Đề tài Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón của Việt Nam

Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, hiện tại nông nghiệp vẫn chiếm 70% lực lượng lao động của toàn xã hội và khoảng 14% GDP của cả nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu chiến lược về CNH-HĐH đất nước là: từ nay (1996) đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Vì vậy trong cơ cấu kinh tế, công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong GNP và trong lao động xã hội. Mặc dù vậy sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọng trong nhiều năm nữa. Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Những nông sản quan trọng khác là cà phê, sợi bông, đậu phộng, cao su, đường, và trà. Trong sản xuất nông nghiệp, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất và sản lượng các loài cây trồng như: đất đai, thời tiết, khí hậu, các thiết bị kỹ thuật, giống, phân bón .v.v. Song phân bón bao giờ cũng là yếu tố có tính quyết định thường xuyên. Bởi vậy, ở Việt Nam phân bón được xếp vào loại mặt hàng chiến lược hết sức quan trọng. Là một nước nông nghiệp, nên nhu cầu về phân bón của Việt Nam rất lớn (bình quân mỗi năm 8-9 triệu tấn). Tuy nhiên công nghiệp phân bón của Việt Nam đang còn quá nhỏ bé và lạc hậu, hiện tại mới sản xuất và cung ứng được khoảng trên 5 triệu tấn, số còn lại phải dựa vào nhập khẩu từ bên ngoài. Nông nghiệp luôn cần phân, song do nhiều lý do khách quan và chủ quan tác động (tài chính, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách.) nên việc nhập khẩu phân bón của Việt Nam vừa qua diễn ra không được thuận lợi. Điều này đã làm cho Cung-Cầu, giá cả phân bón ở Việt Nam diễn ra không ổn định: lúc sốt nóng, lúc sốt lạnh gây không ít khó khăn cho nông dân và cho sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, việc “Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón của Việt Nam” từ đó tìm ra các yếu tố cơ bản của thị trường phân bón như: cung, cầu, giá cả phân bón trên thị trường và các chính sách điều tiết của nhà nước nhằm tìm ra những giải pháp cơ bản ổn định vấn đề phân bón, thị trường phân bón ở Việt Nam và thị trường nhập khẩu phân bón của Việt Nam là một đòi hỏi cấp bách hiện nay.

doc26 trang | Chia sẻ: oanhnt | Lượt xem: 1308 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón của Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I. MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết. Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, hiện tại nông nghiệp vẫn chiếm 70% lực lượng lao động của toàn xã hội và khoảng 14% GDP của cả nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu chiến lược về CNH-HĐH đất nước là: từ nay (1996) đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Vì vậy trong cơ cấu kinh tế, công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong GNP và trong lao động xã hội. Mặc dù vậy sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọng trong nhiều năm nữa. Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Những nông sản quan trọng khác là cà phê, sợi bông, đậu phộng, cao su, đường, và trà. Trong sản xuất nông nghiệp, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất và sản lượng các loài cây trồng như: đất đai, thời tiết, khí hậu, các thiết bị kỹ thuật, giống, phân bón ...v.v. Song phân bón bao giờ cũng là yếu tố có tính quyết định thường xuyên. Bởi vậy, ở Việt Nam phân bón được xếp vào loại mặt hàng chiến lược hết sức quan trọng. Là một nước nông nghiệp, nên nhu cầu về phân bón của Việt Nam rất lớn (bình quân mỗi năm 8-9 triệu tấn). Tuy nhiên công nghiệp phân bón của Việt Nam đang còn quá nhỏ bé và lạc hậu, hiện tại mới sản xuất và cung ứng được khoảng trên 5 triệu tấn, số còn lại phải dựa vào nhập khẩu từ bên ngoài. Nông nghiệp luôn cần phân, song do nhiều lý do khách quan và chủ quan tác động (tài chính, tổ chức quản lý, cơ chế chính sách...) nên việc nhập khẩu phân bón của Việt Nam vừa qua diễn ra không được thuận lợi. Điều này đã làm cho Cung-Cầu, giá cả phân bón ở Việt Nam diễn ra không ổn định: lúc sốt nóng, lúc sốt lạnh gây không ít khó khăn cho nông dân và cho sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, việc “Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón của Việt Nam” từ đó tìm ra các yếu tố cơ bản của thị trường phân bón như: cung, cầu, giá cả phân bón trên thị trường và các chính sách điều tiết của nhà nước nhằm tìm ra những giải pháp cơ bản ổn định vấn đề phân bón, thị trường phân bón ở Việt Nam và thị trường nhập khẩu phân bón của Việt Nam là một đòi hỏi cấp bách hiện nay. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Mục tiêu chung Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón trên thị trường ở Việt Nam. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón của Việt Nam trong thời gian gần đây, cụ thể chúng tôi tập trung tìm hiểu tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón từ 2008 - 2010. - Đề ra các phương án thích hợp đem lại hiệu quả cho người sản xuất, nhập khẩu đồng thời có lợi cho người tiêu dùng. 1.3 Phạm vi nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu 1.3.1 Phạm vi nghiên cứu. Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tình hình sản xuất, nhập khẩu phân bón của Việt Nam. Nghiên cứu các giải pháp nâng cao nâng cao sản xuất trong nước và tiềm năng phát triển của ngành phân bón Việt Nam. Phạm vi về không gian Tập chung nghiên cứu các số liệu đã công bố của tổng cục thống kê, các trang wed và số liệu công bố của các nhà máy sản xuất phân bón. Mặt khác ta cần nghiên cứu tình hình điều trên thị trường thế giới, các nước trong khu vực: Campuchia, Lào, Thái Lan,… Phạm vi về thời gian Nghiên cứu tình hình sản xuất, nhập khẩu phân bón trong 2 năm gần đây: 2008, 2009, những tháng đầu năm 2010. 1.3.2 Phương pháp nghiên cứu Phương pháp chung Chúng tôi dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu tài liệu, phân tích đưa ra kết quả nghiên cứu, phân tích tình hình sản xuất, nhập khẩu phân bón dựa trên kiến thức và tài liệu thu thập được. Phương pháp thu thập số liệu Phương pháp thu thập số liệu là số liệu thứ cấp: các số liệu từ các luận án, luận văn, sách báo, tạp chí và trên Internet. Phương pháp phân tích số liệu Phương pháp thống kê mô tả Phương pháp thống kê so sánh Phương pháp dự báo II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận Phân bón có vai trò khá quan trọng trong việc tăng năng suất, bảo vệ cây trồng cũng như giúp cải tạo đất. Phân bón bao gồm một hay nhiều dưỡng chất cần thiết cho cây được chia thành ba nhóm sau: Đa lượng: là nhóm các dưỡng chất thiết yếu mà cây trồng cần nhiều bao gồm Ni tơ (N), Phốt pho (P) và Ka li (K). Trung lượng: là nhóm các dinh dưỡng khoáng thiết yếu mà cây trồng cần ở mức trung bình bao gồm Can xi (Ca), Ma giê (Mg) và Lưu huỳnh (S). Vi lượng: là nhóm dinh dưỡng khoáng thiết yếu cây trồng cần với lượng ít như Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Đồng (Cu)…. Tùy theo từng loại cây trồng cũng như từng loại đất sẽ có những sản phẩm phân bón phù hợp. Theo nguồn gốc, phân bón được chia thành hai loại: - Phân bón hữu cơ: loại phân chứa những chất dinh dưỡng ở dạng những hợp chất hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, phân vi sinh, phân rác. Ưu điểm của loại phân này là có thể tận dụng nguồn rác thải từ động vật hay cây trồng để sản xuất phân bón và ít gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên khuyết điểm của nó là giá thành cao và khi sử dụng phân hữu cơ cây không thể sử dụng ngay dưỡng chất từ phân mà phải trải qua một quá trình chuyển hóa nhờ vào các vi sinh vật vì vậy cây chỉ có thể lớn từ từ. Hơn nữa mức độ hiệu quả của phân hữu cơ phụ thuộc khá nhiều vào sự có mặt và mật độ của các vi sinh vật có ích trong môi trường. - Phân bón vô cơ (phân hóa học): là loại phân chứa các yếu tố dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng (vô cơ) thu được nhờ các quá trình vật lý, hóa học. Nguồn nguyên liệu sản xuất được lấy từ khí thiên nhiên hay các mỏ khoáng sản. Ưu điểm của loại phân này là có tác dụng nhanh trong việc tăng năng suất cho cây và giá thành rẻ. Khuyết điểm lớn nhất của phân hóa học là gây ô nhiễm môi trường. Các loại phân vô cơ phổ biến hiện nay: - Các loại phân đơn: + Phân đạm: phân ure, phân sunphat đạm, phân amon nitrat… + Phân lân: supe lân, phân lân nung chảy… + Phân kali: kali clorua, sunphat kali… - Các loại phân hỗn hợp: chứa từ 2 nguyên tố trở lên như phân SA, phân NPK, phân DAP… 2.2 Cơ sở thực tiễn 2.2.1 Vai trò của phân hoá học đối với năng suất cây trồng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới Cây trồng cũng như con gia súc, tôm, cá... muốn sinh trưởng tốt, khoẻ mạnh tăng trọng nhanh và cho năng suất cao cần phải được nuôi dưỡng trong điều kiện đầy đủ thức ăn, có đủ các chất bổ dưỡng theo thành phần và tỷ lệ phù hợp. Trẻ con tuy lúc mới sinh có cơ thể to, nặng cân nhưng nếu sữa mẹ kém chất, nuôi nấng thiếu khoa học thì cũng có thể trở nên còi cọc. Đối với cây trồng, nguồn dinh dưỡng đó chính là các chất khoáng có chứa trong đất, trong phân hoá học (còn gọi là phân khoáng) và các loại phân khác. Trong các loại phân thì phân hoá học có chứa nồng độ các chất khoáng cao hơn cả. Từ ngày có kỹ nghệ phân hoá học ra đời, năng suất cây trồng trên thế giới cũng như ở nước ta ngày càng được tăng lên rõ rệt. Ví dụ chỉ tính từ năm 1960 đến 1997, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới đã thay đổi theo tỷ lệ thuận với số lượng phân hoá học đã được sử dụng (NPK, trung, vi lượng ) bón cho lúa. Trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 (từ 1960-1997), diện tích trồng lúa toàn thế giới chỉ tăng có 23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản lượng lúa tăng lên 164,4%, tương ứng với mức sử dụng phân hoá học tăng lên là 242%. Nhờ vậy đã góp phần vào việc ổn định lương thực trên thế giới. Ở nước ta, do chiến tranh kéo dài, công nghiệp sản xuất phân hoá học phát triển rất chậm và thiết bị còn rất lạc hậu. Chỉ đến sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, nông dân mới có điều kiện sử dụng phân hoá học bón cho cây trồng ngày một nhiều hơn. Ví dụ năm 1974/1976 bình quân lượng phân hoá học (NPK) bón cho 1 ha canh tác mới chỉ có 43,3 kg/ha. Năm 1993-1994 sau khi cánh cửa sản xuất nông nghiệp được mở rộng, lượng phân hoá học do nông dân sử dụng đã tăng lên đến 279 kg/ha canh tác. Số lượng phân hoá học bón vào đã trở thành nhân tố quyết định làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng lên rất rõ, đặc biệt là cây lúa. Rõ ràng năng suất cây trồng phụ thuộc rất chặt chẽ với lượng phân hoá học bón vào. Tuy nhiên không phải cứ bón nhiều phân hoá học thì năng suất cây trồng cứ tăng lên mãi. Cây cối cũng như con người phải được nuôi đủ chất, đúng cách và cân bằng dinh dưỡng thì cây mới tốt, năng suất mới cao và ổn định được. Vì vậy phân chuyên dùng ra đời là để giúp người trồng cây sử dụng phân bón được tiện lợi hơn. 2.2.2. Tình hình sử dụng phân bón của một số nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á Từ lâu nông dân ta đã có câu "người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân". Phân bón đã là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng để nuôi sống nhân loại trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều nước không có công nghệ sản xuất phân bón, nhưng ngoại tệ lại có hạn nên việc sử dụng phân khoáng ở các nước có sự chênh lệch khá lớn. Sự chênh lệch này không phải do tính chất đất đai khác nhau quyết định mà chủ yếu là do điều kiện tài chánh cũng như trình độ hiểu biết về khoa học dinh dưỡng cho cây trồng quyết định. Còn trong các nước phát triển mức độ sử dụng phân khoáng khác nhau là do họ sử dụng cây trồng khác nhau, điều kiện khí hậu khác nhau, cơ cấu cây trồng khác nhau và họ cũng sử dụng các chủng loại phân khác nhau để bón bổ sung. Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ (nước có khí hậu nóng) lại dùng phân khoáng ít hơn bình quân toàn châu Á. Trong lúc đó Trung Quốc và Nhật lại sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân toàn châu Á. Hà Lan là nước sử dụng phân khoáng nhiều nhất. Tuy nhiên lượng phân chủ yếu bón nhiều cho đồng cỏ, rau và hoa để thu sản lượng chất xanh cao. Việt Nam được coi là nước sử dụng nhiều phân khoáng trong số các nước ở Đông Nam Á, số liệu tham khảo năm 1999 như sau: - Việt Nam: bình quân 241,82 kg NPK/ha - Malaysia: bình quân 192,60 - Thái Lan: bình quân 95,83 - Philippin: bình quân 65,62 - Indonesia: bình quân 63,0 - Myanma: bình quân 14,93 - Lào: bình quân 4,50 - Campuchia: bình quân 1,49 Theo số liệu ghi nhận được ở trên cho thấy Campuchia, Lào và Myanma sử dụng phân khoáng ít nhất, đặc biệt là Campuchia. Có thể đó là thị trường xuất khẩu phân bón của Việt Nam khá thuận lợi, nếu Việt Nam góp phần nâng cao kiến thức sử dụng phân bón cho họ có kết quả 2.2.3. Nhu cầu phân bón đối với cây trồng của Việt Nam đến hết năm 2010 Tính nhu cầu phân bón cho cây trồng là dựa trên cơ sở đặc điểm của đất đai, đặc điểm của cây trồng để tính số lượng phân cần cung cấp làm cho cây trồng có thể đạt được năng suất tối ưu (năng suất cao nhưng hiệu quả kinh tế cũng cao). Cho đến năm 2010, ước tính tổng diện tích gieo trồng ở nước ta vào khoảng 12.285.500 ha, trong đó cây có thời gian sinh trưởng hàng năm là 9.855.500 ha và cây lâu năm khoảng 2.431.000 ha (Theo số liệu của Vũ Năng Dũng, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2002). Để thoả mãn nhu cầu phân bón cho các loại cây trồng trên các diện tích này, đến hết năm 2010 ta cần có 2.100.000 tấn phân Urê, 300.000 tấn phân DAP, 3.000.000 tấn phân NPK các loại, 1.400.000 tấn phân lân dạng super và nung chảy và 400.000 tấn phân Kali (Nguyễn Văn Bộ, 2002). Dự kiến cho đến thời gian ấy ta có thể sản xuất được khoảng 1.600.000 tấn phân Urê, 300.000 tấn phân DAP, 3.000.000 tấn phân NPK và 1.400.000 tấn phân lân các loại. Số phân đạm và DAP sản xuất được là nhờ vào kế hoạch nâng cấp nhà máy phân đạm Bắc Giang, xây dựng 2 cụm chế biến phân đạm ở Bà Rịa-Vũng Tàu và ở Cà Mau mà có. Nếu được như vậy lúc đó ta chỉ còn phải nhập thêm khoảng 500.000 tấn Urê và 300.000 tấn phân Kali nữa là tạm đủ. Năm 2010, tổng khối lượng phân các loại cần có là 7,1 triệu tấn, một khối lượng phân khá lớn, trong lúc đó, hiện nay (năm 2003) ta mới sản xuất được khoảng 1,5 triệu tấn phân đạm và lân. Còn số lượng 1,2 triệu tấn phân NPK có được là nhờ vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập. Năm 2002, cả nước nhập khẩu 2.833.907 tấn phân các loại (Urê, DAP, Kali, sunphát đạm). Nếu tính cả số phân nhập bằng con đường tiểu ngạch thì năm 2002 số lượng phân nhập có khoảng 3 triệu tấn, nếu cộng thêm 1,5 triệu tấn sản xuất trong nước thì vẫn còn cần thêm 2,6 triệu tấn phân các loại nữa mới đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp. Công ty Phân bón Bình Điền đang chuẩn bị xây dựng thêm 1 nhà máy sản xuất phân bón ở tỉnh Long An với công suất 600.000 tấn phân NPK/năm, lúc đó Công ty có thể cung cấp được khoảng 1/3 lượng phân NPK theo yêu cầu đặt ra. Như vậy cho đến nay, số lượng phân hoá học dùng cho sản xuất nông nghiệp phần lớn là dựa vào nhập khẩu. Nếu việc nâng cấp nhà máy phân đạm Bắc Giang cũng như việc xây dựng 2 cụm chế biến phân đạm ở Bà Rịa-Vũng Tàu và Cà Mau thực hiện đúng theo kế hoạch thì đến hết năm 2010 ta chỉ còn nhập khối lượng phân không nhiều lắm. Ngược lại, nếu kế hoạch trên có trở ngại thì việc tiếp tục nhập phân hoá học với khối lượng lớn là điều tất yếu. Tuy nhiên để việc sử dụng phân bón có hiệu quả, không có dư lượng đạm quá mức cho phép, không gây ô nhiễm môi trường thì ngay bây giờ ta phải trang bị cho người sản xuất những kiến thức khoa học cần thiết về tính chất 2 mặt của phân bón, biết được nhu cầu phân bón của từng loại cây, từng giai đoạn sinh trưởng của cây trên từng loại đất, từng mùa vụ để họ từ quản lý lấy nguồn tài nguyên quí giá của họ mới có hiệu quả được. 2.2.4 Quá trình sản xuất phân bón của Việt Nam. Trước những năm 1960, Nông nghiệp Việt Nam chỉ sử dụng phân hữu cơ và phân chuồng để bón cho cây trồng; sau những năm 60 mới có sự chuyển hưởng kết hợp dùng phân hóa học với phân hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp. Trong thập kỷ 60, Nhà nước Việt Nam bắt đầu đầu tư xây dựng một số nhà máy sản xuất phân bón hóa học: Nhà máy Phân lân nung chảy Văn Điển Hà Nội, với công suất thiết kế ban đầu là 20.000 tấn/ năm; Xí nghiệp Liên hợp Supe Phốt phát Lâm Thao - Vĩnh Phú, công suất thiết kế ban đầu 100.000 tấn supephot-phát đơn/ năm; Xí nghiệp Liên hợp Phân bón và Hóa chất Hà Bắc, công suất 1 00.000 tấn urê/ năm. Về sau hai nhà máy phân lân chế biến khác đã được xây dựng thêm: Nhà máy Phân lân nung chảy Ninh Bình đi vào vận hành từ năm 1975 có công suất thiết kế là 100.000 tấn/năm và Nhà máy Supe Phốt phát Long Thành đi vào sản xuất từ tháng 12/1992 có công suất thiết kế 100.000 tấn/ năm. Từ những năm 1979-1980 ngành sản xuất phân hỗn hợp NPK bắt đầu được phát triển; đến những năm 1990- 1991 đã có năng lực sản xuất đạt trên 100.000 tấn/năm và từ đó đến nay ngành này đã phát triển không ngừng về số lượng, chất lượng cũng như về chủng loại các sản phẩm. Sản lượng NPK của các đơn vị ngoài VINACHEM chiếm khoảng 35-40% tổng sản lượng NPK tiêu thụ trên thị trường và chiếm khoảng 20% tổng sản lượng phân bón các loại trong toàn quốc. Ngoài những loại phân bón truyền thống trên, từ những năm 1990 trở lại đây tại Việt Nam, người ta bắt đầu sử dụng phân vi sinh và phân hữu cơ sinh học. Tổng lượng phân vi sinh và phân hữu cơ sinh học sử dụng trong các năm 1999 - 2000 vào khoảng 100.000 tấn/năm. Trong giai đoạn từ 2000 đến nay, chúng ta xây dựng 2 nhà máy đạm urê từ khí thiên nhiên ở miền Nam và 1 nhà máy đạm urê từ than cám ở miền Bắc. Ba nhà máy này có công suất 2,2 triệu tấn/năm. Ngoài ra, Nhà máy Phân đạm Bắc Giang mở rộng với công suất 150.000 tấn urê/năm được đưa vào sản xuất từ cuối năm 2002 đưa tổng năng lực sản xuất phân đạm urê trong cả nước lên 2,35 triệu tấn/năm, đạt xấp xỉ nhu cầu của toàn Ngành Nông nghiệp. Về phân supe photphat đơn, chúng ta tiếp tục duy trì công suất các nhà máy hiện tại ở mức 950.000 - 1.000.000 tấn/ năm và dần dần từng bước chuyển từ công nghệ tiếp xúc đơn sang tiếp xúc kép để tăng hiệu suất chuyển hóa SO2 nhằm đảm bảo vấn đề môi trường; tăng cường đầu tư chiều sâu để nâng cao khả năng điều khiển tự động hóa của các dây chuyền sản xuất, sử dụng các loại xúc tác chuyển hóa SO2 có độ bền, độ hoạt hóa cao của các công ty Monsanto hoặc Haldor Topsoe. Về phân lân nung chảy, công suất sản xuất của các nhà máy được nâng dần lên đạt mức 500.000 tấn/năm. Đây là sản phẩm theo công nghệ và thiết bị hoàn toàn của Việt Nam. Chúng ta có đủ năng lực về thiết kế, chế tạo, lắp đặt các thiết bị và chuyển giao công nghệ sản xuất phân lân nung chảy. Về phân phức hợp, trong giai đoạn 2000 - 2005, chúng ta đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất DAP tại Hải Phòng, công suất 330.000 tấn/năm. Nhà máy này được đi vào hoạt động từ 4/2009. Vào tháng 3/2009 nhà máy sản xuất phân bón cao cấp DAP số 2 được xây dựng tại khu công nghiệp Tằng Loỏng, có công suất 330.000 tấn/năm (bằng công suất Nhà máy DAP số 1 Ðình Vũ- Hải Phòng). Việc xây dựng nhà máy tại nơi cung cấp nguyên liệu quặng apatít Cam Ðường sẽ giảm chi phí vận tải, chủ động nguồn nguyên liệu, giải quyết việc làm cho khoảng 600 lao động địa phương. Dự kiến nhà máy sẽ đi vào hoạt động từ năm 2012. Hiện nay ở các nước phát triển lượng phân bón hóa học sử dung có xu hướng giảm xuống thay vào đó là các loại phân vi sinh để bảo vệ môi trường. Tuy nhiên thì ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, phân vô cơ vẫn được sử dụng khá nhiều nhờ vào ưu thế về chi phí và những hiệu quả nhanh chóng tác động lên cây trồng. Do lượng sử dụng nhiều nên các loại phân chứa các nguyên tố đa lượng chiếm hầu như toàn bộ lượng phân bón sử dụng và cũng được đề cập nhiều nhất khi nói về ngành phân bón. Trong nhóm phân đa lượng, phân đạm có lượng sử dụng cao nhất, kế đến là phân lân, cuối cùng là phân kali. Mặc dù xét về mức độ cần thiết, cây trồng cần nhiều kali hơn đạm hay lân nhưng do trong đât có tương đối nhiều K hơn N và P nên lượng nhu cầu phân kali thấp hơn hai loại còn lại. Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, xu thế sử dụng phân bón cũng có khá nhiều thay đổi. Do yêu cầu cần bổ sung đồng bộ các chất dinh dưỡng cho cây nên người nông dân đang chuyển sang sử dụng phân tổng hợp thay cho phân đơn. Vì vậy, phân NPK, SA, DAP đang có xu hướng sử dụng tăng lên còn phân Ure đang có chiều hướng trong cơ cấu phân bón sử dụng của nước ta hằng năm. III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tình hình sản xuất phân bón của Việt Nam. 3.1.1 Tình hình sản xuất phân bón trong nước Hằng năm, Việt Nam cần nhập khẩu khoảng 50% nhu cầu, trong đó kali, SA phải nhập khẩu 100%. Sản xuất trong nước chỉ có khả năng đáp ứng các loại: - Phân đạm: do hai nhà máy Đạm Hà Bắc có công suất 180.000 tấn urê/năm. Nhà máy Đạm Phú Mỹ có công suất 740.000 tấn urê/năm. Hiện cả hai nhà máy này có khả năng đáp ứng được một nửa nhu cầu đạm trong nước - Phân Lân: supe lân do 2 đơn vị CTCP Supe Phosphat và hóa chất Lâm Thao công suất 880.000 tấn/năm và nhà máy Supe Phosphat Long Thành công suất 180.000 tấn/năm. Phân lân nung chảy do CTCP Phân lân Ninh Bình công suất 300.000 tấn/năm và CTCP Phân lân nung chảy Văn Điển công suất 300.000 tấn/năm. Năng lực sản xuất phân lân trong nước đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu. - Phân NPK phối trộn: số lượng các nhà máy có cung cấp phân NPK trong nước khá nhiều có khả năng cung cấp 4,2 triệu tấn NPK. Về cơ bản, lượng cung trong nước đủ khả năng đáp ứng nhu cầu phân NPK. Hiện nay, một số doanh nghiệp đã xuất khẩu loại phân này sang các thị trường lân cận là Lào, Campuchia, Thái Lan. - Phân DAP: nhà máy sản xuất DAP số 1 ở Hải Phòng công suất 330.000 tấn/năm. Nhà máy sản xuất phân bón cao cấp DAP số 2 Tằng Lỏng-Lào Cai, có công suất 330.000 tấn/năm ( bằng công suất nhà máy DAP số 1 Đình Vũ- Hải Phòng), mới đưa vào hoạt động bảo đảm đáp ứng đủ nhu cầu phân bón DAP trong nước ( mỗi năm khoảng 700.000 tấn), không phải nhập khẩu từ bên ngoài. 3.1.2 Khả năng phát triển nguồn phân bón sản xuất trong nước Phân đạm có thể sản xuất từ hai nguồn nguyên liệu là than đá và khí thiên nhiên. Việt Nam đang có thế mạnh ở cả hai nguồn nguyên liệu này nhờ đó phân urê sản xuất trong nước thường rẻ hơn giá thế giới. Tuy nhiên, nếu so sánh hai nguồn nguyên liệu cho sản xuất phân đạm hiện nay, khí thiên nhiên đang có ưu thế hơn than đá về cả chi phí cũng như nguồn cung. Do chi phí khai thác than đang có xu hướng tăng mạnh nên giá nguyên liệu than vì thế cũng tăng theo. Hơn nữa than đá cũng là nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất của ngành điện, xi măng và giấy nên sẽ dẫn đến tình hình cạnh tranh nguyên liệu
Tài liệu liên quan