Đề tài Lý luận và thực trạng tội mua bán người theo Bộ luật hình sự

ðảm bảo quyền con người và các quyền cơ bản của công dân luôn luôn ñược các quốc gia và cộng ñồng quốc tế quan tâm.Trong ñó quyền của người phụ nữ và trẻ em rất ñược chú trọng.ðã có rấtnhiều văn bản pháp lý của các quốc gia và quốc tế ñã ñề cập ñến vấn ñềnày.ðặc biệt pháp luật quốc tế cũng như pháp luật các nước ñã coi muabán người là một trong những tội phạm hình sự nguy hiểm và quy ñịnh chế tài ñối với tội phạm này rất nghiêm khắc. Trong lịch sử chống buôn bán người, quốc tế ñã có rất nhiều văn bản pháp lý quy ñịnh về vấn ñề này như: Công ước về chống buôn bán nô lệ Mỹ Liên – HS31 2 năm 1926, Công ước New York 1949 về ñấu tranh chốngbuôn bán phụ nữ và bóc lột mại dâm, Công ước bổ sung về loại trừnạn buôn bán nô lệ và buôn bán sức lao ñộng năm 1956 tại Giơnevơ Tuy nhiên chưa có văn bản nào ñề cập một cách toàn diện ñến tệ nạn buôn bán người ñể có thể coi là cơ sở pháp lý cho việc ñấu tranh có hiệu quả với nạn buôn bán người này. Tháng 12 năm 2000, Ủy ban Liên hiệp quốc ñã thông qua Công ước về ñấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia,cùng với 2 Nghị ñịnh thư bổ sung cho Công ước. Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người năm 2000 lần ñầu tiên ñưa ra khái niệm về “buôn bán người” và ñược cộng ñồng quốc tế thừa nhận.ðiều 3 của Nghị ñịnh thư quy ñịnh: “buôn bán người nghĩa là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người khác nhằm mục ñích bóc lột bằng cách ñe dọa dùng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lựchoặc vị thế dễ bị thương tổn hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợinhuận ñể ñạt ñược sự ñồng ý của một người kiểm soát ñối với những người khác vì mục ñích bóc lột”. Hành vi bóc lột ñược hiểu là bóc lộtvì mục ñích mại dâm hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao ñộng hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nôlệ, khổ sai hay lấy bộ phạn cơ thể. Mục ñích bóc lột là một trong nhữngyếu tố cấu thành cơ bản của hành vi buôn bán người này. Và cũng theo ñó, ý chí chấp nhận của nạn nhân sẽ không ñược tính ñến nếu có bất kì một trong những hành vi trên ñược thực hiện

pdf23 trang | Chia sẻ: vietpd | Ngày: 15/03/2013 | Lượt xem: 3201 | Lượt tải: 19download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Lý luận và thực trạng tội mua bán người theo Bộ luật hình sự, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Mỹ Liên – HS31 1 Trong những năm gần ñây, Việt Nam thực hiện chính sách kinh tế mở cửa, mở rộng giao lưu và hội nhập quốc tế ñã góp phần thúc ñẩy kinh tế - xã hội phát triển ñạt ñược những thành tựu ñáng kể, nhưng cũng ñồng thời kéo theo những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm có yếu tố nước ngoài, tội phạm xuyên quốc gia trong ñó có tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em. Tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em trong những năm qua diễn ra ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng cả về số lượng vụ việc, tính chất, quy mô và ñịa bàn hoạt ñộng. Tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới ñã trở thành vấn ñề nóng bỏng, nhức nhối, cướp ñi hạnh phúc của nhiều gia ñình, làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, tiềm ẩn những nhân tố xấu về an ninh quốc gia và trật tự xã hội. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về ñề tài này thông qua việc nghiên cứu tội phạm mua bán người trong pháp luật quốc tế cũng như trong lịch sử pháp luật Hình sự Việt Nam và pháp luật hiện hành. I. NHỮNG VẤN ðỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI PHẠM MUA BÁN NGƯỜI. 1. Tội mua bán người trong pháp luật quốc tế. 1.1 Nghị ñịnh thư của Liên hiệp quốc về chống buôn bán người năm 2000. ðảm bảo quyền con người và các quyền cơ bản của công dân luôn luôn ñược các quốc gia và cộng ñồng quốc tế quan tâm.Trong ñó quyền của người phụ nữ và trẻ em rất ñược chú trọng.ðã có rất nhiều văn bản pháp lý của các quốc gia và quốc tế ñã ñề cập ñến vấn ñề này.ðặc biệt pháp luật quốc tế cũng như pháp luật các nước ñã coi mua bán người là một trong những tội phạm hình sự nguy hiểm và quy ñịnh chế tài ñối với tội phạm này rất nghiêm khắc. Trong lịch sử chống buôn bán người, quốc tế ñã có rất nhiều văn bản pháp lý quy ñịnh về vấn ñề này như: Công ước về chống buôn bán nô lệ Mỹ Liên – HS31 2 năm 1926, Công ước New York 1949 về ñấu tranh chống buôn bán phụ nữ và bóc lột mại dâm, Công ước bổ sung về loại trừ nạn buôn bán nô lệ và buôn bán sức lao ñộng năm 1956 tại Giơnevơ … Tuy nhiên chưa có văn bản nào ñề cập một cách toàn diện ñến tệ nạn buôn bán người ñể có thể coi là cơ sở pháp lý cho việc ñấu tranh có hiệu quả với nạn buôn bán người này. Tháng 12 năm 2000, Ủy ban Liên hiệp quốc ñã thông qua Công ước về ñấu tranh chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, cùng với 2 Nghị ñịnh thư bổ sung cho Công ước. Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người năm 2000 lần ñầu tiên ñưa ra khái niệm về “buôn bán người” và ñược cộng ñồng quốc tế thừa nhận.ðiều 3 của Nghị ñịnh thư quy ñịnh: “buôn bán người nghĩa là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người khác nhằm mục ñích bóc lột bằng cách ñe dọa dùng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế dễ bị thương tổn hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận ñể ñạt ñược sự ñồng ý của một người kiểm soát ñối với những người khác vì mục ñích bóc lột”. Hành vi bóc lột ñược hiểu là bóc lột vì mục ñích mại dâm hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao ñộng hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hay lấy bộ phạn cơ thể. Mục ñích bóc lột là một trong những yếu tố cấu thành cơ bản của hành vi buôn bán người này. Và cũng theo ñó, ý chí chấp nhận của nạn nhân sẽ không ñược tính ñến nếu có bất kì một trong những hành vi trên ñược thực hiện. Cũng theo quy ñịnh tại ðiều 3 Nghị ñịnh thư: “Việc tuyển dụng, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận trẻ em nhằm mục ñích bóc lột sẽ bị coi là buôn bán người ngay cả khi việc này ñược thực hiện không cần dùng ñến bất kì một cách thức nào ñã nêu ở trên”. Và “Trẻ em là bất kì người nào dưới 18 tuổi”. Như vậy theo Nghị ñịnh thư chỉ cần là người dưới 18 tuổi mà bị tuyển dụng, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hay nhận nuôi vì mục ñích bóc lột thì sẽ bị xem là buôn bán trẻ em mà không cần bất kì cách thức thủ ñoạn nào: lừa gạt, dối trá, cưỡng ép, bắt cóc, lạm dụng quyền lực, lạm dụng vị trí dễ bị tổn thương. Chưa nói ñến vấn ñề khác, chỉ riêng phần khái niệm “ buôn bán người” và “buôn bán trẻ em” nếu so sánh với pháp luật hình sự Việt Nam có rất Mỹ Liên – HS31 3 nhiều vấn ñề ñể nói.Trong pháp luật hình sự Việt Nam, cụ thể là BLHS 1999 hoàn toàn không ñề cập tới vấn ñề ñưa ra ñịnh nghĩa cho hành vi mua bán người và mua bán trẻ em. ðiều này là một trở ngại khá lớn cho quá trình thực thi pháp luật trong thực tế. Chỉ trừ Nghị quyết 04/1986 ngày 29/11/1986 của Hội ñồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là có ñưa ra khái niệm mua bán trẻ em như sau: “Mua bán trẻ em là việc mua hoặc bán trẻ em vì mục ñích tư lợi, dù mua của kẻ bắt trộm hay mua của chính người có con ñem bán. Hành vi mua trẻ em khi biết rõ ñứa trẻ ñó bị bắt trộm cũng bị xử lí về tội mua bán trẻ em”. Từ ñó cho ñến nay không còn một văn bản nào ñề cập ñến vấn ñề này. Như vậy liệu có nên hay không khi ta ñưa khái niệm mua bán người và mua bán trẻ em vào thẳng trong quy ñịnh của ðiều 119 và ðiều 120 BLHS hiện hành? Vấn ñề thứ hai cũng ñáng quan tâm là về tên gọi “buôn bán người” trong Nghị ñịnh thư và “mua bán người” trong Luật Hình sự Việt Nam. Rõ ràng tên gọi “buôn bán người” bao quát và cụ thể hơn “mua bán người”, thể hiện rõ hơn bản chất của hành vi mua bán người. Cũng theo Nghị ñịnh thư thì trẻ em là bất kì ai dưới 18 tuổi, còn ở Việt Nam lại không có quy ñịnh về tuổi trẻ em trong Luật hình sự mà bắt buộc phải hiểu theo quy ñịnh của các văn bản pháp luật khác. Theo Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam thì trẻ em là người dưới 16 tuổi. ðây là một bài toán cần phải giải quyết trong con ñường tham gia vào Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người. 1.2 Pháp luật của một số nước về tội mua bán người. 1.2.1 Pháp luật Thụy ðiển. Thụy ðiển là một trong những nước có nền kinh tế phát triển, chế ñộ chính trị ổn ñịnh, trình ñộ pháp ñiển hóa pháp luật phát triển ở mức cao, an sinh xã hội rất ñược quan tâm. Tình hình tội phạm ở Thụy ðiển so với các nước phát triển khác là khá thấp, có nhiều loại tội phạm hầu như rất ít xảy ra ở ñất nước này. Và thực tế cho thấy tội phạm mua bán người ở Thụy ðiển xảy ra rất ít, nạn nhân là nam giới cũng không có. Tuy nhiên, ñể phòng chống hiệu quả Mỹ Liên – HS31 4 loại tội phạm này, Thụy ðiển ñã hình sự hóa tội này vào trong Luật hình sự. Trước khi tham gia kí kết Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người, BLHS năm 1962 sửa ñổi năm 1998 cũng ñã có một ñiều luật ñề cập tới hành vi buôn bán người, nó ñược sắp xếp vào nhóm có hành vi xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân: “Người nào bắt và ñưa ñi hoặc giam giữ trẻ em hoặc người khác với mục ñích gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của họ, buộc họ phục dịch hoặc vì mục ñích tống tiền thì bị kết tội bắt cóc” (ðiều 1 Chương IV). Rõ ràng ñiều luật này chưa có ñề cập tới tội buôn bán người mà chỉ nêu lên khía cạnh của hành vi này. Năm 2004 Thụy ðiển ñã tiến hành công cuộc cải cách lớn ñể hoàn thiện pháp luật quốc gia mình trong nhiều lĩnh vực, ñặc biệt trong Luật hình sự. Một trong những thay ñổi lớn trong pháp luật hình sự Thụy ðiển là ñưa thêm một ñiều khoản bổ sung cho ðiều 1 Chương IV nhằm hoàn thiện hơn về quy ñịnh buôn bán người cho phù hợp với các quy ñịnh của Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người mà nước này ñã tham gia ký kết. Theo quy ñịnh tại ðiều 1a Chương IV: “Người nào ngoài những quy ñịnh tại ðiều 1, ép buộc hoặc lừa dối trái pháp luật với mục ñích khai thác người khác vào tình trạng nguy hiểm hoặc với bất kỳ tình trạng tương tự nào như tuyển chọn, vận chuyển, cung cấp, nhận hoặc có bất kỳ một cách nào khác và bằng cách ñó ñể ñiều khiển họ cho những mục ñích sau ñây… sẽ bị kết án cho tội buôn bán người với hình phạt từ 2 năm ñến 10 năm”. Như vậy theo Luật hình sự Thụy ðiển, ñể ñáp ứng các yêu cầu cơ bản của Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người, ñã ñưa ra khái niệm về tội buôn bán người gần giống với khái niệm buôn bán người của Nghị ñịnh thư. Cũng là các hành vi tuyển chọn, vận chuyển, cung cấp, nhận người … với các thủ ñoạn lừa gạt, cưỡng ép … nhằm mục ñích bóc lột tình dục, bóc lột sức lao ñộng hay lấy các bộ phận cơ thể, và tất nhiên nam giới cũng là ñối tượng bị tác ñộng bởi tội này giống như nữ giới. Vì thế không khó ñể nhận ra pháp luật hình sự Việt Nam có nhiều ñiểm khác cơ bản với pháp luật hình sự Thụy ðiển (vì khái niệm Mỹ Liên – HS31 5 buôn bán người của pháp luật Thụy ðiển tương tự như của Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người). Ngoài ra, trong ðiều 1a Chương IV còn có quy ñịnh: “Người nào có ñộng cơ giống ðiều 1 với người dưới 18 tuổi sẽ bị kết tội buôn bán người thậm chí không cần dùng bất kỳ cách thức nào ñược nói ở khoản 1”. Như vậy ñối với trẻ em thì Luật hình sự Thụy ðiển quy ñịnh chỉ cần có hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp hoặc nhận trẻ em cho mục ñích bóc lột mà không cần quan tâm tới thủ ñoạn ñược dùng ñể thực hiện một trong các hành vi trên ñều bị kết tội là buôn bán trẻ em, giống hoàn toàn với Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người, cả cách quy ñịnh trẻ em là người dưới 18 tuổi. Theo pháp luật Thụy ðiển, trẻ em là người dưới 15 tuổi, nhưng ñể phù hợp với Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người thì ðiều 1a bổ sung cho ðiều 1 Chương IV ñã quy ñịnh trẻ em là người dưới 18 tuổi.ðây là trường hợp bất cập duy nhất và ñược thừa nhận như là ñiều hiển nhiên trong pháp luật Thụy ðiển về việc xác ñịnh ñộ tuổi cho những người ñược xem là trẻ em không ñồng nhất.Tuy vậy ñiều này lại rất cần thiết và có ý nghĩa lớn trong việc ñấu tranh và phòng chống tội phạm buôn bán người ở Thụy ðiển. 1.2.2 Pháp luật Phillipines. Tình hình chính trị Phillipines trong những năm gần ñây nhìn chung là khá bất ổn, sự tranh ñấu giữa các ðảng phái với nhau, thiên tai diễn ra liên miên, kinh tế ñi xuống, ñời sống người dân không ñược ñảm bảo. Tình hình tội phạm diễn ra ngày càng mạnh và phức tạp, quy mô lớn và tính chất nguy hiểm ngày càng hơn trước, nhiều loại tội phạm phát triển mạnh mẽ. Buôn bán người trở thành miếng mồi ngon, béo bở của bọn tội phạm, nạn nhân chủ yếu bị ñưa vào làm việc trong ngành công nghiệp tình dục và bóc lột sức lao ñộng. Năm 2003, Chính phủ Phillipines ñã thông qua một ñạo luật với tên gọi “Luật phòng chống tội phạm buôn bán người năm 2003” trên tinh thần của Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người. ðây là ñạo luật dành riêng cho bọn tội phạm buôn bán Mỹ Liên – HS31 6 người với mức hình phạt khác nghiêm khắc cả về thời gian phạt tù lẫn phạt tiền. Theo ðiểm a ðiều 3 của Luật phòng chống tội phạm buôn bán người năm 2003, buôn bán người nghĩa là tuyển mộ, vận chuyển, chuyển nhượng, che dấu hay nhận người có hay không có sự ñồng ý hay nhận biết của nạn nhân ở trong nước hay qua biên giới quốc gia, bằng cách ñe dọa hay dùng vũ lực, hay cách thức khác như cưỡng bức, bắt cóc, lừa ñảo, lợi dụng quyền năng hay lợi thế, lợi dụng những người dễ bị tổn thương, hoặc ñưa hay nhận các khoản thanh toán hay lợi ñể ñạt ñược sự ñồng ý của người có quyền kiểm soát ñối với người khác vì mục ñích bóc lột, bao gồm ở mức tối thiểu, bóc lột hay mại dâm cho người hay hình thức khác của bóc lột tình dục, lao ñộng hoặc phục vụ cưỡng bức, nô lệ hoặc lấy ñi hoặc bán các bộ phận cơ thể”. Việc tuyển mộ, vận chuyển, che dấu, hay tiếp nhận trẻ em vì mục ñích bóc lột sẽ ñược coi là buôn bán người ngay cả khi nó không liên quan ñến bất cứ cách thức, thủ ñoạn nào ñã nêu ở trên.Nhìn chung khái niệm buôn bán người và buôn bán trẻ em không khác với quy ñịnh của Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người. Tuy vậy có một ñiểm rất hay trong ðiều 3 của Luật phòng chống tội phạm buôn bán người năm 2003 mà cả pháp luật Thụy ðiển và Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người không ñề cập tới. Như Nghị ñịnh thư về chống buôn bán người, Phillipines cũng quy ñịnh trẻ em là những người dưới 18 tuổi, nhưng trong ñiểm b ðiều 3 Luật phòng chống tội phạm buôn bán người năm 2003 còn quy ñịnh trẻ em còn là người trên 18 tuổi nhưng không có khả năng ñầy ñủ ñể tự chăm sóc hay bảo vệ mình khỏi sự lạm dụng, vi phạm, ñối xử tàn ác, bóc lột hay phân biệt ñối xử vì lý do nhược ñiểm về thể chất hay tinh thần. Theo ñó ngay cả những người trên 18 tuổi nhưng nhưng không có ñầy ñủ khả năng do nhược ñiểm về thể chất hay tâm thần không thể tự chăm sóc hay bảo vệ mình thì những người ñó vẫn ñược xem là trẻ em.ðây là một khía cạnh rất hay mà pháp luật hình sự nước ta cần quan tâm ñến ñể có một cái nhìn mới hơn về khái niệm trẻ em. Mỹ Liên – HS31 7 1.2.3 Pháp luật Trung Quốc. Hiện nay dòng chảy của nạn mua bán người ở Việt Nam theo ba hướng là biên giới Tây Nam qua Campuchia, khu vực miền Trung qua Lào và con ñường chủ yếu nhất là qua Trung Quốc (60% tổng số vụ mua bán người là qua Trung Quốc). Có thể nói Trung Quốc là thị trường béo bở mà bọn buôn bán người ở Việt Nam nhắm tới. Theo một số nguồn tin thì Trung Quốc là quốc gia thứ hai về buôn bán người. Tuy vấn nạn buôn bán người ở Trung Quốc diễn ra mạnh như vậy nhưng trong BLHS Trung Hoa 1997 lại không có một ñiều luật riêng biệt nào dành cho tội phạm buôn người này.Hành vi mua bán người chỉ ñược ñề cập như là tình tiết tăng nặng của tội bắt cóc, cụ thể là ở ðiều 240 BLHS Trung Hoa 1997: tham gia bắt cóc nhằm buôn bán phụ nữ và trẻ em ở khoản 1; buôn bán nhiều hơn 3 người ở khoản 2; bán phụ nữ bị bắt cóc cho người khác mà người này bắt phụ nữ ñó phải mại dâm ở khoản 4; bắt cóc phụ nữ, trẻ em bằng cách cưỡng bức, lừa gạt, dùng thuốc mê ñể bán họ ở khoản 5; trộm hay cướp trẻ con ñem bán ở khoản 6; bán người bị bắt cóc ra nước ngoài ở khoản 8. ðây là một ñiểm bất cập lớn trong pháp luật Trung Hoa trong việc phòng ngừa và trấn áp loại tội phạm mua bán người này. Và ñây cũng là một khó khăn cho việc hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc trong việc ñấu tranh phòng chống tội phạm mua bán người qua biên giới Việt – Trung . 1.2.4 Pháp luật Hàn Quốc. Ngoài Trung Quốc, Lào và Campuchia thì Hàn Quốc là một trong những ñích ñến mà tội phạm mua bán người ở Việt Nam nhắm ñến. Hình thức chủ yếu mà bọn tội phạm thực hiện là môi giới hôn nhân cho các cô gái trẻ ở các vùng quê nông thôn với ñàn ông Hàn Quốc. Bằng nhiều biện pháp, Chính phủ Hàn Quốc ñang cố gắng ñấu tranh, ngăn chặn loại tội phạm này. BLHS Hàn Quốc quy ñịnh hành vi mua bán người tại chương XXXI. Cụ thể là ðiều 288 quy ñịnh về tội bắt cóc và mua bán vì mục ñích tư lợi, ðiều 289 quy Mỹ Liên – HS31 8 ñịnh về tội bắt cóc và buôn bán ñể chuyển ra nước ngoài. Nhìn chung hình phạt ñược quy ñịnh sẵn trong từng ñiều luật là khá thấp (không quá 10 năm tù), nhưng mức hình phạt ñược tăng lên rất nhiều nếu hành vi, mục ñích, hậu quả của tội mua bán người nằm trong Luật tăng hình phạt ñối với tội phạm ñặc biệt. Ví dụ: Khoản 4 ðiều 5-2 có quy ñịnh tại các ðiều 288, 289, 292 Bộ luật hình sự sẽ bị phạt tù chung thân hoặc tù có thời hạn từ 5 năm trở lên”. ðiều này thể hiện mức ñộ ñặc biệt nghiêm trọng mà Chính phủ Hàn Quốc dành cho tội phạm mua bán người này. 2. Các quy ñịnh về tội mua bán người trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam. 2.1 Bộ luật Hồng ðức thời nhà Lê. Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, mỗi lần một triều ñại mới lên nắm chính quyền là một lần các quy ñịnh pháp luật ñược ban hành nhằm ñảm bảo sự tồn tại cho triều ñại ñó, ñồng thời còn giải quyết các vấn ñề về xã hội. Trong tất cả các văn bản pháp luật ñược ban hành trong xã hội phong kiến thì Bộ luật Hồng ðức (Quốc triều Hình luật) ñược ñánh giá là tiến bộ và hoàn thiện hơn cả. Quốc triều Hình Luật tập hợp các ưu ñiểm của các văn bản pháp lý trước ñó, xác ñịnh các vấn ñề mà Nhà nước mà xã hội cùng quan tâm, từ ñó ñúc kết và ñưa ra những quy ñịnh mới, tiến bộ phù hợp với xã hội phong kiến. Vì thế giá trị của nó kéo dài xuyên suốt qua các triều ñại phong kiến sau này. Các triều ñại phong kiến sau này áp dụng gần như hoàn toàn các quy ñịnh trong Quốc triều Hình luật, có khác chăng là tên gọi của Bộ luật mới cho phù hợp với triều ñại mới mà thôi, như Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long) thời nhà Nguyễn là một ví dụ. Một trong những ñiểm mới tiến bộ của Quốc triều Hình luật là ñã quy ñịnh về hành vi mua bán người ngay từ khi còn rất sớm. Hành vi bán người trong hàng ñể tang từ ba tháng ñược liệt vào tội Bất Mục, một trong các tội Thập ác (ðiều 2 Quyển I). Và theo ðiều 4 Quyển I: những người nào phạm vào các tội thập ác thì không ñược nghị xét giảm tội theo Bát Nghị ở ðiều 3. Với hành vi bán người ít tuổi từ Mỹ Liên – HS31 9 hàng cơ thân trở xuống thì có thể bị tội Giảo (thắt cổ), nếu còn có thêm hành vi cướp của hoặc ñồ vật thì có thể bị chém bêu ñầu (ðiều 43 Quyển IV). Cũng theo quy ñịnh tại ðiều 43 Quyển IV, ñối với hành vi “bắt người ñem bán làm nô tì, thì xử lưu ñi châu xa; nếu có thêm hành vi cướp của hay ñồ vật thì phải bị tội Giảo”. Ngoài ra tại ðiều 25 Quyển I Chương Vệ cấm, hành vi bán nô tì cho người nước ngoài cũng bị tội chém. Như vậy có thể nói rằng, Bộ luật Hồng ðức ñã quy ñịnh tội mua bán người là một trong những tội ñặc biệt nghiêm trọng với mức hình phạt cao nhất có thể áp dụng là Chém bêu ñầu (chỉ thấp hơn tội Lăng trì mà thôi). Tuy những quy ñịnh về tội mua bán người còn nhiều thiếu sót và chưa cụ thể, nhưng nếu so với thời ñiểm Bộ luật Hồng ðức ñược ban hành thì vẫn có thể xem quy ñịnh về tội mua bán người là một trong những tiến bộ rất lớn trong pháp luật phong kiến Việt Nam. 2.2 Giai ñoạn trước khi pháp luật hình sự Việt Nam ñược pháp ñiển hóa năm 1985. Sau chiến thắng ðiện Biên Phủ năm 1954, miền bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền nam. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, nhưng với lòng quyết tâm sâu sắc nhân dân ta ñã hoàn thành tốt các kế hoạch 5 năm ñược ñặt ra. Tuy nhiên cũng xuất phát từ tình hình miền bắc vừa mới ñược giải phóng nên diễn biến tình hình tội phạm rất phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện như là một kết quả tất yếu, một trong số ñó là tội bắt cắp trẻ em bán cho ñồng bào miền núi. Theo báo cáo tổng kết công tác và các chuyên ñề xét xử năm 1964 của Tòa án nhân dân tối cao thì trong năm 1963 “có một số loại tội tuy số vụ ñưa tới Tòa án ít (9 vụ), nhưng theo báo cáo của một số ñịa phương thì số vụ xảy ra lại nhiều hơn: ñó là hành vi bắt cắp trẻ em ñem ñi bán. Ở Yên Bái ñã phát hiện 6 vụ, ở Lào Cai 2 vụ, ở Hà Nội 5 vụ…”. Theo nhận ñịnh của báo cáo thì ñây là một loại tội nghiêm trọng xâm phạm vào những tình cảm sâu sắc của con người, vào thân phận của con trẻ và là một mối lo âu cuả người làm cha mẹ. Thủ ñoạn mà bọn tội phạm này thường sử dụng là lợi dụng lúc trẻ không có người trông nom, ñánh cắp các em lên miề núi bán cho ñồng bào ñịa Mỹ Liên – HS31 10 phương. Như vậy ngành Tòa án ở thời ñiểm này ñã xác ñịnh tội bắt cắp trẻ em ñem bán là một loại tội phạm nghiêm trọng, nhưng do chưa có ñiều luật cụ thể quy ñịnh trừng phạt loại tội này nên trong thực tế Tòa án xử phạt các bị cạo thực hiện tội phạm này với mức án rất nhẹ. Tòa án cấp tỉnh ñã xử 3 vụ gồm 4 can phạm với mức án 2 án tù từ 2 năm ñến 5 năm, 1 án tù dưới 2 năm tù giam và 1 án treo; ở cấp huyện ñã xử 6 vụ ñều với mức án dưới 2 năm tù giam. Và cũng vì Tòa án nhân dân tối cao xác ñịnh ñây là một loại tội phạm nghiêm trọng nên Tòa tối cao ñã xác ñịnh nên phạt thật nặng ñối với những kẻ bắt cắp, tránh lối nhìn vào số tiền bán ñứa trẻ không lớn thì coi như một vụ trộm cắp, lừa ñảo tài sản vật chất mà xử nhẹ. Tòa án tối cao cũng xác ñịnh mức khung hình phạt nên áp dụng cho kẻ có hành vi bắt cắp là từ 3 năm ñến 15 năm, người mua trẻ con mà biết rõ ñứa bé ñó bị ñánh cắp thì bị phạt tù tới 5 năm. ðồng thời báo cáo cũng xác ñịnh thêm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hơn ñối với loại tội phạm bắt cóc trẻ con này. Tuy nhiên trước khi pháp luật hình sự Việt Nam ñược p
Tài liệu liên quan