Đề tài Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay của một số Ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2005 đến nay

Trong một xã hội phát triển, sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã tạo ra nhiều sản phẩm mà một trong những sản phẩm của nó chính là quan hệ tín dụng. Kể từ khi thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang hoạt động theo cơ chế thị trường, toàn bộ hệ thống tổ chức và hoạt động của NHNNVN đã đổi mới sâu sắc và đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Có những kết qủa đó là nhờ vào việc đổi mới hoạt động tín dụng từ việc hoạch định đến chỉ đạo thực hiện.

doc30 trang | Chia sẻ: vietpd | Ngày: 04/10/2013 | Lượt xem: 152 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Đề tài Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay của một số Ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2005 đến nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đề tài: “Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay của một số Ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2005 đến nay” Mục lục trang Lời mở đầu 2 Chương I 3 Chương II 14 Chương III 24 Kết luận 29 Lời mở đầu Trong một xã hội phát triển, sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất đã tạo ra nhiều sản phẩm mà một trong những sản phẩm của nó chính là quan hệ tín dụng. Kể từ khi thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, chuyển nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang hoạt động theo cơ chế thị trường, toàn bộ hệ thống tổ chức và hoạt động của NHNNVN đã đổi mới sâu sắc và đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Có những kết qủa đó là nhờ vào việc đổi mới hoạt động tín dụng từ việc hoạch định đến chỉ đạo thực hiện. Trong nền kinh tế xuất hiện nhu cầu cần vốn và “nhu cầu” cho vay vốn. Hai nhu cầu này đều giống nhau ở chỗ để thu lợi nhuận và mang tính chất tạm thời. Nhưng chúng khác nhau về chiều vận động và quyền sở hữu. Do đó, trong nền kinh tế tất yếu tồn tại quan hệ tiêu dùng và tín dụng. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng có ý nghĩa to lớn đối với Ngân hàng Thương Mại (NHTM) trong chiến lợc huy động vốn và phát triển . Trong thời gian qua, việc hoạt động của NHTM còn gặp nhiều khó khăn và hạn chế. Nhận thức được thực trạng và tầm quan trọng của tín dụng đối với nền kinh tế trong công cuộc cải cách và phát triển, em xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng hoạt động cho vay của một số Ngân hàng thương mại Việt Nam từ năm 2005 đến nay” Bài viết của em đi sâu vào nghiên cứu ba vấn đề chính: Chương I:Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay của các NHTM Chương II: Thực trạng về hoạt động cho vay của NHTM Việt Nam hiện nay Chương III: Một số giải pháp về nâng cao chất lượng hoạt động cho vay của NHTM ở Việt Nam hiện nay Nhưng do thời gian nghiên cứu không dài và kiến thức của bản thân có hạn, bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo để em có những hiểu biết đúng đắn và sâu sắc hơn về vấn đề này. Em xin chân thành cảm ơn./. Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay của NHTM Sự ra đời và phỏt triển đối với hoạt động cho vay của ngõn hàng thương mại: Lịch sử ra đời và phát triển của hoạt động cho vay gắn liền với lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá. Hình thức sơ khai của cho vay là cho vay nặng lãi, có được do sự phân chia của tập đoàn nguời thành những người có nhiều hơn và những người có ít hơn ,dẫn đến sự xuất hiện quan hệ vay mượn do có sự chênh lệch dư thừa sản phẩm. Người đi vay không những phải trả vốn mà còn phải trả lãi cho ngời cho vay, đó chính là tín dụng nặng lãi. Hình thức này chỉ tồn tại ở xã hội trước tư bản và mục đích của nó là để duy trì cuộc sống cho những người cần vay.Đến phương thức TBCN, tín dụng nặng lãi không còn phù hợp, sản xuất phát triển, đi vay không những cho để tiêu dùng mà còn để phát triển sản xuất. Lãi suất cho vay cũng phải thấp hơn do có nhiều nhà cho vay hơn và để cho nhà tư bản đi vay đảm bảo cho sản xuất có lợi nhuận, Vay mượn không chỉ đơn thuần là tiền mà còn là các máy móc thiết bị, tư liệu sản xuất....Lãi suất không còn bị áp đặt bởi những người cho vay mà phải là sự thoả thuận giữa người mua và người bán.   Nhà kinh tế phỏp Louis Baundin, đó định nghĩa tớn dụng như là “Một sự trao đổi tài hoỏ hiện tại lấy một tài hoỏ tương lai”. Ở đõy, chỳng ta thấy yếu tố thời gian đó xen lẫn vào,cũng vỡ cú sự xen lẫn đú, cho nờn cú sự bất trắc, rủi do xảy ra và cần cú sự tớn nhiệm, sử dụng sự tớn nhiệm của nhau nờn mới cú danh từ tớn dụng.     Tại Việt Nam cỏc quyết định 1627/2001_QĐ_NHNN ngày 31/12/2001 của thống đốc ngõn hàng về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tớn dụng đối với khỏch hàng    Cho vay là một hỡnh thức cấp tớn dụng, theo đú ngõn hàng cho vay giao cho khỏch hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đớch và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyờn tắc cú hoản trả cả gốc và lói. Định nghĩa trờn được cỏc ngõn hàng và tổ chức tớn dụng khỏc ỏp dụng để làm tiền đề căn bản cho cỏc hoạt động cho vay của mỡnh. Vai trũ cho vay của Ngõn hàng thương mại: Vai trũ đối với nền kinh tế: Cho vay gúp phần thu hỳt vốn đầu tư cho nền kinh tế: Do đặc điểm cho vay là quy mụ rộng, khỏch hàng đa dạng mặt khỏc nú là hỡnh thức kinh doanh chủ yếu của ngõn hàng. Với vai trũ là trung gian tài chớnh ngõn hàng đúng vai trũ là cầu nối vốn cho nền kinh tế, giữa người thừa vốn và người cần vốn để đầu tư. Vỡ thế mà ngõn hàng giải quyết được một trong những đặc điểm của tiền là. “Tiền cú giỏ trị theo thời gian” cỏc nguồn vốn nhàn rỗi đươc tập hợp và đầu tư cho cỏc phương ỏn, dự ỏn kinh doanh khỏc nhau đang cần vốn để thưc hiện dự ỏn. Đỏp ứng được nhu cầu vốn của dự ỏn nghĩa là phương ỏn, dự ỏn đó được giải quyết về vấn đề vốn. Đõy là yếu tố khú khăn, quan trọng để biến ý tưởng kinh doanh thành thực tế. Và chớnh nú giải quyết được cỏc vấn đề kinh tế xó hội như tăng trưởng, phỏt triển kinh tế. Giải quyết cụng ăn việc làm cho người lao động… Hoạt động cho vay gúp phần mở rộng sản xuất, thỳc đẩy đổi mới cụng nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học kỹ thuật… Viờc vay vốn khụng những giải quyết được nhu cầu vốn kinh doanh mà cũn làm thay đổi cỏch nghĩ, cỏch làm … làm thế nào để sử dụng vốn cú hiệu quả kinh tế và vấn đề phần mỡ rộng sản xuất, thỳc đẩy đổi mới cụng nghệ, thiết bị, cải tiến khoa học kỹ thuật sẽ làm tiền đề cho sự phỏt triển cú hiệu quả đú. Trong đú vốn quyết định mọi vấn đề trong kinh doanh. Đặc biệt trong xu thế hội nhập nền kinh tế thị trường thỡ đõy là vấn đề quan trọng cần giải quyết của cỏc doanh nghiệp Việt Nam. Thông qua hoạt động cho vay, các tổ chức tín dụng tăng cuờng kiểm tra, giám sát với khách hàng vay vốn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế chung của nền kinh tế quốc dân. Cho vay là hoạt động tiêu biểu của hầu hết các ngân hàng, đòi hỏi ngân hàng phải kiểm soát khả năng hoàn trả nợ của khách hàng, ít ra là cũng phải dự tính, phán đoán được khả năng này nhằm bảo vệ tiền gửi của khách hàng và hiệu quả hoạt động cũng như lợi nhuận của ngân hàng. Nếu một khoản vay nào đó thất thoát thì trước tiên làm ngân hàng không còn khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Ngân hàng cũng có trách nhiệm với các cổ đông đảm bảo mức chia lãi cổ phần hợp lí cũng như mức lương nhất định đối với nhân viên. Chính vì vây, ngân hàng luôn phải thận trọng đối với các khoản tín dụng và tăng cường kiểm soát đối với khách hàng vay để xem khoản vay đó có sử dụng đúng mục đích có hiệu quả không,...đồng thời có thể tư vấn chuyên môn cho khách hàng. Do vậy chất lượng tín dụng sẽ được nâng cao, đem lại lợi ích cho cả ngân hàng và cả khách hàng, rộng hơn là cho cả nền kinh tế của quốc dân, Vai trũ đối với người đi vay: Hoạt động cho vay của ngõn hàng thương mai cú cỏc kỳ hạn khỏc nhau. Ngắn hạn, trung han và dài hạn bờn cạnh đú lói suất linh hoạt cố định hay thả nổi… vỡ thế khỏch hàng tuỳ ý lựa chọn kỳ hạn vay và thoả thuận hỡnh thức lói suất vay phự hợp với mục tiờu kinh doanh của mỡnh. Mặt khỏc việc vay vốn ngõn hàng giỳp khỏch hàng tập chung được vốn kinh doanh đồng bộ, giảm chi phớ huy động và chủ động trong việc hoàn trả gốc và lói theo hợp đồng. Bờn cạnh đú việc thoó thuận giữa ngõn hàng và khỏch hàng khi hết hợp đồng cho vay tạo điều kiện cho khỏch hàng kinh doanh tiếp… như trợ giỳp vốn, gia hạn hợp đồng.  Lợi ớch của ngõn hàng:          Hoạt động cho vay là hoạt động chứa nhiều rủi ro tiềm ẩn, nhưng nú lại là hoạt động chớnh của ngõn hàng cho vay. Bờn cạnh rủi ro tiềm ẩn thỡ ngõn hàng cho vay thu đươc lói suất phự hợp với cỏc khoản vay đú và đú cũng là thu nhập chớnh của ngõn hàng cho vay.Trong nền kinh tế thị trường, cho vay là chức năng kinh tế cơ bản của ngõn hàng. Đối với cỏc hầu hờt cỏc ngõn hàng, dư nợ tớn dụng chiếm tới hơn 50% tổng tài sản cú và thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm khoảng từ ẵ đến 2/3 tổng thu nhập của ngõn hàng. Mặt khỏc rủi ro trong hoàt động cho vay cú xu hướng tập chung chủ yếu vào danh mục cho vay. Khi ngõn hàng rơi vào trạng thỏi tài chớnh khú khăn nghiờm trọng, thỡ nguyờn nhõn thường phỏt sinh từ hoạt động cho vay của ngõn hàng, viờc ngõn hàng khụng thu hồi đươc vốn, cú thể là do ngõn hàng buụng lỏng quản lý, cấp tớn dụng khụng minh bạch, ỏp dụng một chớnh sỏch tớn dụng kộm hợp lý, hay do nền kinh tế đi xuống khụng lường trước hay do nguyờn nhõn chủ quan từ phớa khỏch hàng … Cỏc hỡnh thức cho vay: Căn cứ vào thời hạn tín dụng có 3 loại chủ yếu sau: -Tín dụng ngắn hạn với thời hạn dưới 1 năm nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ xung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, bổ xung nhu cầu vốn lưu động hoặc đáp ứng nhu cầu cá nhân. - Tín dụng trung hạn có thời hạn cho vay từ 1 năm đến 3 năm. - Tín dụng dài hạn từ 3 năm đến vài chục năm thường được sử dụng để phát triển quá trình tái sản xuất theo chiều rộng hoặc theo chiều sâu và kết quả là tăng mức sản xuất và của cải xã hội. Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ tín dụng: -Tín dụng thương mại Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, trong đó người cho vay là người bán chịu hàng vì đã chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng lượng giá trị hàng hoá bán chịu cho người mua. Ngược lại, thay vì việc phải trả tiền ngay, người mua được sử dụng số tiền đó một thời gian nhất định phụ thuộc vào thời gian bán chịu. -Tín dụng nhà nước. Là quan hệ tín dụng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật giữa một bên là nhà nước và một bên là các chủ thể kinh tế khác trong xã hội. -Tín dụng doanh nghiệp Là quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các doanh nghiệp và công chúng. Quan hệ vay mượn này được thể hiện dưới hai hình thức hoàn toàn khác nhau +Quan hệ tín dụng tiêu dùng +Quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và công chúng với tư cách là người tiết kiệm. -Tín dụng ngân hàng Là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội. Trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn. Quy định phỏp lý về cho vay:  Cỏc qui định phỏp lý về hoạt động cho vay của NHTM tập trung vào cỏc vấn đề sau: Nguyờn tắc cho vay:       – Sử dụng vốn vay đỳng mục đớch đó thoả thuận trong hợp đồng tớn dụng và cú hiệu quả kinh tế. Tớn dụng cung ứng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiờu và yờu cầu về phỏt triển kinh tế xó hội trong từng giai đoạn phỏt triển. éối với cỏc tổ chức kinh tế, tớn dụng cũng phải đỏp ứng cỏc mục đớch cụ thể trong quỏ trỡnh hoạt động sản xuất kinh doanh  để thỳc đẩy cỏc tổ chức này hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh  của mỡnh.       – Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả vốn gốc và lói vay theo đỳng thời hạn đó cam kết trong hợp đồng tớn dụng: Nguyờn tắc này đề ra nhằm đảm bảo cho cỏc ngõn hàng thương mại tồn tại và hoạt động bỡnh thường. Bởi nguồn vốn cho vay của ngõn hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động. éú là một bộ phận tài sản của cỏc sở hữu chủ mà ngõn hàng tạm thời quản lý và sử dụng, ngõn hàng phải cú nghĩa vụ đỏp ứng cỏc nhu cầu rỳt tiền của khỏch hàng mà họ yờu cầu. Nếu cỏc khoản tớn dụng khụng được hoàn trả đỳng hạn thỡ nhất định sẽ ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả của ngõn hàng.       – Việc bảo đảm tiền vay phải thực hiện theo qui định của c