Đề tài Nợ nước ngoài ở Việt Nam -Thực trạng và giải pháp

Trong những năm qua nước ta liên tục đạt được tốc độtăng trưởng kinh tếcao, đó không chỉdựa vào yếu tốnội sinh, màcòn cósựtác động của yếu tốbên ngoài. Để đạt được tốc độtăng trưởng cao trong điều kiện tiết kiệm trong nước còn hạn chế, các nước đang phát triển thường thu hút các nguồn vốn nước ngoài bằng nhiều cách khác nhau, trong đóvay nợlàmột phương thức phổbiến. Vay nợnước ngoài bao gồm vay nợdưới hình thức vay vốn hỗtrợphát triển chính thức (ODA) cótính chất ưu đãi và vay thương mại theo các điều kiện thịtrường. Chính nguồn vốn bổsung từbên ngoài đãgiúp nhiều quốc gia khắc phục tình trạng chậm phát triển vàchuyển sang phát triển bền vững. Nợnước ngoài phải được sửdụng một cách cóhiệu quả để đáp ứng các nhu cầu đầu tư, đồng thời phải thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng, nhằm tạo nguồn vốn trảnợ, đảm bảo phát triển kinh tếbền vững. Tuy nhiên, cũng cókhông ít quốc gia không những không cải thiện được một cách đáng kểtình hình kinh tếmàcòn lâm vào tình trạng nợnần, khủng hoảng nợvàkinh tếsuy thoái. Nguyên nhân của những thất bại trong việc vay nợnước ngoài cũng córất nhiều, trong đóphải kể đến buông lỏng quản lýnợnước ngoài. Chính vìvậy chính sách quản lýnợnước ngoài làmột bộphận thiết yếu trong chính sách tài chính quốc gia. Vấn đềquản lýnợnước ngoài ởViệt Nam chỉthực sựbắt đầu từnăm 1993 khi nước ta chính thức thiết lập lại quan hệhợp tác đa phương với các tổchức tín dụng lớn trên thếgiới nhưNgân hàng Thếgiới (WB), QuỹTiền tệThếgiới (IMF) vàNgân hàng Phát triển Châu Á(ADB). Song, cũng từ đócác cam kết hỗtrợvốnODA của các nước công nghiệp phát triển vàcác tổchức tín dụng quốc tếcho nước ta ngày càng tăng dần vềsốlượng vay, sốkhoản vay, tính đa dạng của hình thức vay vàtrảnợ, vìthếviệc theo dõi vàquản lýnợnước ngoài cũng trởnên ngày càng bức thiết. Tính cấp thiết của việc đổi mới quản lýnợnước ngoài cũng xuất phát từviệc tăng cường hội nhập của nền kinh tếViệt Nam vàquátrình toàn cầu hoá. Năm 2006, nước ta chính thức gia nhậpTổchức Thương mại Thếgiới (WTO), đánh dấu một cột mốc quan trọng vào quátrình hội nhập quốc tếsâu, rộng của nước ta. Tăng cường hội nhập với nền kinh tếthịtrường toàn cầu, đặc biệt làcác cam kết mởcửa dịch vụtài chính của Chính phủ, sẽ đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam khảnăng tiếp cận với các nguồn tín dụng quốc tế.

pdf70 trang | Chia sẻ: maiphuong | Lượt xem: 1653 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Nợ nước ngoài ở Việt Nam -Thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 MỤC LỤC trang PHẨN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.........................................................................................3 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU...................................................4 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................................4 4. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI ......................................................................................4 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM................................................................................................................5 1.1. TỔNG QUAN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI .............................................................5 1.1.1. Định nghĩa về nợ nước ngoài..........................................................................5 1.1.2. Phân loại nợ nước ngoài .................................................................................6 1.1.3. Phân loại các nước theo mức độ nợ nước ngoài ..............................................7 1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài ...............................................................8 1.1.5. Vai trò của nợ nước ngoài ..............................................................................9 1.2. KHỦNG HOẢNG NỢ VÀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI ................10 1.2.1. Định nghĩa về khủng hoảng nợ .....................................................................10 1.2.2. Việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam.......................................................11 1.3. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM ................14 1.3.1. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nợ nước ngoài ...........................................14 1.3.2. Bài học kinh nghiệm cho việc Việt Nam trong việc vay và quản lý nợ quốc tế ......................................................................................................................16 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1........................................................................................18 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM..............................................................................................................19 2.1. TÌNH HÌNH VAY NỢ VAY NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM ...................19 2.1.1. Các phương thức vay nợ chủ yếu của Việt Nam ...........................................19 2.1.2. Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam .................................................23 2.2. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM ....................26 2.2.1. Cơ chế quản lý nợ ........................................................................................26 2.2.2. Đánh giá về tình hình nợ nước ngoài tại Việt Nam ......................................27 2.2.3. Hiệu quả sử dụng nợ vay ..............................................................................29 2.3. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM ....31 2.3.1. Những thành tựu nổi bật của công tác quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam....31 2.3.2. Một số tồn tại trong quản lý nợ nước ngoài ..................................................32 2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại ....................................................................35 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2........................................................................................37 CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT VÀ QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM..................................................38 3.1. CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN NỢ VAY NƯỚC NGOÀI ....................................................................................................................38 2 3.1.1. Đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững .......................................38 3.1.2. Gia tăng dự trữ ngoại hối..............................................................................38 3.1.3. Gia tăng dự trữ ngoại hối..............................................................................39 3.2. CÁC GIẢI PHÁP LÀM GIẢM CHI PHÍ VAY NỢ .......................................40 3.2.1. Chính sách tỷ giá hối đoái ............................................................................40 3.2.2. Ổn định lạm phát ..........................................................................................40 3.2.3. Thay đổi hình ảnh Việt Nam trên thị trường thế giới ....................................41 3.3. CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG VỐN VAY HIỆU QUẢ ..................................43 3.3.1. Kiểm soát nợ nước ngoài..............................................................................43 3.3.2. Các biện pháp nhằm sử dụng nợ nước ngoài có hiệu quả ..............................44 3.4. CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NỢ VAY NƯỚC NGOÀI...............................45 3.5. CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ ............................................................................46 3.5.1. Ổn định môi trường thể chế ..........................................................................46 3.5.2. Cải thiện môi trường đầu tư..........................................................................46 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3........................................................................................47 KẾT LUẬN .............................................................................................................48 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................49 PHỤ LỤC 3 PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Trong những năm qua nước ta liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đó không chỉ dựa vào yếu tố nội sinh, mà còn có sự tác động của yếu tố bên ngoài. Để đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong điều kiện tiết kiệm trong nước còn hạn chế, các nước đang phát triển thường thu hút các nguồn vốn nước ngoài bằng nhiều cách khác nhau, trong đó vay nợ là một phương thức phổ biến. Vay nợ nước ngoài bao gồm vay nợ dưới hình thức vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có tính chất ưu đãi và vay thương mại theo các điều kiện thị trường. Chính nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài đã giúp nhiều quốc gia khắc phục tình trạng chậm phát triển và chuyển sang phát triển bền vững. Nợ nước ngoài phải được sử dụng một cách có hiệu quả để đáp ứng các nhu cầu đầu tư, đồng thời phải thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng, nhằm tạo nguồn vốn trả nợ, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, cũng có không ít quốc gia không những không cải thiện được một cách đáng kể tình hình kinh tế mà còn lâm vào tình trạng nợ nần, khủng hoảng nợ và kinh tế suy thoái. Nguyên nhân của những thất bại trong việc vay nợ nước ngoài cũng có rất nhiều, trong đó phải kể đến buông lỏng quản lý nợ nước ngoài. Chính vì vậy chính sách quản lý nợ nước ngoài là một bộ phận thiết yếu trong chính sách tài chính quốc gia. Vấn đề quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1993 khi nước ta chính thức thiết lập lại quan hệ hợp tác đa phương với các tổ chức tín dụng lớn trên thế giới như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Song, cũng từ đó các cam kết hỗ trợ vốn ODA của các nước công nghiệp phát triển và các tổ chức tín dụng quốc tế cho nước ta ngày càng tăng dần về số lượng vay, số khoản vay, tính đa dạng của hình thức vay và trả nợ, vì thế việc theo dõi và quản lý nợ nước ngoài cũng trở nên ngày càng bức thiết. Tính cấp thiết của việc đổi mới quản lý nợ nước ngoài cũng xuất phát từ việc tăng cường hội nhập của nền kinh tế Việt Nam và quá trình toàn cầu hoá. Năm 2006, nước ta chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đánh dấu một cột mốc quan trọng vào quá trình hội nhập quốc tế sâu, rộng của nước ta. Tăng cường hội nhập với nền kinh tế thị trường toàn cầu, đặc biệt là các cam kết mở cửa dịch vụ tài chính của Chính phủ, sẽ đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam khả năng tiếp cận với các nguồn tín dụng quốc tế. Đối với hệ thống quản lý nợ nước ngoài, điều này cũng có ý nghĩa việc ứng dụng các phương pháp, kỹ thuật và kỹ năng phân tích nợ trong nền kinh tế thị trường để cập nhật, giám sát và kiểm tra được việc vay và trả nợ nước ngoài trở nên hết sức bức thiết. Đặc biệt do kinh nghiệm và thực tiễn quản lý nợ nước ngoài trong nền kinh tế thị trường của nước ta chưa có nhiều và hệ thống quản lý nợ nước ngoài còn đang trong quá trình hoàn thiện, nên nhu cầu nghiên cứu và xây dựng năng lực về mặt này càng lớn. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các chuyên gia kinh tế, năm nay thế giới sẽ phải gánh lấy những hậu quả to lớn do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Việt Nam là một thành phần trong 4 “guồng máy” kinh tế toàn cầu, do đó sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều bởi cuộc khủng hoảng này gây ra. Khủng hoảng là một đề tài rộng lớn và có nhiều tác động đến nhiều nước, không chỉ ở mặt kinh tế mà ở các mặt xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục… Có thể nói khủng hoảng kinh tế là một mãng vấn đề được cấu thành bởi nhiều khía cạnh khác nhau. Và khủng hoảng nợ là một trong nhiều bộ phần cấu thành nên khủng hoảng kinh tế. Để đảm bảo không rơi vào khủng hoảng nợ như các Mỹ Latinh trong thập niên những năm 80, đòi hỏi Chính phủ phải có những biện pháp quản lý hiệu quả các nguồn vốn vay nước ngoài. Chúng tôi nhận thấy rằng nợ nước ngoài có thể xem như là một “con dao hai lưỡi”, vừa giúp các nước đang “thiếu vốn” tăng cường và đẩy mạnh phát triển kinh tế, nhưng nếu các nước sử dụng không hợp lý “nguồn vốn ngoại sinh” đó sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế bền vững. Do đó, một vấn đề bức thiết đặt ra lúc này là đòi hỏi Chính phủ phải có những “bước đi” hợp lý, đặc biệt trong việc vay, quản lý và trả nợ nước ngoài để tránh “bước nhầm những vết xe đã đổ” của các nước đi trước. Với tính cấp thiết của vấn đề nên chúng tôi đã chọn đề tài “Nợ nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” làm công trình nghiên cứu khoa học sinh viên của chính mình. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song chúng tôi cũng không thể nào tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được được sự góp ý chân thành của thầy cô và bạn đọc nhằm giúp cho đề tài được hoàn thiện hơn. 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung vào việc nghiên cứu hệ thống quản lý nợ hiện hành và phân tích thực trạng quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam thông qua các chỉ số kinh tế và chỉ số nợ nước ngoài trên giác độ vĩ mô. Mục đích nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài tập trung vào công tác quản lý nợ nước ngoài, các biến số và các chính sách có ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ nước ngoài giai đoạn 1995-2008. 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:  Thu nhập thông tin từ các nguồn cung cấp khác nhau.  Thống kê, tổng hợp những thông tin thu thập được.  Phân tích những thông tin thu thập được. Từ đó đưa ra những kết luận cụ thể cho từng vấn đề ở mỗi thời kỳ.  Trong đó, phương pháp chính là thống kê: mô tả và phân tích phù hợp mục tiêu nghiên cứu. 4. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:  Chương 1: Tổng quan về việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam.  Chương 2: Thực trạng về việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam.  Chương 3: Các giải pháp nhằm tăng cường giám sát và quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam. Đồng thời sau mỗi chương chúng tôi đều rút ra kết luận để giúp cho người đọc có thể nắm được những vấn đề chung nhất ở mỗi chương. 5 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 1.1. TỔNG QUAN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 1.1.1. Định nghĩa về nợ nước ngoài Nợ nước ngoài là một khái niệm rộng lớn, chứa đựng nhiều yếu tố khác nhau. Do đó để hiểu được khái niệm nợ nước ngoài, chúng ta cần phải tìm hiểu một số khái niệm cơ bản.  Nợ là lượng tiền mà một công ty hoặc một cá nhân nợ một tổ chức hoặc một cá nhân khác. Nợ phát sinh từ việc vay tiền để mua hàng hoá, dịch vụ và các tài sản tài chính khác. Một khoản nợ được tạo ra khi người cho vay đồng ý cho người đi vay một lượng tài sản nhất định.  Nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xoá sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Với hai khái niệm cơ bản trên chúng ta có thể đi vào tìm hiểu thế nào là nợ nước ngoài? Vậy thì một câu hỏi đặt ra lúc này là tại sao chúng ta phải tìm hiểu khía cạnh nợ xấu trong nợ nước ngoài. Bởi lẽ chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu nợ nước ngoài dưới giác độ “nợ không an toàn”. Lịch sử kinh tế thế giới là một minh chứng hùng hồn nhất cho tấm thảm kịch nợ không an toàn, đó là các cuộc khủng hoảng nợ xảy ra ở một số khu vực trên thế giới. Hơn nữa, trong những năm vừa qua thế giới đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Theo nhận định của nhiều chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế, năm 2009 là một năm đầy những khó khăn và thử thách cho kinh tế thế giới do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, trong đó khủng hoảng nợ là một bộ phận cấu thành khủng hoảng kinh tế. Theo khoản 8 điều 2 quy chế vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ) thì: “Nợ nước ngoài của quốc gia là số dư của mọi nghĩa vụ hiện hành (không bao gồm nghĩa vụ nợ dự phòng) về trả nợ gốc và lãi tại một thời điểm của các khoản vay nước ngoài tại Việt Nam. Nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm nợ nước ngoài của khu vực công và nợ nước ngoài của khu vực tư nhân”. Như vậy, theo cách hiểu này nợ nước ngoài là tất cả các khoản vay mượn của tất cả các pháp nhân Việt Nam đối với nước ngoài và không bao gồm nợ của các thể nhân (nợ của cá nhân và hộ gia đình). Trong cuốn Thống kê nợ nước ngoài: Hướng dẫn tập hợp và sử dụng do nhóm công tác liên ngành của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì khái niệm nợ nước ngoài được hiểu như sau: “Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào là số dư nợ của các công nợ thường xuyên thực tế, không phải công nợ bất thường, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán gốc và/hoặc lãi tại một (số) thời điểm trong tương lai, do đối tương cư trú tại một nền kinh tế nợ đối tượng không cư trú”. Theo khái niệm này, khái niệm nợ nước ngoài không tách rời khái niệm đối tượng cư trú. Như vậy xét về bản chất không có sự khác biệt đáng kể trong định nghĩa nợ nước ngoài của quốc gia và quốc tế. Tuy nhiên định nghĩa về nợ nước ngoài của quốc tế rõ ràng hơn. Khái niệm nợ nước ngoài của quốc tế về cơ bản mang ý nghĩa thống kê và nhất quán với Hệ thống thống kê tài khoản quốc gia (SNA). Để đảm bảo tính nhất quán trong cách phân loại nợ nước ngoài, trong phần dưới đây chúng tôi sử dụng phần định nghĩa chuẩn quốc tế về nợ nước ngoài. 6 1.1.2. Phân loại nợ nước ngoài Việc phân loại nợ nước ngoài có một vai trò quan trọng trong việc công tác theo dõi, đánh giá và quản lý nợ có hiệu quả.  Phân loại theo chủ thể đi vay: nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh và nợ tư nhân. Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh Nợ công được định nghĩa là các nghĩa vụ nợ của các khu vực công và bao gồm nợ của khu vực công cùng với nợ của khu vực tư nhân được khu vực công bảo lãnh. Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh được xác định là các công nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà dịch vụ trả nợ được bảo lãnh theo hợp đồng bởi một đối tượng thuộc khu vực công cư trú tại cùng một nền kinh tế với bên nợ đó. Nợ tư nhân Loại nợ này bao gồm nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được khu vực công của nền kinh tế đó bảo lãnh theo hợp đồng. Về bản chất đây là các khoản nợ do khu vực tư nhân tự vay, tự trả.  Phân loại theo thời hạn vay: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Nợ ngắn hạn Nợ ngắn hạn là loại nợ có thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống. Vì thời gian đáo hạn ngắn, khối lượng thường không đáng kể, nợ ngắn hạn thường không thuộc đối tượng quản lý một cách chặt chẽ như nợ dài hạn. Tuy nhiên nếu nợ ngắn hạn không trả được sẽ gây mất ổn định cho hệ thống ngân hàng. Đặc biệt khi tỷ trọng nợ ngắn hạn trong tổng nợ có xu hướng tăng phải hết sức thận trọng vì luồng vốn rút ra đột ngột có thể gây bất ổn cho nền tài chính quốc gia. Nợ dài hạn Nợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã gia hạn kéo dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạn khoản thanh toán cuối cùng. Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm quản lý nhiều hơn do khả năng tác động lớn đến nền tài chính quốc gia.  Phân loại theo loại hình vay: vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay thương mại  Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các chuyển khoản song phương (giữa các Chính phủ) hoặc đa phương (từ các tổ chức quốc tế cho Chính phủ), trong đó ít nhất 25% tổng giá trị chuyển khoản là cho không. Tính ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức. Vay hỗ trợ phát triển chính thức là loại nợ có nhiều điều kiện ưu đãi, ưu đãi về lãi suất, về thời gian trả nợ và thời gian ân hạn. Lãi suất của vay hỗ trợ phát triển chính thức thấp hơn nhiều so với vay thương mại. Thời gian cho vay hỗ trợ phát triển chính thức dài (có thể từ 10, 15 hay 20 năm) và thời gian ân hạn dài, do vậy các nước đang phát triển thường hướng tới và tận dụng tối đa nguồn vốn này cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, vay hỗ trợ phát triển chính thức cũng có những mặt trái của nó. Tính ưu đãi của vay hỗ trợ phát triển chính thức rất rõ rệt, bên cạnh đó, việc vay nợ hỗ trợ 7 phát triển chính thức đôi khi kèm theo những điều kiện ràng buộc khiến cái giá phải trả tăng lên đáng kể. Vay thương mại Khác với vay hỗ trợ phát triển chính thức, vay thương mại không có ưu đãi cả về lãi suất và thời gian ân hạn, lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường tài chính quốc tế và thường thay đổi theo lãi suất thị trường. Chính vì vậy, vay thương mại thường có giá khá cao và chứa đựng nhiều rủi ro. Việc vay thương mại của Chính phủ phải được cân nhắc hết sức thận trọng và chi quyết định vay khi không còn cách nào khác.  Phân loại nợ theo chủ thể cho vay: nợ đa phương và nợ song phương. Nợ đa phương đến chủ yếu từ các cơ quan của Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), các ngân hàng phát triển trong khu vực, các cơ quan đa phương như OPEC1 và liên chính phủ. Trong khi đó, nợ song phương đến từ Chính phủ một nước như các nước thuộc tổ chức OECD2 và các nước khác hoặc đến từ một tổ chức quốc tế nhân danh một Chính phủ duy nhất dưới dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật 1.1.3. Phân loại các nước theo mức độ nợ nước ngoài Nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước nghèo phải vay của nước ngoài để có tiền trang trải cho đầu tư phát triển đất nước và một phần để tiêu dùng, ngoài ra còn một số trường hợp đặc biệt, như phải chi dùng cho chiến tranh. Các khoản nợ thường từ việc vay vốn từ bên ngoài, từ cán cân thương mại quốc gia (trị giá xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ < trị giá nhập khẩu của hàng hoá và dịch vụ). Theo quy luật thị trường, khi vay nợ thì phải có nghĩa vụ trả nợ, gồm nợ gốc và lãi suất của khoản nợ gốc đó. Nếu không trả được nợ, sẽ đưa đất nước đến vỡ nợ và chẳng có nước nào hoặc các tổ chức quốc tế thích tiếp tục cho vay, tiếp tục phát triển quan hệ buôn bán, đầu tư vào các nước có tỷ lệ nợ cao (ngoài trừ trường hợp chính trị, hoặc sự ràng buộc của các hiệp định song phương, đa phương đã ký kết trước đây). Để đánh giá mức độ nợ của các quốc gia, Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra một số tiêu chuẩn để đánh giá nợ nước ngoài của các quố

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfBai hoan chinh.pdf
  • pdfTom tat.pdf
Tài liệu liên quan