Đề tài Đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trong tiến trình hội nhập quốc tế

Năng lượng nói chung và năng lượng dầu khí nói riêng là nhân tố rất quan trọng đóng góp cho sự phát triển bền vững đối với mọi quốc gia. Ngày nay để đảm bảo cung cầu của bất kỳ một loại hàng hóa nào đó kể cả năng lượng, hầu hết các quốc gia đều thông qua hoạt động của thị trường. Vì tính quan trọng và thiết yếu của dầu khí, nên vấn đề cung cầu của nó luôn được sự quan tâm và chi phối của các chính phủ trên thế giới. Sau hơn hai thập niên song hành cùng tăng trưởng kinh tế, lượng dầu khí được sử dụng ở Việt Nam không ngừng tăng nhanh và xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong nhiều năm tới. Từ khi chuyển đổi mô hình kinh tế vào đầu thập niên 90, Việt Nam luôn giữ được mức tăng trưởng kinh tế cao, nhưng không mang tính bền vững. Giá dầu thô thế giới hiện nay luôn có xu hướng tăng cao, theo dự báo của IEA giá dầu thô sẽ tăng lên 215 USD/ thùng vào năm 2035 (năm 2011 chỉ là 125 USD/ thùng). Trong khi đó nguồn cung dầu khí thế giới ngày nay thường xuyên bị đe dọa vì những nguyên nhân sau: tài nguyên này đang dần cạn kiệt; sự độc quyền của OPEC và các công ty dầu khí đa quốc gia; bất ổn về địa chính trị tại các nơi có trữ lượng dầu khí cao v.v

pdf24 trang | Chia sẻ: hongden | Lượt xem: 1319 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trong tiến trình hội nhập quốc tế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Năng lượng nói chung và năng lượng dầu khí nói riêng là nhân tố rất quan trọng đóng góp cho sự phát triển bền vững đối với mọi quốc gia. Ngày nay để đảm bảo cung cầu của bất kỳ một loại hàng hóa nào đó kể cả năng lượng, hầu hết các quốc gia đều thông qua hoạt động của thị trường. Vì tính quan trọng và thiết yếu của dầu khí, nên vấn đề cung cầu của nó luôn được sự quan tâm và chi phối của các chính phủ trên thế giới. Sau hơn hai thập niên song hành cùng tăng trưởng kinh tế, lượng dầu khí được sử dụng ở Việt Nam không ngừng tăng nhanh và xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục trong nhiều năm tới. Từ khi chuyển đổi mô hình kinh tế vào đầu thập niên 90, Việt Nam luôn giữ được mức tăng trưởng kinh tế cao, nhưng không mang tính bền vững. Giá dầu thô thế giới hiện nay luôn có xu hướng tăng cao, theo dự báo của IEA giá dầu thô sẽ tăng lên 215 USD/ thùng vào năm 2035 (năm 2011 chỉ là 125 USD/ thùng). Trong khi đó nguồn cung dầu khí thế giới ngày nay thường xuyên bị đe dọa vì những nguyên nhân sau: tài nguyên này đang dần cạn kiệt; sự độc quyền của OPEC và các công ty dầu khí đa quốc gia; bất ổn về địa chính trị tại các nơi có trữ lượng dầu khí cao v.v Trong bối cảnh hội nhập sâu vào kinh tế thế giới, thì những khó khăn mang tính toàn cầu sẽ tác động càng mạnh mẽ đến kinh tế trong nước đặc biệt là ngành dầu khí, lĩnh vực mà hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 2/3 lượng xăng dầu và khí sử dụng (trước năm 2009 là gần 100%). Việt Nam là một quốc gia có trữ lượng dầu khí thuộc loại khá, nhưng các mỏ có trữ lượng lớn khai thác mạnh trước đây nay dần cạn kiệt, trong khi các mỏ mới phát hiện lại khó khai thác vì vấn đề tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc. Trong khi đó việc sử dụng năng lượng nói chung và dầu khí nói riêng ở Việt Nam còn rất lãng phí và kém hiệu 2 quả. Nếu thực trạng cung cầu dầu khí nêu trên vẫn tiếp diễn, thì nguy cơ thiếu hụt năng lượng dầu khí để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ sớm thành hiện thực ! Vì những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trong tiến trình hội nhập quốc tế ” làm luận án tiến sĩ. 2. Mục đích nghiên cứu của luận án Từ cách đặt vấn đề, các câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm: 1. Ước lượng các hệ số co giãn cầu dầu khí nói chung và một số sản phẩm quan trọng (xăng, dầu DO và dầu FO) ở Việt Nam theo thu nhập bình quân đầu người và giá dầu khí thế giới ? Dự báo nhu cầu sử dụng dầu khí ở Việt Nam đến năm 2030 ? Ước lượng hệ số co giãn cung dầu khí ở Việt Nam theo giá dầu khí thế giới ? 2. Thực trạng cung cầu dầu khí ở Việt Nam hiện nay ? Khả năng sản xuất dầu khí của Việt Nam có đảm bảo cho nhu cầu tăng trưởng kinh tế từ nay đến năm 2030 ? 3. Những mục tiêu và giải pháp cần thực hiện để đảm bảo cung cầu năng lượng dầu khí cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam ? 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án Luận án tập trung nghiên cứu cung và cầu năng lượng dầu khí và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu của luận án: không gian nghiên cứu của luận án là toàn bộ nền kinh tế Việt Nam và thời gian nghiên cứu từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước đến năm 2013. Luận án chỉ tập trung nghiên cứu đến dầu khí và một phần về nhiên liệu sinh học (trong vai trò nhiên liệu thay thế dầu khí), mà không nghiên cứu sâu vào các nguồn năng lượng khác. 4. Những điểm mới và ý nghĩa của luận án 3 Nhìn chung cho đến nay những nghiên cứu về đề tài năng lượng của Việt Nam chưa nhiều, đặc biệt là của các tác giả trong nước. So với các nghiên cứu trước, luận án sẽ có điểm khác biệt cơ bản là về cách tiếp cận, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Nếu luận án này được bảo vệ thành công, những đóng góp mới: Về mặt lý luận, lượng hóa mối quan hệ giữa năng lượng dầu khí sử dụng và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, theo khung lý thuyết cầu và tăng trưởng kinh tế. Các kết quả ước lượng hệ số co giãn cầu và cung là cơ sở cho những nghiên cứu về năng lượng dầu khí ở Việt Nam. Về mặt thực tiễn, đóng góp của luận án là hỗ trợ cho các nhà hoạch định, có cơ sở khoa học để xem xét và ban hành các chính sách liên quan đến vấn đề đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí ở Việt Nam. 5. Kết cấu của luận án Mở đầu Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết về đảm bảo năng lượng dầu khí cho tăng trưởng kinh tế Chương 3: Thực trạng đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua. Chương 4: Giải pháp đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đến năm 2030. Kết luận Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4 Đề tài nghiên cứu của luận án liên quan đến 2 vấn đề chính: (i) xây dựng và lựa chọn mô hình để dự báo nhu cầu sử dụng dầu khí ở Việt Nam (ii) phân tích thực trạng cung cầu dầu khí ở Việt Nam trong những năm qua kết hợp với các kết quả dự báo cung và cầu, đưa ra các giải pháp thực hiện để đảm bảo nhu cầu dầu khí cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Tổng quan về những nghiên cứu dự báo nhu cầu dầu khí của các quốc gia, nhiều chuyên gia trên thế giới sử dụng mô hình hồi quy đa biến để ước lượng các hệ số co giãn cầu dầu khí, từ đó dự báo nhu cầu dầu khí theo GDP bình quân theo đầu người và giá. Mô hình hồi quy có dạng : ln ln lnc ct t t tE a b Y c P e ( I ); với E c t : lượng dầu khí sử dụng tính theo đầu người trong năm t; Yct : tổng sản phẩm quốc nội theo đầu người trong năm t ; Pt : giá bình quân của các sản phẩm dầu khí chủ yếu trong năm t; et : phần dư . Mô hình kinh tế lượng nêu trên đã được nhiều chuyên gia, tiêu biểu là Subhes C. Bhattacharyya và Andon Blake (2009); Dermot Gately và Hillard G. Huntington (2001); Masayasu Ishiguro và Takamasa Akiyama (1995) sử dụng để nghiên cứu về cầu dầu khí và các loại xăng dầu cụ thể tại nhiều quốc gia, trong từng lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, hộ gia đình và dịch vụ thương mại. Kế thừa kinh nghiệm của các chuyên gia, trong luận án tác giả cũng sử dụng mô hình trên để dự báo nhu cầu năng lượng dầu khí ở Việt Nam. Công trình nghiên cứu của Tien Minh Do và Deepak Sharma (2011), “ Vietnam’s energy sector: A review of current energy policies and strategies ” dự báo đến năm 2025 nhu cầu về xăng dầu của Việt Nam là 43,7 triệu tấn (bình quân 877.939 thùng/ngày) khả năng sản xuất trong nước 19,9 triệu tấn (bình quân 399.794 thùng/ngày). Theo dự báo này đến năm 2025, Việt Nam vẫn tiếp tục phụ thuộc vào nhập khẩu xăng dầu. 5 Tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2011) Viện Năng lượng – Bộ Công Thương Việt Nam trong tài liệu nghiên cứu “ Một số giải pháp về an ninh năng lượng Việt Nam ” dự báo khả năng sản xuất dầu khí của Việt Nam vào năm 2020 là 32,486 triệu tấn (bình quân 652.648 thùng/ngày). Để đảm bảo an ninh năng lượng tác giả Nguyễn Anh Tuấn đã đề xuất 5 giải pháp. Công trình nghiên cứu của Asia Pacific Energy Research Centre (2009), “ APEC Energy Demand and Supply ” dự báo trong giai đoạn 2005 – 2030 ở Việt Nam tỉ lệ tăng nhu cầu sử dụng năng lượng bình quân theo đầu người mỗi năm 3,4%. Theo công trình nghiên cứu “ Energy Sector Situation in Vietnam ” của Shinji Omoteyama (2009), thuộc Viện nghiên cứu kinh tế năng lượng của Nhật Bản, nếu tính quy đổi tương đương và bù trừ giữa lượng xuất khẩu dầu thô và lượng xăng dầu nhập khẩu để sử dụng trong giai đoạn 1990 – 2014, thì Việt Nam là quốc gia xuất khẩu ròng dầu mỏ cho đến năm 2015, sau đó sẽ phải nhập khẩu ròng dầu mỏ. 2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Phương pháp luận nghiên cứu theo kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc về các vấn đề của lý thuyết cung cầu dầu khí (hàng hoá thiết yếu và không tái tạo), lý thuyết tăng trưởng (với năng lượng là một trong những nhân tố đầu vào quan trọng của sản xuất). Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng để ước lượng các hệ số co giãn cung cầu dầu khí ở Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để phân tích những vấn đề: (i) đánh giá thực trạng sử dụng năng lượng; (ii) thực trạng cung cầu dầu khí ở Việt Nam và (iii) những tác động của Chính phủ đến thị trường xăng dầu và khí ở Việt Nam. Từ các kết quả phân tích và dự báo sẽ kiến nghị giải pháp để đảm bảo nhu cầu sử dụng dầu khí cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết về đảm bảo năng lượng dầu khí cho tăng trưởng kinh tế Theo các lý thuyết kinh tế học hiện đại và thực tế của thế giới cho thấy, để đảm bảo cung cầu của bất kỳ một loại hàng hóa nào đó kể cả năng lượng, hầu hết các quốc gia đều thông qua hoạt động của thị trường. Tuy nhiên do thị trường năng lượng dầu khí ở hầu hết các quốc gia đều gặp những vấn đề như độc quyền, ô nhiễm môi trường khi sử dụng nên việc can thiệp của chính phủ là rất cần thiết. Ngoài ra vì dầu khí là nguồn năng lượng rất quan trọng, là đầu vào không thể thiếu của các hoạt động kinh tế, nên vấn đề định giá bán, trợ cấp và thuế đánh vào xăng dầu luôn là mối quan tâm của hầu hết chính phủ các quốc gia. Do đó cơ sở lý thuyết để tác giả vận dụng trong luận án này chính là lý thuyết phân tích cung cầu và những tác động của chính phủ đối với thị trường dầu khí, đặc biệt là những vấn đề ảnh hưởng đến cung và cầu như: kiểm soát giá, trợ cấp và thuế. Những kinh nghiệm Việt Nam cần học hỏi ở các nước ( Hoa Kỳ, Nhật, Trung Quốc và Indonesia ) để đảm bảo nhu cầu dầu khí cho tăng trưởng kinh tế là: (i) sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng nói chung và dầu khí nói riêng; (ii) nhanh chóng xoá bỏ trợ cấp xăng dầu; (iii) xây dựng và tạo nguồn cung ổn định dầu thô và các sản phẩm dầu mỏ; (iv) xây dựng thị trường xăng dầu trong nước cạnh tranh. Các mô hinh để ước lượng các hệ số co giãn cầu dầu khí ở Việt Nam và lượng hóa mối quan hệ giữa năng lượng dầu khí sử dụng và tăng trưởng kinh tế: 1. Mô hình lượng hóa theo cơ sở của lý thuyết cầu ln( ) ln ln( ) ln( )c ct t t tE a b Y c P e ( I ) mô hình tĩnh 7 1ln( ) ln ln( ) ln( ) ln( ) c c c t t t t tE a b Y c P d E e ( II ) mô hình động E c t , E c t-1 lượng dầu khí sử dụng tính theo bình quân đầu người năm thứ t, (t-1); Y c t: GDP/ người (giá trị thực) ở Việt Nam tại năm thứ t;Pt: giá bán FOB bình quân (xăng, DO, FO) tại năm thứ t ở thị trường Singapore. 2. Mô hình lượng hóa theo cơ sở của lý thuyết tăng trưởng ln( ) ln ln( ) ln( ) ln( )t t t t tY a b K c L d E e ( III ) Yt ,Kt ,Lt tổng sản phẩm quốc nội, tổng vốn đầu tư, lượng lao động năm t. Et tổng lượng dầu khí sử dụng trong năm t. b, c, d : hệ số co giãn của Y theo K, L, E. 3. Mô hình lượng hóa mối quan hệ giữa năng lượng dầu khí sử dụng và tăng trưởng xanh dầu khí ,ln( ) ln ln( ) ln( ) c c t g t t tE a b Y c P e ( IV ) Y c gt: GDP xanh dầu khí/ người ở Việt Nam tại năm thứ t. GDP xanh dầu khí = GDP - chi phí tiêu dùng tài nguyên dầu khí và mất mát về môi trường do sử dụng dầu khí. Chương 3: Thực trạng đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua 3.1 Tình hình sử dụng năng lượng của Việt Nam Xét cường độ năng lượng theo chỉ số E/Y, hàm lượng năng lượng trong 1$ (2005) của Việt Nam cao thứ nhì trong các quốc gia so sánh, chỉ sau Trung Quốc (được ví là một công xưởng của thế giới). Nghĩa là để tạo ra cùng một giá trị GDP (1$), Việt Nam phải hao tốn năng lượng hơn Thái Lan 22,0%; Malaysia 44,4%; Singapore 27,3%. Xét cường độ năng lượng theo chỉ số E/N mức độ trang bị năng lượng cho lao động, Việt Nam ở mức thấp nhất trong các quốc gia so sánh. Người lao động Việt Nam ít được trang bị năng lượng so với nhiều quốc gia khác trong khu vực, lao động 8 phụ thuộc nhiều vào sức lực con người, do vậy năng suất lao động rõ ràng kém hơn. Như vậy qua so sánh các chỉ số về cường độ năng lượng cho thấy thực trạng sử dụng năng lượng của Việt Nam hiện nay là kém hiệu quả và lãng phí rất nhiều so với các nước trong khu vực. Do đó trong tương lai Việt Nam cần thực hiện mục tiêu sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả. 3.2 Kiểm định mô hình và dự báo nhu cầu sử dụng năng lượng dầu khí ở Việt Nam 3.2.1 Kết quả kiểm định và ước lượng các hệ số của mô hình (I) và (II) ln( ) 2,467 0,613ln( ) 0,136ln( )c ct t t tE Y P e ( I ) 1ln( ) 0,409 0,163ln( ) 0,043ln( ) 0,710ln( ) c c c t t t t tE Y P E e ( II ) So sánh kết quả kiểm định và ước lượng hệ số co giãn cầu dầu khí của Việt Nam trong cả 2 mô hình tĩnh và động là tương đồng với các kết quả nghiên cứu của thế giới trước đó. Như vậy, từ kết quả kiểm định và ước lượng cho thấy trong giai đoạn 1990 – 2012, cầu dầu khí ở Việt Nam theo thu nhập và giá thế giới phù hợp với lý thuyết cầu. Cụ thể, (i) cầu đồng biến với thu nhập, và nghịch biến với giá thế giới; (ii) cầu theo thu nhập và giá trong dài hạn và ngắn hạn đều không co giãn, nhưng xét chi tiết thì cầu trong dài hạn co giãn nhiều hơn. Theo dự báo của APEC trong giai đoạn từ 2005 – 2030, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam sẽ tăng bình quân 5%/ năm [43, p. 22], từ kết quả ước lượng hệ số co giãn cầu dầu khí theo thu nhập (0,613) có thể dự báo nhu cầu sử dụng dầu khí bình quân theo đầu người ở Việt Nam sẽ tăng khoảng 3,1%/ năm. Kết quả này cũng phù hợp với tài liệu nghiên cứu của APEC dự báo nhu cầu sử dụng năng lượng của Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2030 tăng bình quân khoảng 3,4%/ năm. Kiểm định và ước lượng các hệ số co giãn của mô hình ( III ) 9 ln( ) 13,863 0,685ln( ) 2,015ln( ) 0,232ln( )t t t t tY K L E e (III) Theo kết quả kiểm định mô hình (III) trong giai đoạn 1990 – 2012 hệ số co giãn của GDP theo năng lượng dầu khí sử dụng ở Việt Nam có giá trị âm, nghĩa là ở Việt Nam tỉ lệ sử dụng dầu khí vẫn gia tăng mặc dù có suy giảm tăng trưởng kinh tế. Từ kết quả này và kết quả so sánh cường độ năng lượng của Việt Nam và các nước trong khu vực, cho thấy việc sử dụng năng lượng dầu khí ở Việt Nam rất lãng phí và kém hiệu quả. Kiểm định và ước lượng các hệ số co giãn của mô hình ( IV ) ln( ) 1,757 0,615ln( ) 0,136ln( )c ct t t tE Y P e ( IV ) Kiểm định mô hình tăng trưởng xanh dầu khí cho thấy, hệ số co giãn cầu dầu khí của Việt Nam theo thu nhập và giá gần như không đổi so với khi không tính chi phí sử dụng quá mức tài nguyên và chi phí xử lý ô nhiễm do sử dụng dầu khí, mặc dù tổng các chi phí này bình quân hàng năm chiếm khoảng 2,1% GDP trong giai đoạn 1991 – 2012. 3.2.2 Kiểm định và ước lượng hệ số co giãn một số sản phẩm dầu khí thông dụng Kết quả kiểm định mô hình đối với một số sản phẩm dầu khí quan trọng, cho thấy hệ số co giãn cầu của xăng, DO, FO theo thu nhập nhỏ hơn 1 cho thấy đây là những loại nhiên liệu thiết yếu. Hệ số co giãn cầu xăng theo giá ở Việt Nam mang giá trị dương, trong giai đoạn 1990 – 2010 cho thấy Chính phủ đã có sự kiềm giữ và trợ cấp khá mạnh nên giá xăng trong nước thường thấp hơn so với giá thế giới và các quốc gia láng giềng. 3.3 Cung năng lượng dầu khí ở Việt Nam Hiện nay đối với đa số các quốc gia trên thế giới, năng lượng dầu khí được cung cấp chủ yếu từ 2 nguồn: sản xuất trong nước và nhập khẩu. Để sản xuất các sản phẩm xăng dầu, một quốc gia cần phải có các nhà máy 10 lọc hoá dầu và nguồn nguyên liệu dầu thô. Để có nguyên liệu dầu thô, phải khai thác các mỏ dầu khí trong nước, hoặc mua nguyên liệu từ các quốc gia khác, hoặc sử dụng nguyên liệu trong nước kết hợp mua của các quốc gia khác. Ngoài 2 nguồn cung nêu trên, đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển còn có một nguồn cung quan trọng khác để bổ sung, đó là: kho dự trữ dầu khí chiến lược của quốc gia, chỉ được sử dụng trong một số trường hợp rất quan trọng như: chiến tranh, thiên tai nặng nề với phạm vi rộng lớn, khủng hoảng năng lượng trên toàn cầu. 3.3.1 Phân tích tình hình cung năng lượng dầu khí ở Việt Nam Mặc dù đã khai thác được dầu thô từ năm 1986, nhưng đến năm 2005 Việt Nam mới có nhà máy chế biến khí thiên nhiên hoá lỏng Dinh Cố (Bà Rịa – Vũng Tàu) với công suất khoảng 20.000 thùng/ngày. Mãi đến năm 2009 nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam, Bình Sơn (Dung Quất – Quảng Ngãi) bắt đầu sản xuất thử nghiệm và năm 2010 chính thức cung cấp các sản phẩm xăng dầu cho thị trường trong nước với công suất sản xuất khoảng 140.000 thùng/ ngày (tương đương 6,5 triệu tấn/ năm). Hiện nay Việt Nam vẫn chưa có hệ thống kho dầu khí dự trữ chiến lược quốc gia, dự trữ xăng dầu của Việt Nam chủ yếu là hình thức dự trữ thương mại (tại kho của các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu) và cho quốc phòng (tại các kho của quân đội) với tổng mức dự trữ không cao. Năm 2010 lượng cung từ sản xuất trong nước đáp ứng khoảng 1/3 nhu cầu sử dụng xăng dầu và khí, đây là tỉ lệ cao nhất có thể đạt được trong giai đoạn hiện nay. Việt Nam đang chuẩn bị xây dựng các nhà máy lọc hoá dầu số 2 (Nghi Sơn – Thanh Hoá) và số 3 (Long Sơn – Bà Rịa, Vũng Tàu), nếu tiến độ xây dựng vẫn rất chậm chạp như khi xây dựng nhà máy lọc hoá dầu số 1, thì khả năng cung ứng xăng dầu và khí từ sản xuất trong nước khó được nâng lên, 11 điều này sẽ khiến cho cung xăng dầu và khí của Việt Nam tiếp tục phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu trong hơn một thập niên nữa. 3.3.2 Đánh giá trữ lượng tài nguyên dầu khí của Việt Nam Theo đánh giá mới nhất của EIA mức trữ lượng của Việt Nam được nâng lên đáng kể là 4,4 tỉ thùng, đứng hạng 3 trong các quốc gia ở châu Á – Thái Bình Dương sau Trung Quốc, Ấn Độ. Trữ lượng khí thiên nhiên của Việt Nam cũng khá dồi dào là 24,7 ngàn tỉ cf3, nếu tính quy đổi tương đương khoảng 4,38 tỉ thùng dầu. Theo kết quả dự báo tỉ lệ tăng hàng năm nhu cầu sử dụng dầu khí bình quân đầu người ở Việt Nam là 3,1% và giả sử tỉ lệ tăng dân số 1%/ năm, dự kiến thời gian sử dụng cạn kiệt trữ lượng là 104 năm (đến đầu năm 2114), nếu chỉ tính riêng dầu mỏ thì 87 năm (đến giữa năm 2097). 3.3.3 Ước lượng hệ số co giãn cung dầu khí ở Việt Nam Nhận xét các kết quả ước lượng cung: hệ số cung dầu khí theo giá ở Việt Nam rất ít co giãn. Trong dài hạn cung co giãn hơn so với ngắn hạn. Đánh giá chung mặc dù đều rất ít co giãn, nhưng xét chi tiết trong nhiều giai đoạn thì cầu dầu khí ở Việt Nam ít co giãn hơn cung. Nhận định quan trọng này cho thấy gánh nặng về thuế trong dầu khí nghiêng nhiều về phía cầu (người tiêu dùng). 3.4 Thị trường xăng dầu và khí ở Việt Nam 3.4.1 Thị trường khí ở Việt Nam Thị trường tiêu thụ khí trong nước bao gồm 2 thị trường bộ phận: (i) thị trường tiêu thụ LPG tại hộ gia đình và cơ sở sản xuất; (ii) thị trường tiêu thụ tại các nhà máy điện khí, tiêu thụ khí thiên nhiên (NGL), khí đồng hành và khí dầu mỏ hóa lỏng đang trong giai đoạn phát triển. 3.4.2 Thị trường xăng dầu ở Việt Nam 12 Khiếm khuyết lớn nhất của thị trường xăng dầu Việt Nam là tình trạng độc quyền nhóm và khả năng cạnh tranh với nhau về giá bán lẻ. Để thị trường xăng dầu Việt Nam thực sự cạnh tranh, Chính phủ cần tái cấu trúc lại thị trường xăng dầu, tăng cường kiểm soát độc quyền nhóm và thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau về giá bán lẻ. 3.5 Những ảnh hưởng do sự can thiệp của chính phủ đến thị trường xăng dầu ở Việt Nam Việc quản lý thị trường xăng dầu của Chính phủ thời gian qua có nhiều bất hợp lý, gây thiệt hại cho người tiêu dùng nói riêng nền kinh tế nói chung, đặc biệt trong các vấn đề quan trọng như: kiểm soát và điều tiết giá; trợ cấp giá xăng dầu và thuế phí xăng dầu. 3.5.1 Kiểm soát và điều tiết giá bán lẻ xăng dầu Sau khi không còn sử dụng ngân sách để trợ cấp giá, Chính phủ thường áp dụng biện pháp giá trần - giá sàn để lấy lãi thời kỳ sau, bù cho thời kỳ trước. Hạn chế của chính sách này là khó xác định được mức lãi, lỗ của các thời kỳ, vì vậy việc bù lỗ khó thực hiện công bằng cho cả người tiêu dùng