Luận văn Chính sách phát triển văn hoá cơ sở trên địa bàn Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng

1. Lý do chọn đề tàiTrong thời đại hiện nay, văn hóa đã trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của các quốc gia trên thế giới. Nó được coi là một nhân tố có tính quyết định sự bền vững của một quốc gia, dân tộc. Việt Nam đang bước vào thời kỳ kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều cơ hội, nhưng cũng đầy khó khăn và thử thách, việc quan tâm, chăm lo xây dựng văn hóa, đặc biệt là văn hóa ở cơ sở ngày càng trở nên cấp thiết hơn. Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng trong việc quan tâm xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, “đảm bảo mỗi nhà máy, nông trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, ấp đều có đời sống văn hóa” [10, tr.102], nhằm tạo lập môi trường văn hóa cơ sở lành mạnh, huy động mọi tiềm lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, góp phần hạn chế những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường trong tiến trình xây dựng nền văn hóa mới và con người mới.Với mục tiêu phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998 của Đảng đã nêu “Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đang được xác định là một trong 4 giải pháp lớn mà Nghị quyết TW5 (khóa VIII) đã đề ra "Phải đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy, công trường, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện đều có đời sống văn hóa” [3, tr.9]

pdf97 trang | Chia sẻ: Việt Cường | Ngày: 16/04/2025 | Lượt xem: 23 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Chính sách phát triển văn hoá cơ sở trên địa bàn Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI BÙI CÔNG KHANH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG HÀ NỘI, Năm 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI BÙI CÔNG KHANH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Ngành: CHÍNH SÁCH CÔNG Mã số: 8340402 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. HOÀNG THỊ TỐ QUYÊN HÀ NỘI, Năm 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực. Những ý kiến khoa học trong luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Đà Nẵng, ngày tháng năm 2019 TÁC GIẢ LUẬN VĂN Bùi Công Khanh LỜI CÁM ƠN Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn - TS. Hoàng Thị Tố Quyên, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn, từ việc định hướng, lựa chọn đề tài, đến việc xây dựng đề cương và triển khai luận văn. Cô đã có những góp ý cụ thể cho luận văn này và luôn luôn động viên để tôi có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo giảng viên khoa Chính sách công, các thầy cô phòng đào tạo sau đại học - Học viện Khoa học xã hội Đà Nẵng và gia đình, bạn bè, đồng nghiệp nơi tôi công tác đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất, song do buổi đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân chưa thấy được. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy, cô để luận văn được hoàn chỉnh hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! TÁC GIẢ LUẬN VĂN Bùi Công Khanh MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA Ở CƠ SỞ VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ................. 11 1.1. Một số vấn đề lý luận về chính sách phát triển văn hóa ở cơ sở .......................... 11 1.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu ........................................................................ 20 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG, BAN HÀNH, TRIỂN KHAI,THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN ........ 26 2.1. Thực trạng xây dựng, ban hành chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn ..................................................................................................................................... 26 2.2. Thực trạng triển khai, thực hiện chính sách phát triển văn hóa cơ sở ở quận Hải Châu ............................................................................................................................. 40 CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG, BAN HÀNH, TRIỂN KHAI VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HOÁ CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN ............................................. 59 3.1. Đánh giá về quá trình xây dựng, ban hành, triển khai và thực hiện chính sách phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn ........................................................................... 59 3.2. Giải pháp .............................................................................................................. 68 KẾT LUẬN ................................................................................................................ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BCĐ : Ban chỉ đạo CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội CT : Chỉ thị HĐND : Hội đồng nhân dân MTTQ : Mặt trận Tổ quốc NQ : Nghị quyết NSTP : Ngân sách Thành phố NSĐP : Ngân sách địa phương NXB : Nhà xuất bản PGS.TS : Phó Giáo sư. Tiến sĩ QĐ : Quyết định TTg : Thủ tướng TDĐKXDĐSVH : Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa Tr : Trang TW : Trung ương UBMTTQVN : Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam UBND : Ủy ban nhân dân VHTT : Văn hóa - Thông tin XDNSVH-VMĐT : Xây dựng nếp sống văn hóa-văn minh đô thị XHH : Xã hội hóa DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang bảng Tổng hợp kết quả thực hiện phong trào 2.1. “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” giai đoạn 44 2010-2017 Ghi nhận các mô hình trong Đề án “XDNSVH-VMĐT” 2.2. 46 từ năm 2012-2018 Tổng hợp Nguồn vốn dự kiến đầu tư cho các Thiết chế văn 2.3. hóa trên địa bàn quận Hải Châu từ các nguồn ngân sách giai 51 đoạn 2019-2022 51 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong thời đại hiện nay, văn hóa đã trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của các quốc gia trên thế giới. Nó được coi là một nhân tố có tính quyết định sự bền vững của một quốc gia, dân tộc. Việt Nam đang bước vào thời kỳ kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều cơ hội, nhưng cũng đầy khó khăn và thử thách, việc quan tâm, chăm lo xây dựng văn hóa, đặc biệt là văn hóa ở cơ sở ngày càng trở nên cấp thiết hơn. Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng trong việc quan tâm xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, “đảm bảo mỗi nhà máy, nông trường, lâm trường, mỗi đơn vị lực lượng vũ trang, công an nhân dân, cơ quan, trường học, bệnh viện, cửa hàng, mỗi xã, hợp tác xã, ấp đều có đời sống văn hóa” [10, tr.102], nhằm tạo lập môi trường văn hóa cơ sở lành mạnh, huy động mọi tiềm lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, góp phần hạn chế những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường trong tiến trình xây dựng nền văn hóa mới và con người mới. Với mục tiêu phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) năm 1998 của Đảng đã nêu “Văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Chính vì vậy xây dựng đời sống văn hóa cơ sở đang được xác định là một trong 4 giải pháp lớn mà Nghị quyết TW5 (khóa VIII) đã đề ra "Phải đưa văn hoá thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Đặc biệt chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, bảo đảm mỗi nhà máy, công trường, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện đều có đời sống văn hóa” [3, tr.9] Hải Châu là một quận trung tâm, trọng điểm của Thành phố Đà Nẵng, có vị trí đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đối với thành phố. Trong những năm qua, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, cùng với những thành tích trong việc phát triển kinh tế, cải thiện đời sống vật chất, quận Hải Châu đã tích cực triển khai các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại các phường, các cộng đồng dân cư và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, việc xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở đây cũng bộc lộ nhiều mặt bất cập, những thiếu sót, khuyết điểm làm ảnh hưởng tới sự phát triển chung của toàn quận. Mặt khác, trong những năm gần đây, mặt trái của nền kinh tế thị trường kéo theo nhiều tệ nạn xã hội có xu hướng gia tăng trên địa bàn quận. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ những bất cập của công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở của 1 một quận mà thành phần dân cư đa dạng và nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi. Nhận thức được tầm quan trọng của chính sách phát triển văn hóa ở cơ sở, trước những mục tiêu, nhiệm vụ mới mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra, là cán bộ đang công tác tại UBND quận Hải Châu, tôi nhận thấy đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao, cần được nghiên cứu một cách sâu sắc, có hệ thống để tìm ra giải pháp nhằm phát triển văn hóa cơ sở trên địa bàn quận Hải Châu. Do đó, tôi đã mạnh dạn chọn “Chính sách phát triển văn hoá cơ sở trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng” làm Luận văn cao học của mình. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Có thể nhận thấy vấn đề chính sách văn hoá nói chung và chính sách văn hóa cơ sở nói riêng đã thu hút được sự quan tâm của nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học với nhiều công trình nghiên cứu khác nhau. 2.1. Các nghiên cứu về chính sách phát triển văn hoá trên thế giới Sau hàng loạt những khủng hoảng về lối sống, về giá trị, về mô hình phát triển của xã hội đô thị nhiều quốc gia, nửa đầu thế kỷ XX, nhân loại chú trọng hơn tới văn hóa. Chính sách phát triển văn hoá (chính sách văn hoá) - khái niệm cốt lõi của khoa học quản lý văn hóa đã trở thành một mối quan tâm của giới nghiên cứu và lãnh đạo, quản lý vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Năm 1967, Tổ chức văn hóa, khoa học, giáo dục của Liên hiệp quốc (viết tắt là UNESCO) đã tổ chức một hội nghị bàn tròn chuyên gia để bàn luận về chủ đề chính sách văn hóa. Sau rất nhiều tranh luận, các nhà khoa học, các nhà quản lý văn hóa của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra một quan niệm về chính sách văn hóa như sau: “Chính sách văn hóa là một tổng thể các thực tiễn xã hội, có ý thức và có suy nghĩ, những can thiệp và không can thiệp nhằm mục đích thoả mãn một số nhu cầu văn hóa bằng cách sử dụng tối ưu tất cả các nguồn vật chất và nhân lực mà một xã hội nào đó sắp đặt vào thời điểm được cân nhắc kỹ” [65, 23]. Đến năm 1998, tại hội nghị ở Stockhom, trong chương trình hành động của mình, UNESCO một lần nữa lại khẳng định muốn phát triển bền vững nền văn hóa các quốc gia phải hoàn thiện chính sách văn hóa của mình. Cũng với tinh thần đó, một vài công trình được xuất bản ở châu Âu và Mỹ (United States of America) đã đề cập tới chính sách văn hóa với tư cách là một điều kiện khung của quản lý văn hóa và là một phương diện của chính sách xã hội, như cuốn Quản lý văn hóa của Thomas Heinz [59]. 2 Nhằm phục vụ cho việc soạn thảo các dự án luật và những chế độ, chính sách thuộc lĩnh vực văn hóa thông tin, Bộ Văn hoá - Thông tin Việt Nam cũng đã lựa chọn dịch và giới thiệu chính sách văn hóa của một số quốc gia châu Á, châu Âu, châu Phi và Bắc Mỹ trong cuốn Tổng thuật chính sách văn hóa của một số nước trên thế giới [28]. Tuy chính sách văn hóa của mỗi nước có sự khác nhau do chịu sự qui định của các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa của mỗi nước nhưng về cơ bản, có thể thấy chính sách văn hóa của các quốc gia được giới thiệu trong các tài liệu trên nhằm hướng tới các mục tiêu sau: (1) Sưu tầm, giữ gìn và phát huy vốn văn hóa nghệ thuật các dân tộc hoặc đa dân tộc; (2) Xây dựng nền văn hóa vừa dân tộc, vừa hiện đại, làm nổi bật được bản sắc dân tộc; (3) Sáng tạo được nhiều giá trị và thành tựu văn hóa, nghệ thuật có chất lượng tư tưởng và nghệ thuật cao; (4) Xây dựng được một hệ thống bảo quản, phân phối và tiêu dùng những sản phẩm văn hóa nghệ thuật một cách hợp lý, có hiệu quả; (5) Đảm bảo cho đông đảo nhân dân đều được sáng tạo, hưởng thụ và hoạt động văn hóa nghệ thuật, tiến tới công bằng xã hội trên lĩnh vực này; (6) Tạo được một phong trào văn hóa xã hội rộng lớn, phát huy được mọi tiềm năng sáng tạo và hoạt động văn hóa nghệ thuật theo định hướng xây dựng đời sống văn hóa tươi vui, lành mạnh; (7) Xây dựng được một đội ngũ cán bộ văn hóa nghệ thuật đồng bộ (cán bộ quản lý, nghiên cứu, nghiệp vụ, kỹ thuật trên các lĩnh vực hoạt động), có kiến thức chính trị, nghiệp vụ chuyên môn, tư cách đạo đức, nhiệt tình; (8) Từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng mà trọng tâm là các thiết chế văn hóa với đầy đủ các trang thiết bị hiện đại và các phương tiện truyền thông đại chúng; (9) Tăng cường sự hợp tác và giao lưu văn hóa quốc tế vừa làm phong phú đời sống văn hóa của nhân dân mỗi nước, vừa tiếp thu những tinh hoa và thành tựu văn hóa thế giới. [28] 2.2. Các nghiên cứu về chính sách phát triển văn hóa ở Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu về phạm trù văn hóa nói chung từ trước đến nay có rất nhiều công trình, tuy nhiên nghiên cứu riêng biệt về khía cạnh Chính sách văn hóa, đặc biệt là Chính sách văn hóa cơ sở thì còn khá hạn chế. Có thể khái quát một số công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau: Trong công trình Phát triển văn hoá Việt Nam giai đoạn 2011-2020: Những vấn đề phương pháp luận, nhà nghiên cứu Phạm Duy Đức đã bàn đến các vấn đề phương pháp luận nghiên cứu, thực trạng và giải pháp để phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020 căn cứ từ Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020 của nước ta với những định hướng và nhiệm vụ được xác định cụ thể.[7] 3
Tài liệu liên quan