Căn nguyên của bệnh lý nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương tại Việt Nam

Đặt vấn đề: Đa số các dữ liệu về tác nhân gây bệnh tại các quốc gia khu vực châu Á đều dựa chủ yếu trên số liệu của các bệnh viện lớn tuyến trung ương hơn là số liệu của các bệnh viện tuyến tỉnh (nơi đa số bệnh nhân nhiễm trùng hệ TKTW thường nhập viện ban đầu để điều trị). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả tiền cứu về nhiễm trùng hệ TKTW ở người lớn và trẻ em tại 13 bệnh viện ở miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam Việt Nam từ 08/2007 đến 04/2010. Tác nhân gây bệnh được xác định trong dịch não tủy và máu bằng phương pháp nuôi cấy vi sinh, chẩn đoán sinh học phân tử và huyết thanh học. Kết quả: Chúng tôi thâu nhận 1241 bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng là nhiễm trùng hệ TKTW. Tác nhân gây bệnh được xác định ở 640/1241 (52%) bệnh nhân. Tác nhân thường gặp nhất là Streptococcus suis serotype 2 ở người lớn (147/617, 24%) và siêu vi gây viêm não Nhật Bản ở trẻ em (142/624, 23%). Mycobacterium tuberculosis được xác định ở 34/616 (6%) bệnh nhân người lớn và 11/624 (2%) ở bệnh nhân trẻ em. Kết luận: Tác nhân vi trùng và siêu vi trùng có nguồn gốc từ động vật là căn nguyên phổ biến nhất của bệnh lý nhiễm trùng hệ TKTW ở người lớn và trẻ em Việt Nam.

pdf7 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 11/06/2022 | Lượt xem: 137 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Căn nguyên của bệnh lý nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 62 CĂN NGUYÊN CỦA BỆNH LÝ NHIỄM TRÙNG HỆ THẦN KINH TRUNG ƯƠNG TẠI VIỆT NAM Hồ Đặng Trung Nghĩa* và Mạng lưới giám sát nhiễm trùng hệ TKTW VIZIONS** TÓM TẮT Đặt vấn đề: Đa số các dữ liệu về tác nhân gây bệnh tại các quốc gia khu vực châu Á đều dựa chủ yếu trên số liệu của các bệnh viện lớn tuyến trung ương hơn là số liệu của các bệnh viện tuyến tỉnh (nơi đa số bệnh nhân nhiễm trùng hệ TKTW thường nhập viện ban đầu để điều trị). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả tiền cứu về nhiễm trùng hệ TKTW ở người lớn và trẻ em tại 13 bệnh viện ở miền Trung, Tây Nguyên và miền Nam Việt Nam từ 08/2007 đến 04/2010. Tác nhân gây bệnh được xác định trong dịch não tủy và máu bằng phương pháp nuôi cấy * Bộ môn Nhiễm, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. ** Mạng lưới giám sát nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương VIZIONS: - Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch (Hồ Đặng Trung Nghĩa và Hoàng Thị Thanh Hằng) - Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (Lê Thị Phương Tú, Nguyễn Văn Minh Hoàng, Nguyễn Thành Vinh, Phạm Văn Minh, Trần Vũ Thiếu Nga, Lê Văn Tấn,, James Campbell, Maxine Caws, - Jeremy Day, Menno D. de Jong, H. Rogier Van Doorn, Marcel Wolbers, Trần Tịnh Hiền, Jeremy Farrar và Constance Schultsz) - Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TpHCM (Tô Song Diệp, Nguyễn Hoan Phú và Nguyễn Văn Vĩnh Châu) - Bệnh viện ĐK tỉnh Đồng Tháp (Trần Quốc Lợi, Nguyễn Trường Sơn, Phan Văn Bé Bảy, Nguyễn Thị Hồng Thắm và Lê Thị Phượng) - Bệnh viện ĐK khu vực Sa Đéc (Lê Trung Trí và Nguyễn Thị Nguyệt Bình) - Bệnh viện ĐK tỉnh An Giang (Đoàn Công Du, Nguyễn Thị Phương Thảo, Trương Thị Mỹ Tiến và Trần Thị Phi La) - Bệnh viện ĐK tỉnh Kiên Giang (Bùi Văn Công, Phạm Ngọc Điệp, Dương Phước Đông, Trần Thị Mộng Lành và Phạm Văn Đởm) - Bệnh viện ĐK tỉnh Cà Mau (Trần Quang Dũng, Phan Nhứt Trí, Tăng Thị Hò và Nguyễn Anh Tài) - Bệnh viện ĐK tỉnh Bạc Liêu (Quách Văn Lực và Đinh Xuân Phước) - Bệnh viện ĐK tỉnh Sóc Trăng (Tăng Vũ, Huỳnh Thị Thu Thủy, Trần Thị Nguyệt Hồng, Âu Hữu Đức, Mạnh Ánh Mai và Nguyễn Hữu Thứ) - Bệnh viện ĐK tỉnh Trà Vinh (Lâm Thị Kim Ngọc) - Bệnh viện Trung Ương Cần Thơ (Nguyễn Thị Thanh Tâm, Trần Ngô Phúc Mỹ, Ngô Văn Út, Lâm Tấn Phương, Lê Khánh Toàn và Đặng Quang Tâm) - Bệnh viện ĐK tỉnh Bình Phước (Hồ Đình Tùng) - Bệnh viện ĐK tỉnh ĐakLak (Nguyễn Hai, Hoàng Ngọc Anh Tuấn, Hoàng Thị Thủy Tiên và Trần Thị Ngọc Oanh) - Trần Thị Diễm Lan, Nguyễn Thái Thuận, Bùi Mạnh Hùng và Bùi Đức Phú) - Bệnh viện ĐK tỉnh Khánh Hòa (Nguyễn Đông, Phan Thế Long, Nguyễn Thanh Ngân, Mang Thị Phương Mai, Phạm EnGa, Lưu Thị Minh Hương, Nguyễn Thị Thúy Ái, Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Văn Xáng và Nguyễn Mạnh Tiến) - Bệnh viện Trung Ương Huế (Phan Trung Tiến, Nguyễn Thị Nam Liên, Trần Kiêm Hảo, Nguyễn Thị Như Lý, Trần Duy Hòa, Bùi Văn Đoàn, Dương Thị Bích Hoa, Trần Thị Thu Anh, Nguyễn Xuân Hiền, Võ Kim Thanh, Dương Văn Thông, Đinh Quang Tuấn, Phạm Thị Minh Khoa, Hoàng Trọng Hanh. Tác giả liên lạc: ThS.BS. Hồ Đặng Trung Nghĩa ĐT: 0918500638 Email: honghia2001@yahoo.com.uk Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 63 vi sinh, chẩn đoán sinh học phân tử và huyết thanh học. Kết quả: Chúng tôi thâu nhận 1241 bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng là nhiễm trùng hệ TKTW. Tác nhân gây bệnh được xác định ở 640/1241 (52%) bệnh nhân. Tác nhân thường gặp nhất là Streptococcus suis serotype 2 ở người lớn (147/617, 24%) và siêu vi gây viêm não Nhật Bản ở trẻ em (142/624, 23%). Mycobacterium tuberculosis được xác định ở 34/616 (6%) bệnh nhân người lớn và 11/624 (2%) ở bệnh nhân trẻ em. Kết luận: Tác nhân vi trùng và siêu vi trùng có nguồn gốc từ động vật là căn nguyên phổ biến nhất của bệnh lý nhiễm trùng hệ TKTW ở người lớn và trẻ em Việt Nam. Từ khóa: căn nguyên, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, Streptococcus suis, viêm não Nhật Bản, lao màng não. ABSTRACT AETIOLOGIES OF CENTRAL NERVOUS SYSTEM INFECTION IN VIET NAM Ho Dang Trung Nghia and the VIZIONS CNS Infection Network * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 62 - 68 Background: To date most data has come from patients admitted to tertiary referral hospitals in Asia and there is limited aetiological data at the provincial hospital level where most patients are seen. Methods: We conducted a prospective Provincial Hospital-based descriptive surveillance study in adults and children at thirteen hospitals in central and southern Viet Nam between August 2007 – April 2010. The pathogens of CNS infection were confirmed in CSF and blood samples by using classical microbiology, molecular diagnostics and serology. Results: We recruited 1241 patients with clinically suspected infection of the CNS. An aetiological agent was identified in 640/1241 (52%) of the patients. The most common pathogens were Streptococcus suis serotype 2 in patients older than 14 years of age (147/617, 24%) and Japanese encephalitis virus in patients less than 14 years old (142/624, 23%). Mycobacterium tuberculosis was confirmed in 34/617 (6%) adult patients and 11/624 (2%) paediatric patients. Conclusions: Zoonotic bacterial and viral pathogens are the most common causes of CNS infection in adults and children in Viet Nam. Key word: aetilology, CNS infection, Streptococcus suis, Japanese encephalitis, tuberculous meningitis. ĐẶT VẤN ĐỀ Mặc dù có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực hồi sức và điều trị kháng sinh, bệnh lý nhiễm trùng ở hệ TKTW vẫn là một loại bệnh lý hiểm nghèo, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong năm 2004 có khoảng 700000 đợt viêm màng não và 70% các bệnh nhân này sống tại các quốc gia ở châu Phi và vùng Đông Nam Á(19). Hằng năm, vùng châu Á có khoảng 50000 trường hợp mắc bệnh viêm não Nhật Bản để lại hậu quả là 15000 trường hợp tử vong và nhiều trường hợp sống sót với di chứng tâm thần kinh(13). Lao màng não cũng là một bệnh lý nhiễm trùng hệ TKTW thường gặp tại các quốc gia đang phát triển và thường có tỷ lệ tử vong cao do việc chậm trễ trong chẩn đoán, điều trị và tình trạng gia tăng kháng thuốc của vi trùng lao. Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong của bệnh lý này là 65% ở bệnh nhân nhiễm HIV và 25% ở bệnh nhân không nhiễm HIV(17). Để giảm tỷ lệ tử vong và di chứng của bệnh lý nhiễm trùng hệ TKTW, chúng ta cần tiến hành các nghiên cứu xác định căn nguyên nhằm góp phần xây dựng các chiến lược điều trị và dự phòng bệnh hợp lý. Căn nguyên của bệnh lý này có thể thay đổi tùy thuộc nhiều yếu tố như thời gian, vùng địa lý, tuổi, bệnh nền đi Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 64 kèm, chương trình tiêm chủng và ngõ vào của tác nhân gây bệnh(7-14). Tuy nhiên, các dữ liệu dịch tễ liên quan đến căn nguyên của nhiễm trùng hệ TKTW tại Việt Nam còn tương đối hạn chế và thường có nguồn gốc từ các bệnh viện tuyến trung ương ở các thành phố lớn. Do đó, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu mô tả tiền cứu tác nhân gây nhiễm trùng hệ TKTW tại các bệnh viện tuyến tỉnh ở miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh thành ở đồng bằng sông Cửu Long. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả giám sát tiền cứu dựa vào bệnh viện (prospective hospital-based descriptive surveillance study). Thời gian và địa điểm nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 08/2007 đến 04/2010 tại 13 bệnh viện, bao gồm bệnh viện đa khoa (BVĐK) khu vực Sa Đéc, 10 BVĐK cấp tỉnh (Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Bình Phước, Đak Lak và Khánh Hòa) và 2 bệnh viện tuyến trung ương (Cần Thơ và Huế). Đối tượng nghiên cứu Tất cả bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn lâm sàng nghi ngờ nhiễm trùng hệ TKTW như sau: ít nhất 1 tháng tuổi; sốt  380C; có ít nhất 1 trong các triệu chứng sau: nhức đầu, cổ gượng, thay đổi tri giác và có dấu thần kinh định vị; và có chọc dịch não tủy (DNT). Bệnh nhân được loại khỏi nghiên cứu nếu họ hoặc người thân từ chối ký thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu. Cách thức tiến hành Sau khi ký thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu, bác sĩ điều trị sẽ ghi nhận các thông tin dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng vào phiếu thu thập số liệu. Ngoài lượng DNT được gửi làm xét nghiệm tế bào, sinh hóa và vi sinh (nhuộm Gram và nuôi cấy phân lập vi khuẩn) ở phòng xét nghiệm bệnh viện tỉnh, mỗi bệnh nhân sẽ được lưu giữ 0.5-1.0 ml DNT ở nhiệt độ -200C và sau đó được chuyển về khoa xét nghiệm kỹ thuật cao Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới (BVBNĐ) để khảo sát thêm về nguyên nhân gây bệnh, bao gồm kỹ thuật real-time PCR (chẩn đoán Streptococcus suis serotype 2, Streptococcus pneumoniae, Haemophilus influenzae type b, Neisseria meningitidis, Mycobacterium tuberculosis, Herpes simplex 1/2, Enteroviruses) và kỹ thuật JEV/DENV IgM ELISA (Venture Technologies Sdn Bhd Malaysia) chẩn đoán Dengue và viêm não Nhật Bản. Ngoài ra, các chủng vi khuẩn phân lập từ máu và DNT cũng được chuyển về BVBNĐ để định danh và làm kháng sinh đồ. Một số định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu Người lớn và trẻ em Theo quy định của Việt Nam, bệnh nhân được gọi là trẻ em khi nhỏ hơn 15 tuổi và bệnh nhân có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên được gọi là người lớn. Các định nghĩa ca bệnh trong nghiên cứu Định nghĩa ca bệnh viêm màng não mủ, viêm não siêu vi và lao màng não trong nghiên cứu này dựa trên định nghĩa ca bệnh viêm màng não mủ và viêm não siêu vi của WHO(20) và định nghĩa đồng thuận chẩn đoán lao màng não(15). Một bệnh nhân được xếp vào nhóm “không phải nhiễm trùng hệ TKTW” nếu có các thông số DNT trong giới hạn bình thường, không xác định được tác nhân và có chẩn đoán ra viện không liên quan đến nhiễm trùng hệ TKTW như tai biến mạch máu não, động kinh, rối loạn tâm thần, ngộ độc (thuốc, rượu), hôn mê gan, nhiễm trùng huyết hay sốt cao co giật lành tính ở trẻ em. KẾT QUẢ Từ tháng 8/2007 đến 04/2010, 1740 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn vào nghiên cứu. Dữ liệu lâm sàng không thu thập được từ 95 bệnh nhân. Sau khi phân tích dữ liệu lâm sàng và xét nghiệm, chúng tôi loại ra 247 trẻ em và 157 người lớn vì các bệnh nhân này được xếp vào nhóm “không phải nhiễm trùng hệ TKTW”. Do Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 65 đó, còn lại 1241 bệnh nhân (617 người lớn và 624 trẻ em) được đưa vào phân tích căn nguyên nhiễm trùng hệ TKTW (xem hình 1). Căn nguyên của nhiễm trùng hệ TKTW Tác nhân gây bệnh được xác định ở 640/1241 (52%) bệnh nhân (xem bảng 1). Tác nhân gây bệnh thường gặp nhất là S. suis serotype 2 ở người lớn (147/617, 24%) và siêu vi viêm não Nhật Bản (VNNB) ở trẻ em (142/624, 23%). Mycobacterium tuberculosis được xác định bằng kỹ thuật PCR ở 34/617 (6%) người lớn và 11/624 (2%) trẻ em. Tình trạng đồng nhiễm được ghi nhận ở 22 bệnh nhân (12 người lớn và 10 trẻ em). Tình trạng này chủ yếu gặp ở bệnh nhân nhiễm siêu vi Dengue và một tác nhân vi khuẩn (9/22) hoặc nhiễm siêu vi viêm não Nhật Bản và một tác nhân vi khuẩn (7/22). Hình 1. Quá trình tuyển chọn bệnh nhân nghiên cứu (*) Chẩn đoán khác bao gồm viêm xoang (5), u não (9), sốt rét ác tính (8), tâm thần (7), nhức đầu (7), thương hàn (5), sốt không rõ nguyên nhân (6), bệnh tự miễn (12), tiêu chảy (6), thoát vị đĩa đệm CS thắt lưng (2), bệnh tim bẩm sinh (2), não úng thủy (1), uốn ván (1), thiếu máu nặng (1) và viêm đại tràng mạn (1). Bảng 1. Căn nguyên của nhiễm trùng hệ TKTW Tác nhân gây bệnh, n (%) Người lớn (n=617) Trẻ em (n=624) Vi trùng Không phải nhiễm trùng TKTW (247 trẻ em): Sốt cao co giật (85 trẻ) Nhiễm siêu vi (38 trẻ) Nhiễm trùng huyết (23 trẻ) Động kinh (18 trẻ) Viêm phổi (14 trẻ) Viêm họng (14 trẻ) Hôn mê chuyển hóa (9 trẻ) Lỵ trực trùng (7 trẻ) Đột quỵ (5 trẻ) Chẩn đoán khác * (34 trẻ) Thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh 826 người lớn 914 trẻ em Thiếu thông tin lâm sàng 52 người lớn 43 trẻ em Đủ thông tin lâm sàng 774 người lớn 871 trẻ em Không phải nhiễm trùng TKTW (157 người lớn): Nhiễm trùng huyết (32 bệnh nhân) Đột quỵ (24 bệnh nhân) Viêm phổi (22 bệnh nhân) Hôn mê chuyển hóa (20 bệnh nhân) Nhiễm siêu vi (15 bệnh nhân) Động kinh (8 bệnh nhân) Chẩn đoán khác * (36 bệnh nhân) Phân tích căn nguyên 617 người lớn 624 trẻ em Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 66 Tác nhân gây bệnh, n (%) Người lớn (n=617) Trẻ em (n=624) Streptococcus suis serotype 2 147 (23,82) - Streptococcus pneumoniae 35 (5,67) 37 (5,93) Haemophilus influenzae type b - 39 (6,25) Neisseria meningitidis 4 (0,65) 6 (0,96) Streptococcus spp 2 (0,32) - Staphylococcus spp 1 (0,16) 3 (0,48) Escherichia coli 2 (0,32) 2 (0,32) Acinetobacter spp 1 (0,16) 1 (0,16) Klebsiella pneumoniae 5 (0,81) 1 (0,16) Enterococcus spp 1 (0,16) - Salmonella spp - 2 (0,32) Siêu vi trùng Siêu vi viêm não Nhật Bản (VNNB) 11 (1,78) 142 (22,76) Siêu vi Dengue (DENV) 23 (3,73) 14 (2,24) Enteroviruses 20 (3,24) 36 (5,77) Herpes simplex 22 (3,57) 14 (2,24) Lao Mycobacterium tuberculosis 34 (5,51) 11 (1,76) Nấm Cryptococcus neoformans 2 (0,32) - Đồng nhiễm DENV + S, suis serotype 2 2 (0,32) - DENV + S, pneumoniae 1 (0,16) - DENV + N, meningitidis 1 (0,16) - DENV + H, influenzae type b - 3 (0,48) DENV + M, tuberculosis 2 (0,32) - DENV + VMN tăng BC ái toan* 2 (0,32) VNNB + S, pneumoniae 1 (0,16) - VNNB + N,meningitidis - 1 (0,16) VNNB + H, influenzae type b - 3 (0,48) VNNB + Salmonella spp - 1 (0,16) VNNB + Staphylococcus spp - 1 (0,16) Enteroviruses + H, influenzae type b - 1 (0,16) Enteroviruses + M, tuberculosis 1 (0,16) - K, pneumoniae + M, tuberculosis 1 (0,16) - K, pneumoniae + Herpes simplex 1 (0,16) - Không xác định được tác nhân 295 (47,81) 306 (49,04) * Số lượng BC ái toan trong DNT là 352/880 (40%) ở 1 bệnh nhân và 330/1320 (25%) ở bệnh nhân còn lại. Tác nhân gây bệnh viêm màng não mủ (VMNM) Tác nhân vi khuẩn được xác định ở 198/302 (66%) bệnh nhân viêm màng não mủ người lớn bằng phương pháp nuôi cấy hoặc real-time PCR. Trong đó, S. suis serotype 2 gây bệnh ở 147/302 (49%) bệnh nhân. Tỷ lệ này gấp 4 lần tỷ lệ của tác nhân S. pneumoniae (35/302, 12%). Ở trẻ em, H. influenzae type B (39/150,26%) và S. pneumoniae (37/150, 25%) là tác nhân chính gây VMNM (xem bảng 2). Bảng 2. Tác nhân gây bệnh viêm màng não mủ (không kể trường hợp đồng nhiễm) Tác nhân gây bệnh, n (%) Người lớn (n=302) Trẻ em (n=150) Streptococcus suis serotype 2* 147 (48,68) - Streptococcus pneumoniae* 35 (11,59) 37 (24,67) Haemophilus influenzae type b* - 39 (26,00) Neisseria meningitidis* 4 (1,32) 6 (4,00) Streptococcus spp 2 (0,66) - Staphylococcus spp 1 (0,33) 3 (2,00) Escherichia coli 2 (0,66) 2 (1,33) Acinetobacter spp 1 (0,33) 1 (0,67) Klebsiella pneumoniae 5 (1,66) 1 (0,67) Enterococcus spp 1 (0,33) - Salmonella spp - 2 (1,33) Không xác định được tác nhân 104 (34,44) 59 (39,33) * Được xác định bởi phương pháp real-time PCR và/hoặc nuôi cấy. Tất cả các tác nhân khác chỉ được xác định bằng nuôi cấy. Tác nhân gây viêm não/viêm màng não siêu vi (VN/VMNSV) Siêu vi viêm não Nhật Bản là tác nhân gây bệnh xác định được thường gặp nhất ở trẻ viêm não (142/432, 33%). Siêu vi Dengue, nhóm enterovirus và Herpes simplex là tác nhân siêu vi xác định được thường gặp ở người lớn với tỷ lệ khoảng 10% cho mỗi tác nhân (xem bảng 3). Tác nhân gây bệnh không xác định được ở 359/641 (56%) bệnh nhân viêm não. Bảng 3. Tác nhân gây viêm não/viêm màng não siêu vi (loại trừ trường hợp đồng nhiễm) Tác nhân gây bệnh, n (%) Người lớn (n=209) Trẻ em (n=432) Giá trị p 1 Siêu vi VNNB 11 (5,26) 142 (32,87) <0,001 Siêu vi Dengue 23 (11,00) 14 (3,24) <0,001 Enteroviruses 20 (9,57) 36 (8,33) 0,603 Herpes simplex 22 (10,53) 14 (3,24) <0,001 Không xác định được tác nhân 133 (63,64) 226 (52,31) 0,007 1 Chi-squared test hoặc Fisher’s exact test (khi một hay Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 67 nhiều tần số lý thuyết nhỏ hơn 5) Lao màng não Khoảng 10% (122/1241) bệnh nhân bị nhiễm trùng hệ TKTW được chẩn đoán lâm sàng là lao màng não, trong đó 87/617 (14%) là bệnh nhân người lớn và 31/624 (5%) là bệnh nhi. ADN của vi khuẩn lao được xác định trong DNT của 49 bệnh nhân (49/122, 40%) bằng phương pháp real-time PCR. BÀN LUẬN Đây là nghiên cứu đầu tiên khảo sát tác nhân gây bệnh của bệnh lý nhiễm trùng hệ TKTW tại các bệnh viện đa khoa cấp tỉnh ở Việt Nam. Các bệnh viện tham gia nghiên cứu hoạt động như là cơ sở khám chữa bệnh ban đầu của bệnh nhân bị nhiễm trùng hệ TKTW trong khu vực quản lý của bệnh viện. Do đó, số liệu ghi nhận trong nghiên cứu này phản ánh mức độ bệnh tật cũng như các tác nhân gây bệnh liên quan trong dân số. Tác nhân S. suis serotype 2 là tác nhân gây viêm màng não mủ thường gặp nhất ở người lớn. Tác nhân này chiếm tỷ lệ cao gấp 4 lần tỷ lệ của tác nhân S. pneumoniae, một tác nhân gây viêm màng não mủ thường gặp nhất tại châu Âu và Hoa Kỳ(8,4). Kết quả của nghiên cứu này giúp khẳng định lại kết quả của các nghiên cứu trước ở các bệnh viện tuyến trung ương ghi nhận S. suis là tác nhân gây VMNM thường gặp nhất ở người trưởng thành Việt Nam(10,18). Siêu vi VNNB là tác nhân gây bệnh nhiễm trùng hệ TKTW thường gặp nhất ở trẻ em (142/624, 23%). Các kết quả này cho thấy rõ ràng tầm quan trọng của bệnh lý nhiễm trùng có nguồn gốc từ động vật ở Việt Nam, trong đó heo là ký chủ tàng trữ chính của cả 2 tác nhân gây bệnh này. Thuốc chủng ngừa H. influenzae type B được đưa vào tiêm chủng mở rộng của Việt Nam từ tháng 06/2010. Do đó, tác nhân này vẫn là tác nhân gây VMNM phổ biến nhất ở trẻ em Việt Nam trong nghiên cứu này, tương tự như ở các quốc gia khác trước khi thuốc chủng ngừa được đưa vào chương trình tiêm chủng(1-9). KẾT LUẬN Chúng tôi xác định được tác nhân gây bệnh ở 640/1241 (52%) trường hợp nghi ngờ nhiễm trùng hệ TKTW bằng phương pháp chẩn đoán sinh học phân tử, huyết thanh học và nuôi cấy. Ba tác nhân gây bệnh thường gặp nhất ở trẻ em là siêu vi VNNB, H. influenzae type b và S. pneumoniae. Trong khi đó, S. suis serotype 2 là nguyên nhân gây bệnh ở khoảng ¼ số bệnh nhân người lớn bị nhiễm trùng hệ TKTW hoặc ở gần ½ các trường hợp viêm màng não mủ ở người trưởng thành Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Al-Tawfiq, J.A., Abukhamsin A. (2009), Burden and etiology of community-acquired bacterial meningitis in a hospital in Eastern Saudi Arabia: 1993-2005. Med Sci Monit. 15(2): p. PI10-14. 2. Casas, I, Tenorio A., de Ory F, Lozano A., and Echevarria JM (1996), Detection of both herpes simplex and varicella-zoster viruses in cerebrospinal fluid from patients with encephalitis. J Med Virol. 50(1): p. 82-92. 3. Cho HK, Lee H, Kang JH, et al. (2010), The causative organisms of bacterial meningitis in Korean children in 1996-2005. J Korean Med Sci. 25(6): p. 895-9. 4. Gjini AB, Stuart JM, Lawlor DA, et al. (2006), Changing epidemiology of bacterial meningitis among adults in England and Wales 1991-2002. Epidemiol Infect. 134(3): p. 567-9. 5. Le Van Tan, Phan Tu Qui, Do Quang Ha, et al. (2010), Viral etiology of encephalitis in children in southern Vietnam: res