Luận văn Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị

Việt Nam có hơn 3000 km bờ biển, và đây là khu vực sinh sống, nguồn sinh kế cho hàng triệu người dân. Vùng ven biển nước ta có dân cư tập trung khá đông đúc, chiếm khoảng 30% tổng dân số của cả nước. Số người trong độ tuổi lao động có khoảng 10,2 triệu người. Dự báo đến năm 2010 dân số vùng ven biển khoảng gần 27 triệu người, trong đó gần 18 triệu người ở độ tuổi lao động. Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47-48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế vùng ven biển đạt khoảng 26 – 27%. Dự báo trong tương lai, cùng với việc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, sẽ có mức gia tăng nhanh hơn rất nhiều so với hiện nay. Biển là di sản của nhân loại, là kho dự trữ cuối cùng của loài người nói chung và của người dân Việt Nam nói riêng, về lương thực, thực phẩm và nguyên, nhiên liệu. Vì vậy, phải cân nhắc đến tính bền vững trong phát triển kinh tế khu vực biển và ven biển. Khai thác biển đã đem lại những lợi ích kinh tế - xã hội bước đầu quan trọng, nhưng việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên khu vực biển và ven biển chưa hiệu quả, thiếu bền vững. Là một xã ven biển miền trung, xã Hải An thuộc huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị có đặc điểm ít tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất (đất cát nghèo dinh dưỡng), khí hậu khô nóng khắc nghiệt, nhiều đụn cát, bãi cát rộng, chịu tác động mạnh mẽ của hiện tượng sa mạc hoá, và thiếu nước vào mùa khô. Lợi thế của khu vực nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng là nằm trên hành lang kinh tế đông – tây, cầu nối kinh tế bắc – nam, là khu vực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế hướng ra Biển Đông và đảm bảo an ninh quốc phòng nước ta. Khu vực ven biển Quảng Trị thuận lợi cho đánh bắt nuôi trồng thuỷ hải sản, phát triển du lịch, giao lưu kinh tế trong và ngoài nước, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế khu vực ven biển. Người dân xã Hải An, sống chủ yếu vào đánh bắt hải sản và sản xuất nông nghiệp. Nhu cầu đánh bắt cao cùng với gia tăng dân số, làm cho nguồn lợi ven bờ cạn kiệt dần, bên cạnh đó quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp chỉ có hạn. Tuy vậy, nếu xây dựng các khu bảo tồn biển để bảo vệ tài nguyên biển và giảm bớt đánh bắt ven bờ lại có khả năng ảnh hưởng xấu tới sinh kế của người dân ven biển do chúng không thể mang lại lợi ích tức thì. Vậy làm thế nào để vừa bảo vệ môi trường, vừa đảm bảo sinh kế cho người dân, đặc biệt là trước tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra như hiện nay? Để phần nào giải quyết bài toàn này, việc tiến hành nghiên cứu, đánh giá nhằm xây dựng mô hình kinh tế sinh thái phù hợp với mục đích giảm sức ép đến khai thác tài nguyên thiên nhiên và bước đầu đánh giá, dự báo tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu tới sinh kế của người dân địa phương đã được tiến hành thực hiện. Đây cũng chính là nội dung của đề tài “Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị” đặt ra để nghiên cứu.

doc87 trang | Chia sẻ: ngatran | Ngày: 12/04/2013 | Lượt xem: 1178 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Luận văn Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1 - CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7 1.1 Các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tổng hợp đới bờ 7 1.1.1 Lịch sử nghiên cứu quản lý đới bờ 7 1.1.2 Khái niệm về đới bờ và quản lý tổng hợp đới bờ 8 1.1.3 Quản lý tổng hợp đới bờ ở Việt Nam – thành công và hạn chế 13 1.2 Các vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế sinh thái 17 1.2.1 Lịch sử nghiên cứu kinh tế sinh thái trên thế giới và ở Việt Nam 17 1.2.2 Khái niệm về kinh tế sinh thái 19 1.2.3 Khái niệm về mô hình hệ kinh tế sinh thái 21 1.3 Quan điểm nghiên cứu 22 1.3.1 Quan điểm hệ thống và tổng hợp 22 1.3.2 Quan điểm lịch sử 23 1.3.3 Quan điểm phát triển bền vững 23 1.4 Phương pháp nghiên cứu 24 1.4.1 Phương pháp tổng hợp tài liệu 24 1.4.2 Phương pháp khảo sát thực địa 25 1.4.3 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS) 25 CHƯƠNG 2 - PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27 2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 27 2.1.1 Vị trí địa lý 27 2.1.2 Đặc điểm địa chất, địa hình 27 2.1.3 Đặc điểm khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan 30 2.1.4 Thuỷ văn 33 2.1.5 Thổ nhưỡng và lớp phủ thực vật 34 2.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị........ 38 2.2.1 Dân số và lao động 38 2.2.2 Hiện trạng sử dụng đất xã Hải An 38 2.2.3 Sức ép dân số tới tài nguyên đất 41 2.2.4 Hiện trạng phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng 45 2.3 Đặc điểm cảnh quan xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 48 CHƯƠNG 3 - XÁC LẬP CƠ SỞ KHOA HỌC PHỤC VỤ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN KHU VỰC VEN BIỂN HUYỆN HẢI LĂNG 53 3.1 Đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sinh kế của người dân địa phương.... 53 3.1.1 Khái niệm sinh kế 53 3.1.2 Sinh kế và bảo vệ môi trường 53 3.1.3 Bước đầu đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sinh kế của người dân khu vực ven biển 54 3.2 Xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị........ 67 3.2.1 Định hướng tổ chức không gian phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường xã Hải An..... 68 3.2.2 Các chính sách phát triển và nhu cầu quy hoạch xã Hải An 72 3.2.3 Quy hoạch lãnh thổ phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ dựa vào cộng đồng xã Hải An, giai đoạn 2009 – 2020 73 KẾT LUẬN Tài liệu tham khảo Phụ lục DANH MỤC HÌNH Hình 11. Sơ đồ ranh giới đới bờ [15] 9 Hình 12. Mối quan hệ giữa đới bờ và tài nguyên đới bờ [17] 10 Hình 13. Tỷ lệ dự án trên nhóm mục tiêu thực hiện [5] 14 Hình 14. Số lượng dự án liên quan đến tài nguyên và môi trường của các tỉnh ven biển Việt Nam 15 Hình 15. Số lượng dự án liên quan đến tài nguyên và môi trường của các tỉnh ven biển Việt Nam 16 Hình 16. Mười (10) đơn vị tài trợ lớn nhất 17 Hình 17. Sơ đồ về xác định phạm vi của Kinh tế sinh thái. [23] 20 Hình 18. Mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường [23] 20 Hình 19. Mô hình hệ kinh tế sinh thái [12] 22 Hình 21. Sơ đồ vị trí khu vực nghiên cứu 28 Hình 22. Sơ đồ địa mạo xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 31 Hình 23. Biểu đồ nhiệt độ, độ ẩm trung bình các tháng trong năm [13] 32 Hình 24. Biểu đồ lượng mưa trung bình các tháng trong năm [13] 32 Hình 26. Sơ đồ thổ nhưỡng khu vực xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 37 Hình 27. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất xã Hải An năm 2008, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 40 Hình 28. Biểu đồ Cơ cấu sử dụng đất xã Hải An năm 2008 41 Hình 29. Bản đồ mật độ dân số hữu hiệu huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 45 Hình 210. Biểu đồ cơ cấu kinh tế xã Hải An năm 2008 46 Hình 211. Bản đồ cảnh quan khu vực xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 50 Hình 212. Chú giải bản đồ cảnh quan xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 51 Hình 31. Các bước tiến hành đánh giá và dự báo tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu tới sinh kế người dân 55 Hình 32. Quy trình xây dựng mô hình số độ cao xã Hải An 60 Hình 33. Diện tích đất bị ngập khi mực nước biển dâng 0,5 mét 61 Hình 34. Diện tích đất bị ngập khi mực nước biển dâng 01 mét 62 Hình 35. Diện tích đất bị ngập khi mực nước biển dâng 2 mét 62 Hình 36. Mô hình ngập lụt khu vực xã Hải An khi nước biển dâng lên 0,5 mét; Diện tích ngập là 140 ha. 65 Hình 37. Mô hình ngập lụt khu vực xã Hải An khi nước biển dâng lên 1 mét; Diện tích ngập là 215 ha. 66 Hình 38. Mô hình ngập lụt khu vực xã Hải An khi nước biển dâng lên 2 mét; Diện tích ngập là: 361 ha 67 Hình 39. Bản đồ định hướng không gian phát triển xã Hải An 73 Hình 310. Bản đồ quy hoạch lãnh thổ phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ dựa vào cộng đồng xã Hải An 76 Hình 311. Hiện trạng vị trí trước khi xây dựng mô hình (10/2008) 80 Hình 312. Sơ đồ mô hình Rừng - Vườn - Ao - Chuồng 81 Hình 313. Hiện trạng mô hình sau khi xây dựng 85 DANH MỤC BẢNG Bảng 11. Lịch sử quản lý đới bờ [16] 7 Bảng 21. Nhiệt độ trung bình (Ttb), độ ẩm trung bình (rtb) và lượng mưa trung bình (Rtb) các tháng trong năm (2000-2007) 33 Bảng 22. Thống kê đơn vị hành chính thuộc huyện Hải Lăng 42 Bảng 23. Hệ thống phân loại cảnh quan xã Hải An 49 Bảng 31. Các hoạt động sinh kế chính ở xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị 56 Bảng 32. Lượng hóa thành tiền diện tích các loại đất bị ngập khi nước biển dâng lên 0,5 mét 63 Bảng 33. Lượng hóa thành tiền diện tích các loại đất bị ngập khi nước biển dâng lên 1 mét 63 Bảng 34. Lượng hóa thành tiền diện tích các loại đất bị ngập khi nước biển dâng lên 2 mét 64 Bảng 35. Định hướng sử dụng hợp lý cảnh quan xã Hải An 70 Bảng 36. Hiệu quả kinh tế của mô hình Rừng - Vườn - Ao - Chuồng 84 THUẬT NGỮ VIẾT TẮT QLTHĐB  Quản lý tổng hợp đới bờ   BĐKH  Biến đổi khí hậu   NSNN  Ngân sách nhà nước   DANIDA  Quỹ hỗ trợ phát triển quốc tế Đan Mạch   CIDA  Quỹ hỗ trợ phát triển quốc tế Canada   IDRC  Trung tâm phát triển tài nguyên quốc tế   NETGOV  Chính phủ Hà Lan   JICA  Quỹ hỗ trợ quốc tế Nhật Bản   SIDA  Quỹ hỗ trợ phát triển quốc tế Thụy Điển   UNDP  Chương trình phát triển Liên hợp quốc   JBIC  Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản   ADB  Ngân hàng phát triển Châu Á   WB  Ngân hàng thế giới   BCS  Đất bằng chưa sử dụng   CHN  Đất làm nhà tạm, lán trại   DGT  Đất giao thông   NTD  Đất nghĩa trang, nghĩa địa   NTS  Đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt   OTC  Đất ở nông thôn   RPT  Đất trồng rừng phòng hộ   SMN  Đất sông ngòi, kênh rạch   UB  Đất trụ sở nhà nước   MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam có hơn 3000 km bờ biển, và đây là khu vực sinh sống, nguồn sinh kế cho hàng triệu người dân. Vùng ven biển nước ta có dân cư tập trung khá đông đúc, chiếm khoảng 30% tổng dân số của cả nước. Số người trong độ tuổi lao động có khoảng 10,2 triệu người. Dự báo đến năm 2010 dân số vùng ven biển khoảng gần 27 triệu người, trong đó gần 18 triệu người ở độ tuổi lao động. Theo ước tính, quy mô kinh tế (GDP) biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47-48% GDP cả nước, trong đó GDP của kinh tế vùng ven biển đạt khoảng 26 – 27%. Dự báo trong tương lai, cùng với việc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá, sẽ có mức gia tăng nhanh hơn rất nhiều so với hiện nay. Biển là di sản của nhân loại, là kho dự trữ cuối cùng của loài người nói chung và của người dân Việt Nam nói riêng, về lương thực, thực phẩm và nguyên, nhiên liệu. Vì vậy, phải cân nhắc đến tính bền vững trong phát triển kinh tế khu vực biển và ven biển. Khai thác biển đã đem lại những lợi ích kinh tế - xã hội bước đầu quan trọng, nhưng việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên khu vực biển và ven biển chưa hiệu quả, thiếu bền vững. Là một xã ven biển miền trung, xã Hải An thuộc huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị có đặc điểm ít tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất (đất cát nghèo dinh dưỡng), khí hậu khô nóng khắc nghiệt, nhiều đụn cát, bãi cát rộng, chịu tác động mạnh mẽ của hiện tượng sa mạc hoá, và thiếu nước vào mùa khô. Lợi thế của khu vực nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng là nằm trên hành lang kinh tế đông – tây, cầu nối kinh tế bắc – nam, là khu vực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế hướng ra Biển Đông và đảm bảo an ninh quốc phòng nước ta. Khu vực ven biển Quảng Trị thuận lợi cho đánh bắt nuôi trồng thuỷ hải sản, phát triển du lịch, giao lưu kinh tế trong và ngoài nước, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế khu vực ven biển. Người dân xã Hải An, sống chủ yếu vào đánh bắt hải sản và sản xuất nông nghiệp. Nhu cầu đánh bắt cao cùng với gia tăng dân số, làm cho nguồn lợi ven bờ cạn kiệt dần, bên cạnh đó quỹ đất cho sản xuất nông nghiệp chỉ có hạn. Tuy vậy, nếu xây dựng các khu bảo tồn biển để bảo vệ tài nguyên biển và giảm bớt đánh bắt ven bờ lại có khả năng ảnh hưởng xấu tới sinh kế của người dân ven biển do chúng không thể mang lại lợi ích tức thì. Vậy làm thế nào để vừa bảo vệ môi trường, vừa đảm bảo sinh kế cho người dân, đặc biệt là trước tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra như hiện nay? Để phần nào giải quyết bài toàn này, việc tiến hành nghiên cứu, đánh giá nhằm xây dựng mô hình kinh tế sinh thái phù hợp với mục đích giảm sức ép đến khai thác tài nguyên thiên nhiên và bước đầu đánh giá, dự báo tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu tới sinh kế của người dân địa phương đã được tiến hành thực hiện. Đây cũng chính là nội dung của đề tài “Xác lập cơ sở khoa học địa lý phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị” đặt ra để nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Xác lập cơ sở khoa học xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Nhiệm vụ nghiên cứu (i) Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý tổng hợp đới bờ và hệ kinh tế sinh thái; (ii) Phân tích các đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của khu vực; (iii) Bước đầu đánh giá, dự báo ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới sinh kế của người dân địa phương. (iv) Xác lập cơ sở khoa học xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ phát triển bền vững dải ven biển huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Giới hạn phạm vi nghiên cứu (i) Phạm vi không gian lãnh thổ nghiên cứu: khu vực ven biển huyện Hải Lăng gồm hai xã là Hải An và Hải Khê; tuy nhiên do địa bàn nghiên cứu rộng, nội dung nghiên cứu bao gồm nhiều vấn đề phức tạp, đề tài tập trung nghiên cứu trên quy mô lãnh thổ là toàn bộ xã Hải An, huyện Hải lăng, tỉnh Quảng Trị. (ii) Phạm vi khoa học: nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội, từ đó xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với điều kiện thực tiễn tại xã Hải An. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Các vấn đề lý luận cơ bản về quản lý tổng hợp đới bờ Lịch sử nghiên cứu quản lý đới bờ Mặc dù việc khai thác nguồn tài nguyên ở đới bờ đã có từ lâu đời, nhưng hầu hết các quốc gia ven biển chỉ mới thực sự quan tâm đến vấn đề quản lý nguồn tài nguyên quý giá này từ sau những năm 1960. Lịch sử phát triển của quản lý đới bờ trải qua bốn giai đoạn, được thể hiện trong bảng sau: Bảng 11. Lịch sử quản lý đới bờ [16] Giai đoạn 1     Giai đoạn chuẩn bị   Thời gian     Cuối những năm 1960   Mục tiêu     Tăng cường việc sử dụng tài nguyên   Công tác quản lý     Sử dụng mang tính đơn ngành hoặc có sự kết hợp của một vài ngành nào đó   Phạm vi quản lý     Vùng biển nông ven bờ hoặc một dải hẹp phần đất ven biển   Giai đoạn 2     Giai đoạn bắt đầu   Thời gian     Vào những năm 1970   Mục tiêu     Quản lý việc sử dụng tài nguyên mang tính cục bộ và bảo vệ môi trường   Công tác quản lý     Mang tính đa ngành   Phạm vi quản lý     Quản lý theo ranh giới hành chính hoặc theo tiêu chuẩn   Giai đoạn 3     Tiến tới giai đoạn trưởng thành   Thời gian     Vào những năm 1980   Mục tiêu     Quản lý việc sử dụng đới bờ một cách toàn diện, bảo vệ môi trường và duy trì các vùng nhạy cảm   Công tác quản lý     Mang tính tổng thể   Phạm vi quản lý     Về phía đất liền: giới hạn theo các tiêu chuẩn khác nhau. Về phía biển: trùng với phạm vi vùng hoạt động hàng hải thuộc chủ quyền của quốc gia   Giai đoạn 4     Giai đoạn trưởng thành   Thời gian     Vào những năm 1990   Mục tiêu     Quản lý thống nhất đới bờ, bao gồm cả việc sử dụng và các hệ sinh thái   Công tác quản lý     Quản lý tổng hợp   Phạm vi quản lý     Về phía đất liền: giới hạn theo các tiêu chuẩn khác nhau. Về phía biển: trùng với phạm vi vùng hoạt động hàng hải thuộc chủ quyền của quốc gia và vùng đặc quyền kinh tế   Công tác quản lý đới bờ có sự phát triển liên tục cả về mục tiêu, quy mô cũng như phạm vi quản lý. Quản lý từ mang tính đơn ngành trong một phạm vi hẹp cho đến đa ngành trên phạm vi toàn bộ đới bờ. Trên thực tế, quan điểm tiếp cận quản lý tổng hợp đới bờ (QLTHĐB) xuất hiện đầu tiên tại Mỹ vào đầu những năm 1970, và đã đạt được một số những thành tựu nhất định trong việc quản lý tài nguyên đới bờ. Sau đó, một số quốc gia có biển đã theo cách tiếp cận như vậy để thực hiện hoặc thử nghiệm một số công việc cụ thể liên quan đến công tác quản lý đới bờ. Cho đến đầu những năm 1980, QLTHĐB đã được sử dụng khá rộng rãi, chương trình QLTHĐB không chỉ thực hiện đơn lẻ ở mỗi quốc gia, mà còn tiến hành trên một khu vực rộng hơn như cho cả khối ASEAN, hoặc cho toàn bộ các quốc gia có biển ở khu vực Nam Á, Châu Âu, Caribe và khu vực các nước Mỹ La Tinh. Những bài học rút ra từ thực tiễn của công tác quy hoạch và thực thi dự án liên quan đến đới bờ là những kinh nghiệm quý báu cho các quốc gia có biển nói chung và cho Việt Nam nói riêng. Khái niệm về đới bờ và quản lý tổng hợp đới bờ a) Đới bờ Đới bờ (Coastal Zone) là một bộ phận đặc biệt và quan trọng của bề mặt Trái Đất, là nơi tiếp xúc giữa các quyển: thạch quyển, sinh quyển, thuỷ quyển, khí quyển. Đới bờ cũng là nơi chứa đựng các hệ sinh thái có năng suất cao, tính đa dạng sinh học lớn. Rất nhiều nhà khoa học thuộc lĩnh vực khác nhau quan tâm đến đới bờ theo hướng cụ thể của mình và có cách nhìn nhận khác nhau, sau đây là một số định nghĩa về đới bờ: Định nghĩa mang tính khái quát nhất và được sử dụng khá rộng rãi là định nghĩa đới bờ trong mối tương tác giữa môi trường biển và lục địa: “Đới bờ là một vùng chuyển tiếp mà ở đó môi trường biển và môi trường lục địa tương tác lẫn nhau và hình thành một môi trường thống nhất”[15]. Về mặt lý thuyết, định nghĩa này thể hiện một cách đầy đủ bản chất của đới bờ, là một không gian cụ thể mà ở đó môi trường tự nhiên mang tính đặc thù riêng bởi sự kết hợp giữa môi trường biển và môi trường lục địa, đồng thời mang tính tổng quát cao. Đây cũng là định nghĩa được khá nhiều công trình về môi trường tự nhiên của đới bờ sử dụng. Chương trình quản lý tài nguyên và môi trường của Malaysia năm 1996 lại cho rằng “Đới bờ là một hệ sinh thái giàu có về thực vật cũng như các quá trình vật lý, có động lực mạnh và là môi trường nhạy cảm hơn bất cứ nơi nào trên Trái Đất, là vùng đất và biển, mở rộng về phía biển 10 km và về phía đất liền cũng 10 km”. Trên quan điểm tổng hợp và hệ thống, Lymarev V.I đã định nghĩa “Đới bờ (hay còn gọi là đới tương tác hiện tại giữa lục địa và biển) là một dải tiếp giám đất - biển không rộng lắm có bản chất độc đáo tạo nên một hợp phần lớp vỏ cảnh quan của Trái Đất và là nơi xảy ra mối tác động tương hỗ phức tạp và đối lập giữa thạch quyển, khí quyển, thuỷ quyển và sinh quyển”. Theo phạm vi không gian của đới bờ Việt nam có thể được xác định là toàn bộ các vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam phù hợp với Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, gồm vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa và bao gồm cả một dải đất liền ven biển (mà hiện nay chưa thể xác định được chiều rộng chính xác của nó). Nội dung của định nghĩa này trên thực tế chỉ thuần tuý mang tính pháp lý để khẳng định chủ quyền vùng biển của các quốc gia có biển.  Hình 11. Sơ đồ ranh giới đới bờ [15] Hiện nay, Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể xác định về phạm vi và ranh giới của đới bờ. Trong một số nghiên cứu hiện nay, việc lựa chọn dựa trên đối tượng hành chính cơ bản là các tỉnh có ranh giới biển làm phạm vi quan tâm, khảo sát và thu thập số liệu. Khu vực đới bờ là nơi có môi trường sống đa dạng, với nhiều hệ sinh thái phong phú như cửa sông, cỏ biển, san hô, đầm phá, vũng vịnh, bãi triều v.v. Các sản phẩm tự nhiên của khu vực này trở thành tài nguyên thực sự khi có tác động của con người. Các hành vi này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến vùng ven biển hoặc thông qua mối quan hệ giữa hệ thống ven biển với các hệ thống xung quanh. Các mối quan hệ này có khi là tích cực và cũng có khi là tiêu cực, vì vậy nó tạo nên các dạng môi trường khác nhau ở khu vực ven biển.  Hình 12. Mối quan hệ giữa đới bờ và tài nguyên đới bờ [17] Do vậy, việc định nghĩa và xác định ranh giới cho đới bờ phục vụ mục đích quản lý phải hết sức linh hoạt và đa dạng, phụ thuộc vào mục đích sử dụng của nó, với ý nghĩa nhằm quy hoạch và quản lý để đạt được sự phát triển một cách bền vững nguồn tài nguyên nơi đây. Xác định theo mục đích và nhiệm vụ của các chương trình quản lý: không gian của đới bờ thường được xác định theo bốn cách thức sau: (1) Xác định theo một khoảng cách cố định: trong đó yếu tố tự nhiên của đới bờ được quan tâm, được tính theo một ranh giới nào đó giữa biển và lục địa - thường là theo mực triều trung bình, ranh giới về phía biển thường lấy theo phạm vi chủ quyền của quốc gia.(Chương trình quản lý tài nguyên và môi trường của Malaysia năm 1996, Luật biển quốc tế). (2) Xác định theo các khoảng cách thay đổi: không gian của đới bờ lấy theo cách thức khoảng cách biến đổi được xác định theo một đường ranh giới nào đó giữa lục địa và biển, nhưng khoảng cách đường bao tính từ ranh giới này thay đổi phụ thuộc vào việc lựa chọn theo: đặc điểm tự nhiên; theo đặc điểm sinh học; theo các mốc công trình; hoặc theo ranh giới hành chính. (3) Xác định theo mục đích sử dụng: Các tổ chức quốc tế và quốc gia có diện tích biển lớn thường xác định giới hạn của đới bờ theo những vấn đề quản lý cụ thể (Hội nghị về khai thác và sử dụng tài nguyên đới bờ tháng 6 năm 1972 tại Woods Hole, Văn bản hướng dẫn đánh giá tác động môi trường của Ngân hàng Thế giới 1989). (4) Xác định theo kiểu lồng ghép: Các nhà quản lý cho rằng, ranh giới của đới bờ được xác định theo mục đích và nhiệm vụ quản lý là phù hợp hơn cả. Đới bờ là nơi có môi trường sống hết sức đa dạng và bao gồm nhiều các hệ sinh thái phong phú khác nhau. Các sản phẩm tự nhiên của đới bờ trở thành tài nguyên thực sự khi nó có sự tác động của con người. Về mặt quản lý, cũng như nhiều nước trên thế giới, Chính phủ Việt Nam cũng đã tuyên bố về đới bờ biển bao gồm các vùng biển của mình phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và các thông lệ quốc tế, nhằm mục đích chính khẳng định về mặt chủ quyền và hoạch định chiến lược, các chính sách lâu dài của quốc gia cho việc quản lý và khai thác sử dụng tài nguyên. Trong quá trình triển khai các chương trình, dự án của quốc gia, của các bộ, ngành, không gian đới bờ lại được xác định lại một cách cụ thể cho phù hợp với mục tiêu và nội dung nghiên cứu cũng như khả năng đáp ứng về mặt tài chính và kỹ thuật công nghệ. Các tiêu chí để xác định đới bờ biển ở nước ta là tài nguyên thiên nhiên, quản lý xã hội và hành chính pháp luật. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất nào giữa các bộ ngành về ranh giới của đới bờ biển Việt Nam. Đối với khu vực nghiên cứu xã Hải An, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, theo kết quả nghiên cứu của đề tài KC.09.08/06-10 [8], ranh giới đới bờ được xác định theo các tiêu chí sau: (i) Xác định theo cách thức "khoảng cách thay đổi”; (ii) Việc xác định không gian nghiên cứu được kế thừa kinh nghiệm của các dự án quản lý đới bờ đã được thực hiện thành