Đề án Tìm hiểu về vận dụng thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục hàng tồn kho trong kiểm toán tài chính

Trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho thường là khoản mục có giá trị lớn, các nghiệp vụ phát sinh xoay quanh hàng tồn kho thường rất phong phú, phức tạp. Hơn nữa, kế toán hàng tồn kho là công việc chứa đựng rất nhiều yếu tố chủ quan và phụ thuộc rất lớn vào các soát xét của Ban Giám đốc doanh nghiệp trong các ước tính kế toán. Các sai phạm xảy ra đối với hàng tồn kho thường có ảnh hưởng tới rất nhiều các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính. Do đó, kiểm toán hàng tồn kho được đánh giá là một công việc quan trọng và hoàn thiện quy trình kiểm toán hàng tồn kho có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tại các công ty kiểm toán.

doc46 trang | Chia sẻ: maiphuong | Lượt xem: 1625 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề án Tìm hiểu về vận dụng thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục hàng tồn kho trong kiểm toán tài chính, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời nói đầu Trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho thường là khoản mục có giá trị lớn, các nghiệp vụ phát sinh xoay quanh hàng tồn kho thường rất phong phú, phức tạp. Hơn nữa, kế toán hàng tồn kho là công việc chứa đựng rất nhiều yếu tố chủ quan và phụ thuộc rất lớn vào các soát xét của Ban Giám đốc doanh nghiệp trong các ước tính kế toán. Các sai phạm xảy ra đối với hàng tồn kho thường có ảnh hưởng tới rất nhiều các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính. Do đó, kiểm toán hàng tồn kho được đánh giá là một công việc quan trọng và hoàn thiện quy trình kiểm toán hàng tồn kho có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ kiểm toán tại các công ty kiểm toán. Thủ tục kiểm tra chi tiết là một trong những thủ tục quan trọng trong kiểm toán báo cáo tài chính, đặc biệt là quy trình kiểm toán hàng tồn kho. Kiểm tra chi tiết được thực hiện bằng các biện pháp kĩ thuật cụ thể để kiểm toán từng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên khoản mục hay loại nghiệp vụ liên quan đến hàng tồn kho. Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc vận dụng thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục hàng tồn kho, được sự chỉ bảo tận tình của Giảng viên Thạc sĩ. Bùi Thị Minh Hải, em đã hoàn thành đề án môn học chuyên ngành kiểm toán của mình với đề tài: “ Tìm hiểu về vận dụng thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính”. Nội dung của đề án bao gồm ba phần chính: Chương 1: Lí luận chung về thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính. Chương 2: Thực trạng quy trình thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính tại một số công ty kiểm toán Việt Nam. Chương 3: Nhận xét và các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện quy trình thực hiện thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính. Do phạm vi nghiên cứu còn có nhiều hạn chế nên bài viết của em không tránh khỏi thiếu sót, vì vậy em rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của các thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của giảng viên Thạc sĩ Bùi Thị Minh Hải, đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em hoàn thành bài viết này. Chương 1: Lí luận chung về thủ tục kiểm tra chi tiết đối với khoản mục hàng tồn kho trong kiểm toán báo cáo tài chính . Khái quát chung về phương pháp kiểm toán trong kiểm toán tài chính Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng trong hệ thống kiểm toán nói chung. Để thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính cũng sử dụng các phương pháp kiểm toán chứng từ (kiểm toán các quan hệ cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic) và kiểm toán ngoài chứng từ (kiểm kê, thực nghiệm, điều tra). Xét về mặt thực hiện chức năng chung của kiểm toán, kiểm toán tài chính hướng tới việc bày tỏ ý kiến trên cơ sở các bằng chứng kiểm toán. Để có được những bằng chứng này, kiểm toán tài chính cần triển khai các phương pháp cơ bản trên theo từng tình huống cụ thể. Ở đây các phương pháp kiểm toán cơ bản được được triển khai theo hướng kết hợp hoặc chi tiết thành các cách kiểm toán cụ thể tùy tình huống cụ thể trong suốt quá trình kiểm toán. Giáo trình Kiểm toán tài chính (NXB ĐH Kinh tế quốc dân, 2006) chia các phương pháp kiểm toán thành hai loại: - Thử nghiệm cơ bản: nguyên tắc chung của mọi cuộc kiểm toán tài chính là phải thẩm tra lại các thông tin biểu hiện bằng tiền phản ánh trên bảng tổng hợp bằng việc kết hợp các phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ theo trình tự và cách thức kết hợp xác định tổng hợp các cách xác minh là các con số này. - Thử nghiệm tuân thủ: là phương pháp dựa vào kết quả của hệ thống kiểm soát nội bộ khi hệ thống này tồn tại và hoạt động có hiệu lực. Để khẳng định sự tồn tại và hoạt động có hiệu lực này khảo sát, thẩm tra và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ. Xét về đối tượng cụ thể của kiểm toán tài chính là các báo cáo kế toán và các bảng tổng hợp tài chính đặc biệt khác. Các bảng tổng hợp này chứa đựng những mối quan hệ kinh tế tổng quát, vừa phản ánh cụ thể từng loại tài sản, từng loại nguồn vốn với những biểu hiện về kinh tế, pháp lý và được lập ra theo những trình tự xác định với những chuẩn mực cụ thể trong quan hệ với các nghiệp vụ phát sinh. Do vậy, kiểm toán tài chính thường là kiểm toán liên kết và phải hình thành những trắc nghiệm với việc sử dụng liên hoàn các phương pháp kiểm toán cơ bản để đưa ra ý kiến đúng đắn về các bảng tổng hợp này. Trắc nghiệm được hiểu là các cách thức các định trong việc vận dụng các phương pháp kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ vào việc xác minh các nghiệp vụ, các số dư tài khoản hoặc các khoản mục cấu thành bảng khai tài chính. Giáo trình Kiểm toán tài chính (NXB ĐH Kinh tế quốc dân, 2006) chia các trắc nghiệm kiểm toán thành ba loại trắc nghiệm cơ bản: - Trắc nghiệm công việc: là cách thức và trình tự rà soát các nghiệp vụ hoặc các hoạt động cụ thể trong quan hệ với sự tồn tại và có hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ, trước hết là hệ thống kế toán. Trắc nghiệm công việc bao gồm hai loại: + Trắc nghiệm độ vững chãi: đây là cách thức, trình tự rà soát những thông tin về giá trị trong hệ thống kế toán, hướng tới “độ tin cậy của thông tin” của hệ thống kiểm soát nội bộ. + Trắc nghiệm đạt yêu cầu: là cách thức, trình tự rà soát những thủ tục kế toán hoặc thủ tục quản lý có liên quan đến đối tượng kiểm toán. Trắc nghiệm đạt yêu cầu được sử dụng tương đối đa dạng, tập trung chủ yếu vào việc đánh giá sự hiện diện của hệ thống kiểm soát nội bộ và hướng tới mục tiêu là đảm bảo sự tuân thủ của hệ thống kiểm soát nội bộ. - Trắc nghiệm trực tiếp số dư: là cách thức kết hợp các phương pháp cân đối, phân tích, đối chiếu trực tiếp với kiểm kê, điều tra thực tế để xác định độ tin cậy của các số dư cuối kỳ ở Sổ cái ghi vào Bảng cân đối kế toán hoặc Báo cáo kết quả kinh doanh. Đây là cách thức chủ yếu KTV thu thập bằng chứng từ các nguồn độc lập, bằng chứng kiểm toán thu thập theo cách này có độ tin cậy cao. - Trắc nghiệm phân tích (thủ tục phân tích): Là cách thức xem xét các mối quan hệ kinh tế và xu hướng biến động của chỉ tiêu kinh tế thông qua việc kết hợp các phương pháp đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic, cân đối giữa trị số bằng tiền của cùng một chỉ tiêu trong những điều kiện khác hoặc giữa chỉ tiêu tổng hợp với bộ phận cấu thành. Trắc nghiệm phân tích được sử dụng ở nhiều giai đoạn trong quá trình kiểm toán. Khái quát chung về thủ tục kiểm tra chi tiết trong kiểm toán BCTC Khái niệm thủ tục kiểm tra chi tiết Khái niệm: Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp kĩ thuật cụ thể của trắc nghiệm tin cậy thuộc trắc nghiệm công việc và trắc nghiệm trực tiếp số dư để kiểm toán từng khoản mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên khoản mục hay loại nghiệp vụ. Các kĩ thuật cụ thể đó bao gồm: so sánh, tính toán, xác nhận, kiểm tra thực tế và soát xét, kiểm tra lại chứng từ, sổ sách. (Giáo trình Kiểm toán tài chính, NXB ĐH Kinh tế quốc dân, 2006). Ý nghĩa chung của thủ tục kiểm tra chi tiết trong kiểm toán BCTC: Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết HTK để đối chiếu số liệu phát sinh của các tài khoản HTK và các khoản chi phí liên quan để phát hiện những sai sót trong hạch toán HTK, đối chiếu số dư trên tài khoản HTK với số liệu kiểm kê thực tế đồng thời xem xét trên sổ theo dõi vật tư sử dụng ở phân xưởng sản xuất. KTV cũng cần có sự khảo sát xem có sự thay đổi trong việc sử dụng phương pháp tính giá của doanh nghiệp và phát hiện những sai sót trong quá trình tính toán. Các bước vận dụng thủ tục kiểm tra chi tiết trong kiểm toán BCTC Bước 1: Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết Xác định mục tiêu của các biện pháp kĩ thuật Các biện pháp kĩ thuật được lựa chọn có thể nhằm mục tiêu: Thu thập bằng chứng kiểm toán về sai phạm trong yếu các cơ sở dẫn liệu thuộc các mục tiêu kiểm toán hoặc ước tính các giá trị chênh lệch kiểm toán với những cơ sở dẫn liệu của Báo cáo tài chính đang chứa đựng khả năng sai phạm trọng yếu. Lựa chọn các khoản mục trong tổng thể Việc lựa chọn này bao gồm việc xác định số lượng các khoản mục (số lượng mẫu hay quy mô mẫu) và chọn mẫu khoản mục để kiểm toán ( mẫu chọn). Bước 2: Lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết Có thể áp dụng các biện pháp kiểm tra chi tiết với từng khoản mục trong tổng số hoặc với một nhóm những khoản mục. Nếu áp dụng các biện pháp kiểm tra chi tiết không phải với tất cả các khoản mục trong một tài khoản thì phải chấp nhận mức độ không chắc chắn của bằng chứng kiểm toán thu được. Khi không lựa chọn tất cả các khoản mục từ một tài khoản thì có thể lựa chọn một số khoản mục dựa trên cơ sở chọn điển hình những khoản mục chính hoặc chọn mẫu đại diện hoặc kết hợp cả hai. Bước 3: Lựa chọn các khoản mục chính Các khoản mục chính là các khoản mục mà dựa trên đánh giá, kinh nghiệm và sự hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng, kiểm toán viên thấy chúng là khoản mục không phát sinh thông thường, không dự đoán trước được hay dễ có sai phạm. Để lựa chọn được những khoản mục chính cần đọc những chứng từ tài liệu. Bước 4: Thực hiện các biện pháp kĩ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản mục đã chọn. Xác nhận: Bằng chứng kiểm toán thu thập được qua việc xác nhận số dư và những nghiệp vụ bên ngoài thường có tính thuyết phục cao bởi vì nó có thể xác nhận được thời điểm bắt đầu của nghiệp vụ và những hoạt động xử lý nghiệp vụ đó. Xác nhận được thực hiện bằng cách kiểm toán viên đưa ra các câu hỏi xác nhận về sự việc cần xác nhận. Nếu câu trả lời đối với câu hỏi xác nhận được lập bởi người trả lời dựa trên những hồ sơ riêng của họ thì những câu trả lời này độc lập với hồ sơ của khách hàng. Việc xác nhận phải trải qua hàng loạt bước công việc sau: Lập các câu hỏi xác nhận hay yêu cầu khách hàng lập chúng. Kiểm tra các câu hỏi xác nhận và xem xét tính chính xác của những câu hỏi này và bỏ chúng vào phong bì ghi địa chỉ của KTV để người trả lwoif xác nhận có thể phúc đáp lại. Điều tra những câu hỏi xác nhận đã gửi đi nhưng bị gửi trả lại. Thực hiện các biện pháp theo dõi thích hợp với những tài khoản không được trả lời, cân nhắc khả năng gửi thư xác nhận lần hai và lần ba. Có hai loại xác nhận: Xác nhận mở: những thư xác nhận mở yêu cầu cũng cấp thông tin chứ không yêu cầu minh chứng cho những dữ liệu do khách hàng cung cấp. Xác nhận đóng: chỉ yêu cầu trả lời đúng hoặc sai để chứng minh các dữ liệu cần xác nhận. Xác nhận đóng có hai loại tùy theo yêu cầu cần minh chứng: + Xác nhận chủ động ( Xác nhận khẳng định): Mọi thư xác nhận gửi đi đều cần được thu về không phân biệt người xác nhận có tán thành với những thông tin đưa ra hay không. + Xác nhận thụ động ( Xác nhận phủ định): Thư xác nhận gửi đi chỉ cần thu về nếu như người xác nhận không tán thành với những thông tin đưa ra. Kiểm tra thực tế: Đây là kĩ thuật được áp dụng rộng rãi trong kiểm toán tài sản nói chung và kiểm toán HTK nói riêng. Thủ tục kiểm toán bao gồm quá trình quan sát những thủ tục kiểm kê của khách hàng và trực tiếp kiểm kê chọn mẫu đối chiếu với hồ sơ kho. Chi tiết các bước công việc của quá trình kiểm kê sẽ được đề cập ở các nội dung sau. Bước 5: Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết và xử lý các chênh lệch kiểm toán Các phát hiện bao gồm các sai sót không chỉ về tài khoản mà còn về chức năng hoạt động của hệ thống KSNB, hệ thống thông tin và có thể về tính khách quan của ban giám đốc và năng lực của đội ngũ nhân viên. Các loại chênh lệch kiểm toán phân loại theo kì quyết toán gồm chênh lệch của năm trước và chênh lệch của năm nay. Khi phát hiện chênh lệch kiểm toán, kiểm toán viên cần: Điều tra tính chất và nguyên nhân của những chênh lệch: Việc này cần được thực hiện với một mức độ hoài nghi nghề nghiệp thích đáng. Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm nếu tin rằng những sai phạm là sai phạm trọng yếu trong báo cáo tài chính thì cần thực hiện những thủ tục kiểm toán khác hoặc những thủ tục kiểm toán bổ sung thích hợp, để khẳng định hay xóa bỏ những nghi ngờ về các vi phạm. Báo cáo về những chênh lệch kiểm toán cần được thực hiện ngay lập tức cho ban giám đốc và tùy thuộc vào hoàn cảnh có thể thông tin cho hội đồng quản trị. Lý luận chung về kiểm toán chu trình HTK trong kiểm toán BCTC Khái quát chung về HTK Khái niệm HTK: HTK là tài sản lưu động của doanh nghiệp biểu hiện dưới dạng vật chất cụ thể dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp và đặc điểm hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. HTK trong doanh nghiệp thương mại bao gồm: hàng hoá dự trữ cho lưu thông ( kể cả số hàng đem gửi bán hoặc là hàng hoá đang đi đường ). HTK trong doanh nghiệp sản xuất gồm: Nguyên vật liệu, Công cụ dự trữ cho quá trình sản xuất, Thành phẩm, Sản phẩm hoàn thành, Sản phẩm dở dang và Hàng gửi bán hoặc Hàng đang đi đường. Vai trò, ý nghĩa của kiểm toán HTK đối với kiểm toán BCTC: HTK ảnh hưởng trực tiếp tới giá vốn hàng bán vì vậy ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận trong năm. HTK thường chiếm tỷ trọng lớn so với tổng tài sản lưu động của doanh nghiệp bao gồm nhiều chủng loại và quá trình quản lý rất phức tạp. HTK được đánh giá thông qua số lượng chất lượng, tình trạng HTK. HTK được bảo quản cất trữ ở nhiều nới khác nhau, nhiều đối tượng quản lý khác nhau, có đăch điểm bảo quản khác nhau, điều này dẫn tới kiểm soát đối với HTK gặp nhiều khó khăn. Chu trình vận động của HTK bắt đầu từ NVL, CCDC sang SPDD rồi đến thành phẩm hàng hoá. Sự vận động của HTK ảnh hưởng tới nhiều khoản mục trên báo cáo tài chính như chi phí NVL, chi phí sản xuất chung, giá vốn hàng bán, chi phí SPDD, dự phòng giảm giá HTK… Là những chỉ tiêu thể hiện tình hình sản xuất kinh doanh, định hướng phát triển trong các doanh nghiệp sản xuất và thương mại. Khi thực hiện kiểm toán thì chu trình HTK luôn là một chu trình kiểm toán quan trọng trong kiểm toán BCTC. Chức năng của chu trình HTK: Chức năng mua hàng Khi có nhu cầu mua hàng thì các bộ phận có liên quan sẽ lập phiếu đề nghị mua hàng. Sau khi phiếu đề nghị mua hàng được phê chuẩn bộ phận cung ứng sẽ lập đơn đặt hàng và gửi cho nhà cung cấp đã lựa chọn. Chức năng nhận hàng Khi bên nhà cung cấp giao hàng bộ phận nhận hàng sẽ dựa trên đơn đặt hàng để kiểm tra về mẫu mã, số lượng, chủng loại, quy cách, phẩm chất và thời gian gia hàng, cuối cùng trưởng nhóm phải lậpbiên bản kiểm nhận hàng. Bộ phận nhận hàng phải độc lập với bộ phận kho và bộ phận kế toán. Chức năng lưu kho Hàng được chuyển tới kho và hàng sẽ được kiểm tra về chất lượng, số lượng và sau đó cho nhập kho. Mỗi khi nhập đủ kho thủ kho phải lập phiếu nhập kho và sau đó bộ phận kho phải thông báo cho phòng kế toán về số lượng hàng nhận và cho nhập kho. Chức năng xuất kho vật tư hàng hoá Đối với một đơn vị sản xuất thì xuất kho có 2 lý do cơ bản là xuất cho nội bộ ( cho sản xuất, cho quản lý doanh nghiệp ) và xuất bán. Xuất vật tư, hàng hoá cho nội bộ: Khi có hợp đồng sản xuất mới hoặc theo kế hoạch sản xuất hoặc các nhu cầu vật tư trong nội bộ doanh nghiệp các bộ phận sẽ lập phiếu xin lĩnh vật tư, bộ phận vật tư lập phiếu xuất kho (khi phiếu xin lĩnh vật tư được phê chuẩn ). Xuất khi để bán: Căn cứ vào đơn đặt mua bộ phận tiêu thụ lập hoá đơn bán hàng và lập phiếu xuất kho, ngoài ra bộ phận vận chuyển phải lập chứng từ vận chuyển. Chức năng sản xuất Kế hoạch và lịch trình sản xuất được xây dựng dựa vào các ước toán về nhu cầu đối với sản phẩm của Công ty cũng như dựa vào tình hình thực tế HTK hiện có. Do vậy chức năng này có thể bảo đảm rằng Công ty sẽ sản xuất những hàng hoá đáp ứng nhu cầu của khách hàng, tránh tình trạng ứ đọng hàng hoá hoặc khó tiêu thụ đối với một số hàng hoá cụ thể. Việc sản xuất theo kế hoạch và lịch trình có thể giúp Công ty bảo đảm về việc chuẩn bị đầy đủ các yếu tố như nguyên vật liệu và nhân công cho yêu cầu sản xuất trong kỳ. Trách nhiệm với hàng hóa trong giai đoạn sản xuất thuộc về những người giám sát sản xuất. NVL được chuyển tới phân xưởng cho tới khi các sản phẩm được hoàn thành và được chuyển vào kho sản phẩm thì người giám sát sản xuất được phân công theo dõi phải có trách nhiệm kiểm soát và nắm chắc tất cả tình hình trong quá trình sản xuất. Các chứng từ sổ sách được sử dụng chủ yếu để ghi chép và theo dõi gồm các phiếu yêu cầu sử dụng, phiếu xuất kho, bảng chấm công, các bảng kê, bảng phân bổ và hệ thống sổ sách kế toán chi phí. Lưu kho thành phẩm Đây là chức năng nhằm bảo quản và quản lý tài sản của doanh nghiệp khi vật tư, hàng hoá, thành phẩm được nhập kho. Công việc này doanh nghiệp phải tổ chức canh phòng bảo vệ tránh mất mát, tránh bị lạm dụng tài sản, đồng thời sử dụng các trang thiết bị bảo quản nhằm đảm bảo điều kiện bảo quản vật chất. Khi nhập kho hay xuất kho các bên phải có đầy đủ các giấy tờ hợp lệ thủ kho mới được nhập, xuất kho. Mặt khác thủ kho là người chịu trách nhiệm về tài sản mình trông coi và phải ghi chép để theo dõi về số lượng vật tư, hàng hoá, thành phẩm nhập – xuất – tồn kho. Xuất thành phẩm đi tiêu thụ Xuất thành phẩm chỉ được thực hiện khi đã nhận được sự phê chuẩn, thường là đơn đặt mua hàng của khách hàng. Khi xuất kho thành phẩm phải lập phiếu xuất kho. Bộ phận vận chuyểnphải lập phiếu vận chuyển hàng có đánh số thứ tự từ trước và chỉ rõ hàng hoá được vận chuyển. Phiếu vận chuyển hàng được lập thành ba liên, liên thứ nhất được lập tại phòng tiếp vận để làm chứng từ minh chứng về việc vận chuyển, liên thứ hai được sẽ được gửi tới phòng tiêu thụ hoặc bộ phận tính tiền kèm theo. Đơn đặt mua của khách hàng để làm căn cứ ghi hoá đơn cho khách hàng và liên thứ ba sẽ được đính kèm bên ngoài bao kiện của hàng hoá trong quá trình vận chuyển. Hoạt động kiểm soát này sẽ giúp cho khách hàng kiểm tra được phiếu vận chuyển hàng gắn trên bao kiện hàng nhằm xác định xem có sự khác biệt gì giữa số hàng đặt mua với số hàng thực nhận không. Trong trường hợp hàng hoá được vân chuyển thuê bởi một Công ty tiếp vận thì phiếu vận chuyển sẽ được lập thêm một thứ liên thứ tư, liên này sẽ được giao cho bên cung cấp dịch vụ vận chuyển để làm căn cứ tính cước phí. Hệ thống sổ sách, chứng từ HTK: Trong kiểm toán chu trình HTK, hệ thống sổ sách chứng từ HTK bao gồm: - Hệ thống sổ kế toán chi tiết cho HTK. - Sự ảnh hưởng của phương pháp kế toán HTK. - Hệ thống kế toán chi phí và tình giá thành sản phảm. - Hệ thồng các báo cáo và sổ sách liên quan tới chi phí tính giá thành sản phẩm bao gồm các báo cáo sản xuất, báo cáo sản phẩm hỏng kể cả báo cáo thiệt hại do ngừng sản xuất. - Hệ thống sổ sách kế toán chi phí: sổ cái, bảng phân bổ, báo cáo tổng hợp, nguyên vật liệu, nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung.. HTK với vấn đề kiểm toán Mục tiêu kiểm toán đối với chu trình HTK Mục tiêu hợp lý chung. Mục tiêu hợp lý chung bao hàm việc xem xét, đánh giá tổng thể số tiền ghi trên các khoản mục trên cơ sở cam kết chung về trách nhiệm của nhà quản lý và thực hiện thu được qua khảo sát thực tế ở khách thể kiểm toán. Do đó đánh giá sự hợp lý chung hướng tới khả năng sai sót cụ thể của các số tiền trên khoản mục ( theo giá trình Kiểm toán tài chính ). Đối với chu trình HTK có thể cụ thể hoá kho và bảng cân đối kế toán hay Các số dư HTK trên bảng CĐKT và bảng liệt kê HTK là hợp lý. Mục tiêu chung khác . Trong mục tiêu chung khác bao gồm: Mục tiêu hiệu lực, mục tiêu trọn vẹn, mục tiêu quyền và nghĩa vụ, mục tiêu đánh giá và phân bổ, mục tiêu chính xác cơ học và mục tiêu phân loại và trình bày. Các mục tiêu này được cụ thể hoá cho chu trình HTK: - Tất cả HTK ghi trên sổ đều tồn tại thực tế vào ngày lập bảng CĐKT (hiệu lực). - Mọi hàng hoá, tài sản tồn kho đều bao hàm trong Bảng CĐKT (trọn vẹn). - Các tài sản ghi trong mục HTK thuộc quyền sở hữu của đơn vị và không thuộc tài sản thế chấp, cầm cố hoặc tạm vay (Quyền và nghĩa vụ) + Giá trị HTK phù hợp với hiện vật. + Giá cả hàng hoá được tính theo giá thực tế. Các lần điều chỉnh giá được phản ánh đúng và hàng hoá mất giá được điều chỉnh ( định giá và phân loại ). - Số tổng cộng các khoản mục HTK ( tính chính xác cơ học ). + Phân loại đúng HTK theo các nhóm: Nguyên vật liệu, công trình dở dang, thành phẩm và chi tiết theo quy định. + Thuyết trình rõ các hàng hoá cầm cố, chuyển nhượng,
Tài liệu liên quan