rõ nét là sự vượt trội của các NHTM khối nhà nước. Theo đánh giá của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, ưu thế này sẽ ít có khả năng thay đổi trong tương lai gần. Mặc dù vậy, cùng với sự năng động trong việc cung ứng các sản phẩm dịch vụ mới, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội, các NHTM khối cổ phần được dự báo sẽ tiếp tục khẳng định được vị thế và chiếm giữ thị phần ngày càng cao trên thị trường. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 199 (Nguồn: Báo cáo phân tích ngành Ngân hàng do Công ty cổ phần chứng khoán MHBS thực hiện năm 2009) 2.3 Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực Theo VPC,4 chất lượng nguồn nhân lực tại các NHTM Việt Nam chưa cao, chưa thật sự nhạy bén với những thay đổi của ngành, đặc biệt tại các NHTM khối nhà nước. Do lực lượng lao động cũ còn nhiều, nên trình độ lao động của các NHTM Nhà nước còn nhiều bất cập: nhiều cán bộ nâng cao trình độ dưới hình thức hoàn chỉnh đại học làm cho số trình độ đại học tăng lên về lượng (xem Bảng 6) nhưng chưa thật sự nâng cao trình độ về chất. 4 Tham khảo từ Website của Trung Tâm Năng suất Việt Nam (VPC): Biểu đồ 2a. Thị phần huy động năm 2008 Biểu đồ 2b. Thị phần cho vay năm 2008 ĐVT: % TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 200 Bảng 6. Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn của một số NHTM năm 2008 ĐVT: lao động / % Ngân hàng Tổng số lao động Trên đại học Đại học Cao đẳng, trung cấp Trình độ khác Agribank 33.967 1,22% 71,63% 6,30% 20,85% Vietinbank 13.000 1,77% 55,77% 6,37% 21,11% BIDV 11.585 4,02% 74,43% 12,78% 8,77% Vietcombank 6.478 3,44% 76,30% 10,59% 9,67% MHB 2.848 71,00% 29,00% Techcombank 4.224 82,00% 15,00% 3,00% Eximbank 2.360 1,35% 62,07% 16,00% 20,58% Sacombank 5.470 0,88% 58,94% 17,73% 22,45% ACB 4.600 1,78% 85,41% 9,37% 3,44% (Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên của các NHTM năm 2008) Mặc dù vậy vẫn phải khẳng định rằng trình độ lao động của các NHTM đã được nâng lên đáng kể, tỷ lệ trên đại học và đại học trong cơ cấu lao động của các NHTM, đặc biệt là khối cổ phần khá cao. Điều này chứng tỏ các NHTM cổ phần đang đẩy mạnh vấn đề tìm kiếm, bổ sung thêm nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, thậm chí xem đây là yếu tố tiên quyết để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng. 2.4 Năng lực cạnh tranh về công nghệ Với sự thành công của Dự án Hiện đại hóa Ngân hàng và Hệ thống Thanh toán do World Bank tài trợ, năng lực công nghệ của các NHTM Việt Nam tiếp tục được nâng cấp, thể hiện qua việc hệ thống thanh toán không ngừng phát triển theo hướng hiện đại hóa, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Ở một khía cạnh liên quan, số lượng máy ATM và POS được trang bị không ngừng tăng lên qua các năm đã tạo điều kiện giảm tải các giao dịch tại các ngân hàng, nâng cao chất lượng phục vụ cho khách hàng cá nhân và phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 201 (Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên của các NHTM năm 2008) 2.5 Năng lực cạnh tranh về hệ thống kênh phân phối Biểu đồ 4 cho thấy số lượng chi nhánh, phòng và điểm giao dịch của các NHTM đã có sự tăng trưởng đều đặn qua các năm, phản ánh sự năng động của các NHTM trong việc củng cố, mở rộng và phát triển thị phần cũng như mạng lưới bán lẻ. Biểu đồ 3a. Số lượng máy ATM năm 2008 Biểu đồ 3b. Số lượng máy POS năm 2008 TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 202 Biểu đồ 4. Mạng lưới (chi nhánh, phòng và điểm giao dịch) của một số NHTM năm 2008 ĐVT: chi nhánh, phòng và điểm giao dịch (Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên của các NHTM qua các năm) Tuy vậy, việc tăng cường hệ thống kênh phân phối trong thời gian qua, đặc biệt là mạng lưới bán lẻ cũng đặt dấu hỏi về hiệu quả kinh doanh. Lấy ví dụ tại Đà Nẵng, hiện có đến 54 chi nhánh ngân hàng cấp 1 và 192 phòng, điểm giao dịch,5 giành giật nhau ở một thị trường chưa đầy 1 triệu dân (số liệu thống kê thời điểm 1/4/2009). Điều này đặt ra một vấn đề trong phân bổ mạng lưới của các TCTD, vừa tạo ra những làn sóng cạnh tranh dữ dội không cần thiết, vừa có thể gây lãng phí trong hoạt động ngân hàng. 2.6 Năng lực cạnh tranh về mở rộng và phát triển dịch vụ Việc các NHTM Việt Nam chưa phát huy hết hiệu quả của mạng lưới rộng khắp cũng như trình độ nhân lực ngân hàng có giới hạn đã hạn chế sự phát triển các sản phẩm dịch vụ với những tiện ích mới và phong phú hơn; và vì thế gây lãng phí rất lớn đối với không chỉ ngân hàng mà còn cho cả khách hàng. Thật vậy, trong một thời gian khá dài, người dân kể cả các đối tượng có trình độ như cán bộ công nhân viên chức, nắm giữ các loại thẻ ngân hàng chỉ để “rút tiền lương hàng tháng”. Tình hình này thời gian gần đây có vẻ khả quan hơn khi một số ngân hàng đã cung cấp thêm các dịch vụ, tiện ích gia tăng như thanh toán hoá đơn, thu hộ tiền bán hàng, thấu chi,v.v… Biểu đồ 5. Xếp hạng của 5 loại dịch vụ tại một số NHTM tiêu biểu 6 5 Số liệu cập nhật đến tháng 8/2010. 6 Trích từ cuộc điều tra của Trung tâm Nghiên cứu người tiêu dùng và doanh nghiệp đã công bố năm 2008. Theo đó, có 7 mức xếp hạng theo thứ tự từ mức chất lượng cao nhất (mức 1) đến mức chất lượng thấp nhất (mức 7). TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 203 Biểu đồ 5 cho thấy các NHTM cổ phần luôn dẫn đầu về tính đột phá khi cho ra đời những dòng sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng đặc biệt là dòng sản phẩm thẻ, dịch vụ tài khoản, sản phẩm liên quan đến vàng và ngoại tệ, v.v… 2.7 Năng lực cạnh tranh về thương hiệu Với sự nhận thức vai trò thiết yếu của thương hiệu trong môi trường cạnh tranh khắc nghiệt, một số NHTM hàng đầu ở Việt Nam đã đẩy mạnh công tác xây dựng và quảng bá thương hiệu, bước đầu tạo được thương hiệu riêng, đặc thù gắn với các sản phẩm và thế mạnh riêng có. Chẳng hạn, Agribank với bề dày truyền thống hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân; BIDV trong tín dụng phát triển cơ sở hạ tầng và xây dựng cơ bản; VCB với những sản phẩm có chất lượng cao trong thanh toán nội địa và quốc tế; Sacombank, ACB với các dịch vụ liên quan đến vàng và ngoại tệ,v.v… Tuy vậy, các NHTM Việt Nam vẫn chưa xây dựng được các thương hiệu mạnh, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Một số NHTM đã cố gắng thiết lập các chi nhánh, đại lý tại một số nước phát triển nhưng mới chỉ dừng lại dưới hình thức thu nhận, chuyển tiền kiều hối hoặc thăm dò thị trường là chính. 3. Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam 3.1 Giải pháp đối với các NHTM - Tăng cường năng lực tài chính theo hướng tăng quy mô vốn điều lệ, đảm bảo mức an toàn vốn theo chuẩn mực quốc tế và tuân thủ pháp luật ngân hàng Việt Nam.7 Theo đó, các NHTM cần xác định một tỷ lệ hợp lý lợi nhuận ròng được sử dụng hằng năm để tăng vốn điều lệ hoặc có thể tiến hành sáp nhập và mua lại (M&As) các ngân hàng nhỏ để hình thành nên một ngân hàng có tiềm lực tài chính lớn hơn. Thật vậy, hoạt động M&As là một trong những phương thức quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM nội địa Việt Nam thông qua việc gia tăng giá trị và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro trước sự cạnh tranh khốc liệt của những tập đoàn tài chính khổng lồ nước ngoài khi mà Việt Nam đang hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết mở cửa thị trường. - Xây dựng được một đội ngũ nhân viên có trình độ nghiệp vụ cao, có tinh thần trách nhiệm và phẩm chất đạo đức tốt. Tích cực đào tạo, đào tạo lại, tập huấn nghiệp vụ thường xuyên cho cán bộ nhân viên đối với các sản phẩm dịch vụ mới cung ứng. Đặc biệt, các NHTM nên cân nhắc xây dựng và nâng cấp hệ thống E-Learning để đơn giản hóa công tác tập huấn, đào tạo. - Xây dựng và phát triển sản phẩm mới với những tiện tích mới và phong phú hơn. Thật vậy, phát triển sản phẩm mới là một trong những yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM bởi vì suy cho cùng các NHTM cạnh tranh lẫn nhau thông qua 7 Theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP của Chính phủ, mức vốn pháp định của tất cả các NHTM đến năm 2010 là 3.000 tỷ VND, CAR tối thiểu là 8%, tỷ lệ nợ xấu dưới 5%. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG - SỐ 5(40).2010 204 chuỗi các sản phẩm cung ứng của họ. Ngoài ra, sản phẩm dịch vụ ngân hàng không có tính độc quyền, dễ bị sao chép, vì vậy các ngân hàng chỉ có thể tạo thế mạnh hay sự khác biệt cho ngân hàng bằng cách sử dụng các dịch vụ cộng thêm. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, NHTM cần xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm mới và có sự đầu tư thỏa đáng trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới. - Ngoài ra, tiếp tục hoàn thiện công nghệ, mở rộng các loại sản phẩm mới trên cơ sở đảm bảo tính chính xác, kịp thời, bảo mật và an toàn. - Rà soát lại hệ thống kênh phân phối, đầu tư có trọng điểm, có chiến lược dài hạn, không chạy theo số lượng, tránh tình trạng dư thừa, gây khó khăn cho triển khai đồng bộ, hiện đại hóa công nghệ, gây sự lãng phí trong giao dịch, chi phí cố định và nhân sự. - Xây dựng, củng cố và phát triển thương hiệu ngân hàng. Thương hiệu của ngân hàng khẳng định vị thế của nó trên thị trường. Vị thế của ngân hàng được thể hiện qua thị phần sản phẩm so với sản phẩm cùng loại, uy tín thương hiệu sản phẩm đối với khách hàng, sự hoàn hảo của các dịch vụ và được đo bằng thị phần của các sản phẩm dịch vụ đó trên thị trường. Theo đó, ngân hàng cần cố gắng theo đuổi chiến lược phát triển thương hiệu riêng, đặc thù gắn với các sản phẩm và thế mạnh riêng có. 3.2 Một số kiến nghị, đề xuất đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) với tư cách cơ quan quản lý ngành, hằng năm tổ chức đánh giá và xếp hạng năng lực cạnh tranh của các TCTD. - NHNN cũng nên xem xét lại Thông tư số 13/2010/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 20/5/2010, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/10/2010 [4]. Thực tế, theo chúng tôi, một vài điều trong Thông tư này là khá bất cập, và do đó có thể làm giảm năng lực cạnh tranh (xét về phương diện vốn) của các NHTM. Chẳng hạn, Thông tư 13 quy định, nguồn vốn huy động sử dụng để cho vay không bao gồm tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm Xã hội và các tổ chức khác. Quy định này là không hợp lý, vì tiền gửi không kỳ hạn của những đối tượng trên thường chiếm tỷ lệ từ 15% - 20% trong tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng.8 Điều này sẽ làm cho phần nguồn vốn để đảm bảo khả năng thanh toán có thể lên đến 35% trên tổng nguồn vốn huy động, và vì thế tỷ lệ này là quá cao, cản trở mạnh hoạt động sử dụng vốn của NHTM; từ đó làm giảm năng lực cạnh tranh của ngân hàng. - Ngoài ra, NHNN cần thành lập một số tổ chức hỗ trợ tư vấn cho các NHTM về nhà cung cấp và cách thức chuy
Tài liệu liên quan