Từ những hiểu biết của anh chị về kinh tế tư bản chủ nghĩa hãy nêu nguồn gốc phát triển và xu hướng vận động của nó

Kinh tế tư bản chủ nghĩa – nền kinh tế mà đặc trưng là dựa trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân và bóc lột giá trị thặng dư, từ khi ra đời đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Trong nền kinh tế ấy, có hai giai cấp cơ bản: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Giai cấp tư sản là những người sở hữu tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư; giai cấp vô sản là những người không có tư liệu sản xuất buộc phải bán sức lao động của mình và bị bóc lột.

doc8 trang | Chia sẻ: vietpd | Ngày: 15/08/2013 | Lượt xem: 395 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Từ những hiểu biết của anh chị về kinh tế tư bản chủ nghĩa hãy nêu nguồn gốc phát triển và xu hướng vận động của nó, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CÂU HỎI: Từ những hiểu biết của anh chị về kinh tế tư bản chủ nghĩa hãy nêu nguồn gốc phát triển và xu hướng vận động của nó. BÀI LÀM: 1. Nguồn gốc phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa Kinh tế tư bản chủ nghĩa – nền kinh tế mà đặc trưng là dựa trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân và bóc lột giá trị thặng dư, từ khi ra đời đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Trong nền kinh tế ấy, có hai giai cấp cơ bản: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Giai cấp tư sản là những người sở hữu tư liệu sản xuất và bóc lột giá trị thặng dư; giai cấp vô sản là những người không có tư liệu sản xuất buộc phải bán sức lao động của mình và bị bóc lột. Ngay từ khi nghiên cứu về kinh tế tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã bắt đầu từ hàng hóa, bởi ông cho rằng: "Sản xuất hàng hóa và một nền lưu thông hàng hóa phát triển, thương mại, đó là những tiền đề lịch sử của sự xuất hiện tư bản" (C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, HN, 1993, t.23, tr. 221). Vì vậy, để hiểu được tư bản cũng như phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa hay nói cách khác là kinh tế tư bản chủ nghĩa phải bắt đầu từ hàng hóa, lịch sử vận động của nó. Thực chất thì sản xuất hàng hóa và gắn liền với nó là các phạm trù: giá trị, hàng hóa, tiền tệ đã từng có trước chủ nghĩa tư bản. Nó là những điều kiện tiền đề để cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và phát triển. Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thỏa mãn được nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị. Sở dĩ, hàng hóa có hai thuộc tính đó là do lao động sản xuất hàng hóa có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định; và tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định. Lao động của người sản xuất hàng hóa, nếu coi đó là sự hao phí sức óc, sức thần kinh và sức cơ bắp nói chung của con người, chứ không kể đến hình thức cụ thể của nó như thế nào thì gọi là lao động trừu tượng; giá trị của mọi hàng hóa chỉ là sự kết tinh của lao động trừu tượng. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, phản ánh tính chất tư nhân và tính chất xã hội của người sản xuất hàng hóa. Trong nền kinh tế hàng hóa, sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào là việc riêng của mỗi người. Họ là người sản xuất độc lập, lao động của họ, vì vậy có tính chất tư nhân và lao động cụ thể của họ sẽ là biểu hiện của lao động tư nhân. Bắt đầu từ đây, khi mà mỗi người sản xuất một loại hàng hóa khác nhau, bằng những phương thức sản xuất khác, từ đó sở hữu tư nhân được thể hiện ngày càng rõ dần trong từng mối quan hệ trao đổi hàng hóa giữa những người sản xuất ra hàng hóa. Theo đó, mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình, nhưng giá trị của hàng hóa không phải được quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của từng người sản xuất hàng hóa, mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết. Vì thế, muốn có lãi, người sản xuất lại điều chỉnh làm sao cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được. Kéo theo đó là sự biến động giá cả hàng hóa trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu và thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa là sự vận động của quy luật giá trị. Như vậy, tất yếu sẽ xuất hiện ranh giới giữa “kẻ giàu, người nghèo”, hay nói cách khác, quy luật giá trị chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển. Trên vũ đài kinh tế, bây giờ xuất hiện một loại hàng hóa mới đó là hàng hóa sức lao động. Khi sức lao động trở thành hàng hóa thì tiền tệ mang hình thái là tư bản và gắn liền với nó là một quan hệ sản xuất mới xuất hiện: quan hệ giữa nhà tư bản và lao động làm thuê. Thực chất của mối quan hệ này là nhà tư bản chiếm đoạt giá trị thặng dư của công nhân làm thuê. Giá trị thặng dư là nguồn gốc hình thành nên thu nhập của các nhà tư bản và giai cấp bóc lột trong chủ nghĩa tư bản. Kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa có nguồn gốc lịch sử từ nền kinh tế hàng hóa giản đơn trước đó, nhưng lại có sự khác biệt lớn: Kinh tế hàng hóa giản đơn vận động theo công thức H - T - H (bán hàng lấy tiền để mua hàng), còn nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa vận động theo công thức mà C. Mác đã nêu là T - H - T (lấy tiền mua hàng, bán hàng lấy được tiền nhiều hơn số tiền đã mua). Công thức này phản ánh bản chất của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư của lao động làm thuê. Giá trị thặng dư biểu hiện trên bề mặt xã hội dưới hình thức lợi nhuận. Kinh tế hàng hóa giản đơn dưới sự tác động của quy luật giá trị dẫn đến phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ, hình thành mầm mống của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Kinh tế tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ sở hữu lớn của chủ nghĩa tư bản không chỉ chịu tác động của quy luật giá trị mà còn chịu tác động của quy luật giá trị thặng dư, là quy luật kinh tế cơ bản, hay tuyệt đối (theo C. Mác) và tồn tại trong hệ thống các quy luật kinh tế khác của chủ nghĩa tư bản. Thật vậy, giá trị thặng dư - một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ kinh tế bản chất nhất của chủ nghĩa tư bản – quan hệ tư bản bóc lột lao động làm thuê. Giá trị thặng dư do lao động không công của công nhân tạo ra là nguồn gốc làm giàu của các nhà tư bản. Để hiểu rõ quá trình sản xuất giá trị thặng dư, chúng ta có thể lấy việc sản xuất của một nhà tư bản sau làm ví dụ: Để biến 10m vải thành 8 cái áo, một công nhân phải lao động trong 5 giờ; với giả định, trong một giờ, một người công nhân tạo ra một lượng giá trị là 9000đ; và giả định trong quá trình may áo đã hao phí theo thời gian lao động xã hội cần thiết. Chi phí sản xuất Giá trị sản phẩm mới (16 cái áo) - Tiền mua vải (20m): 180.000đ - Giá trị của áo được chuyển vào áo: 180.000đ - Tiền hao mòn máy móc: 50.000đ - Giá trị của máy móc được chuyển vào áo: 50.000đ Tiền mua sức lao động trong 1 ngày: 45.000đ - Giá trị mới do lao động của công nhân tạo ra trong 10 giờ lao động: 90.000đ Tổng cộng: 275.000đ Tổng cộng: 320.000đ Như vậy, toàn bộ chi phí mà nhà sản xuất bỏ ra là 275.000đồng, còn giá trị của sản phẩm mới (20m vải) do công nhân may ra trong 10 giờ lao động là 320.000 đồng. Vậy