Mức sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước máy sinh hoạt của người dân tỉnh Thái Bình, Việt Nam

Sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent valuation method - CVM) để đánh giá sự sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình đối với nước máy sinh hoạt an toàn phục vụ cho mục đích ăn uống và không bị gián đoạn ở tỉnh Thái Bình, Việt Nam. Kết quả cho thấy các hộ gia đình hiện nay đang tự áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như đầu tư hệ thống xử lý nước tại nhà, sử dụng các nguồn nước thay thế và lắp đặt các thiết bị chứa nước để thích ứng với hệ thống nước máy hiện có. Những hành vi trên cho thấy nhu cầu thực sự đối với việc nâng cấp dịch vụ cấp nước sạch an toàn và đảm bảo hơn và điều này đã được chứng minh bằng kết quả khảo sát về sự sẵn lòng chi trả (Willingness to pay - WTP) và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến WTP. Kết quả đã chỉ ra rằng, các hộ gia đình sẵn sàng trả thêm trung bình 11.415 đồng/m3, tương đương 2,67% thu nhập hộ gia đình trên hóa đơn tiền nước hiện tại để có được các dịch vụ nước máy sinh hoạt an toàn hơn và liên tục. Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức WTP cho thấy thu nhập, trình độ học vấn, độ tuổi, nhận thức về thực trạng hệ thống nước máy, nhu cầu cải thiện hệ thống nước máy và niềm tin về khả năng thực hiện của dự án có tác động đến mức giá sẵn lòng chi trả. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu cũng đã đề xuất các giải pháp liên quan đến quản lý và truyền thông nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy sự sẵn lòng chi trả của dân hướng đến công tác xã hội hóa dịch vụ cấp nước.

pdf11 trang | Chia sẻ: thanhuyen291 | Ngày: 13/06/2022 | Lượt xem: 141 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Mức sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước máy sinh hoạt của người dân tỉnh Thái Bình, Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 12/2020 122 MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ ĐỂ CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC MÁY SINH HOẠT CỦA NGƯỜI DÂN TỈNH THÁI BÌNH, VIỆT NAM Nguyễn Thị Hoài Thương1, Bùi Thị Thu Trang1 TÓM TẮT Sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent valuation method - CVM) để đánh giá sự sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình đối với nước máy sinh hoạt an toàn phục vụ cho mục đích ăn uống và không bị gián đoạn ở tỉnh Thái Bình, Việt Nam. Kết quả cho thấy các hộ gia đình hiện nay đang tự áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như đầu tư hệ thống xử lý nước tại nhà, sử dụng các nguồn nước thay thế và lắp đặt các thiết bị chứa nước để thích ứng với hệ thống nước máy hiện có. Những hành vi trên cho thấy nhu cầu thực sự đối với việc nâng cấp dịch vụ cấp nước sạch an toàn và đảm bảo hơn và điều này đã được chứng minh bằng kết quả khảo sát về sự sẵn lòng chi trả (Willingness to pay - WTP) và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến WTP. Kết quả đã chỉ ra rằng, các hộ gia đình sẵn sàng trả thêm trung bình 11.415 đồng/m3, tương đương 2,67% thu nhập hộ gia đình trên hóa đơn tiền nước hiện tại để có được các dịch vụ nước máy sinh hoạt an toàn hơn và liên tục. Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức WTP cho thấy thu nhập, trình độ học vấn, độ tuổi, nhận thức về thực trạng hệ thống nước máy, nhu cầu cải thiện hệ thống nước máy và niềm tin về khả năng thực hiện của dự án có tác động đến mức giá sẵn lòng chi trả. Dựa trên kết quả phân tích, nghiên cứu cũng đã đề xuất các giải pháp liên quan đến quản lý và truyền thông nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy sự sẵn lòng chi trả của dân hướng đến công tác xã hội hóa dịch vụ cấp nước. Từ khóa: CMV, nước sạch sinh hoạt, Thái Bình, hệ thống nước máy, sự sẵn lòng chi trả. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ§§ Hệ thống xử lý nước và cấp nước đảm bảo số lượng và chất lượng cho sinh hoạt của người dân hiện vẫn là mối quan tâm hàng đầu ở nhiều quốc gia kém và đang phát triển [1]. Hiện nay, nhiều khu vực phải đối mặt với sự mất cân bằng giữa nhu cầu của người dân và khả năng của các công ty cung cấp nước địa phương [2]. Doanh thu từ khách hàng và ngân sách hỗ trợ của Nhà nước thường không đủ để duy trì, nâng cấp các cơ sở hạ tầng hệ thống cấp nước và xử lý nước. Thực tế là, nguồn nước máy hiện nay vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu và thường bị đánh giá là không đảm bảo an toàn [1], [3]. Vì vậy ở Việt Nam, dù đã có hệ thống cấp nước cơ bản thì số lượng hay tính chủ động và chất lượng của nguồn nước máy vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề. Trong những điều kiện như vậy, nhiều hộ gia đình (HGĐ) thường tự khắc phục bằng cách đầu tư các thiết bị xử lý và trữ nước tại nhà hoặc sử dụng các nguồn nước thay thế như nước đóng chai, nước giếng khoan hay nước mưa. Tuy nhiên, tổng chi phí đầu tư cho nguồn nước thay thế hay thiết bị trữ và xử lý nước tại nhà thường 1 Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội cao hơn nhiều so với phí mua nước từ hệ thống nước máy công cộng [4]. Chính vì vậy, không phải HGĐ nào cũng có khả năng thực hiện. Quan trọng hơn, các thiết bị xử lý và lưu trữ nước tại nhà khó có thể đảm bảo chất lượng nước, đáp ứng yêu cầu “nước ăn uống trực tiếp” cho HGĐ đầu tư. Thiếu thông tin về sự quan tâm của HGĐ liên quan đến việc cải thiện dịch vụ cấp nước gây ảnh hưởng lớn đến tính khả thi khi triển khai các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng của hệ thống nước máy công cộng [5], [6]. Những hiểu biết về mức sẵn lòng chi trả và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của người dân có thể giúp xác định mức độ quan tâm đến dịch vụ cấp nước sạch. Từ đó, cơ quan chức năng có thể xây dựng các chính sách thích hợp về tiêu chí đầu tư, giá cả dịch vụ, giúp đảm bảo kinh phí duy tu, bảo trì và nâng cấp hệ thống xử lý nước máy an toàn và đảm bảo [3], [7], [8]. Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent valuation method - CVM) là một loại phương pháp tiếp cận dựa trên việc khảo sát trực tiếp sự ưa thích để tính ra giá trị, thường được sử dụng để định giá hàng hóa chất lượng môi trường [9]. Bằng cách xây dựng một tình huống giả định, người ta phải xác định KHOA HỌC CÔNG NGHỆ N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 12/2020 123 được hàm cầu về hàng hóa môi trường thông qua sự sẵn lòng chi trả (Willingness to pay - WTP). Trong nghiên cứu này, tình huống giả định là chất lượng nước hoặc độ đảm bảo của hệ thống cấp nước [10]. Một tình huống giả định đưa ra đủ tính khách quan, người trả lời đúng với hành động thực tế của họ thì phương pháp được đánh giá đủ chính xác. Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về WTP liên quan đến dịch vụ nước sạch, đặc biệt ở các cộng đồng nông thôn [2], [11-13]. Nhưng ở Việt Nam, vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mức và hầu như chưa có những dữ liệu thực nghiệm có giá trị, gây ra rào cản đáng kể trong việc cải tiến hệ thống cấp nước [15]. Chính vì vậy, đã thực hiện nghiên cứu này với mục tiêu là đánh giá hiện trạng sử dụng nước và điều tra mức sẵn lòng chi trả kết hợp với phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các HGĐ đối với việc cải tiến dịch vụ nước máy. Hi vọng rằng các ước tính giá trị từ nghiên cứu có thể góp phần tăng tính khả thi của chính sách thu hút nguồn vốn xã hội hóa, nhằm cải thiện hệ thống cung cấp nước máy tại Việt Nam. 2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Khu vực nghiên cứu và đặc điểm hệ thống nước máy Thái Bình là tỉnh đồng bằng được bao bọc bốn phía là biển và sông, với vị trí địa lý nằm từ 20017 - 20044 vĩ độ Bắc và 106006 - 106039 kinh độ Đông. Nằm trong vùng có lợi thế của khu tam giác kinh tế đồng bằng Bắc bộ (Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), tỉnh Thái Bình được chia ra làm 8 đơn vị hành chính cấp huyện/thành phố (bao gồm: thành phố Thái Bình, huyện Kiến Xương, huyện Vũ Thư, huyện Đông Hưng, huyện Quỳnh Phụ, huyện Hưng Hà, huyện Tiền Hải và huyện Thái Thụy). Dân số tỉnh Thái Bình tính đến năm 2018 là 1.789.942 người, với 531.463 HGĐ. Mật độ dân số trung bình là 1.128 người/km2 (trong đó mật độ cao nhất tại thành phố Thái Bình là 2.745 người/km2) với tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khoảng 9,0‰ (2018). Số người trong độ tuổi lao động là 1.104,72 nghìn người trong đó lao động nữ chiếm 52,38% [16]. Với đặc điểm như trên, nhu cầu nước an toàn phục vụ sinh hoạt của tỉnh Thái Bình ngày càng gia tăng. Về công tác quản lý và khai thác nước máy sinh hoạt, Ủy ban nhân dân tỉnh đóng vai trò lập kế hoạch tài chính, đưa ra các quyết định về giá nước. Trong việc vận hành hệ thống cấp nước, chính quyền địa phương ký hợp đồng với doanh nghiệp nhà nước hoặc một công ty tư nhân. Đơn vị quản lý khai thác công trình cấp nước sinh hoạt tập trung có trách nhiệm quản lý vận hành công trình và thu tiền nước từ các tổ chức, HGĐ dùng nước theo quy định. Cơ sở hạ tầng cần thiết vẫn là tài sản của Nhà nước như đã nêu trong Luật Tài nguyên Nước. Nhìn chung, tỉnh Thái Bình có hệ thống cấp nước sạch tập trung khá phát triển bước đầu đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của người dân. Tỉnh hiện có 4 nhà máy nước ở khu vực thành phố (đạt công suất khai thác 92.000 m3/ngày đêm) và một số công trình cấp nước sinh hoạt tập trung ở khu vực nông thôn (với công suất thiết kế 368.950 m3/ngày/đêm) cung cấp nước sạch cho 100% số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh. Trong năm 2018, Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh đã thực hiện giám sát chất lượng tại 70 cơ sở cấp nước, với tổng số 210 mẫu [17]. Về nguồn cấp nước, tổng lượng tài nguyên nước của tỉnh Thái Bình bị chi phối chủ yếu bởi dòng chảy của các con sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình và một số sông nội đồng khác [16], do vậy, có nhiều biến động và khó kiểm soát. Bên cạnh đó, dù tỉnh Thái Bình được đánh giá có tiềm năng nước dưới đất khá phong phú, nhưng nguồn nước dưới đất có chất lượng không ổn định, với các vùng nước mặn nhạt đan xen, đặc biệt ở các khu vực Nam và Đông Nam giáp biển. Nước máy sinh hoạt được lấy chủ yếu từ nguồn nước mặt, được xử lý bằng clo theo công nghệ cũ, trước khi phân phối qua hệ thống đường ống [17]. Hiện nay, hệ thống cấp nước tại tỉnh Thái Bình đang phải đối mặt với một số thách thức. Các đường ống đã cũ và hư hỏng, hiện tượng rò rỉ tại các mối nối diễn ra khá phổ biến, dẫn đến một lượng nước lớn bị thất thoát (32%) trước khi đến người tiêu dùng. Do đó hiện nay, đa số các HGĐ tự đầu tư các thiết bị chứa nước để thích ứng với hệ thống cấp nước không liên tục, thường thấy các bể chứa nước được lắp đặt trên các mái nhà. Ngoài việc không đáng tin cậy, nước máy công cộng có nguy cơ bị ô nhiễm và không thực sự an toàn để sử dụng. Kết quả kiểm định gần đây cho thấy chất lượng nước đầu vào trên các sông Hồng, Luộc, Hóa, Trà Lý, Kiến Giang, Tiên Hưng và các sông nội đồng khác đều bị ô nhiễm các chỉ tiêu TSS, COD, BOD5, coliform vượt ngưỡng tiêu chuẩn cho phép [17]. Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm năm 2018 tại các lỗ khoan quan trắc trên địa bàn tỉnh Thái Bình cũng đã xác định KHOA HỌC CÔNG NGHỆ N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 12/2020 124 một số chỉ tiêu chưa đáp ứng mục đích sử dụng nguồn nước, như NH4, clorua, mangan, đặc biệt là chỉ tiêu Fe vượt tiêu chuẩn ở 11/12 vị trí thử nghiệm. Trong tổng số 12 giếng quan trắc, không có giếng nào đảm bảo tiêu chuẩn toàn bộ 100% các chỉ tiêu [17]. Vì vậy việc tăng cường các nỗ lực quản lý và đầu tư liên quan đến nước hiện nay ở tỉnh Thái Bình để đảm bảo cung cấp nước đầy đủ liên tục và chất lượng nước tốt hơn là hết sức cần thiết. Do đó, việc nâng cao hiểu biết về WTP của HGĐ cho nước máy sinh hoạt an toàn và đảm bảo, có thể cung cấp các dữ liệu đầu vào quan trọng cho quá trình lập kế hoạch của tỉnh Thái Bình. 2.2. Phương pháp thu thập và chọn mẫu nghiên cứu Theo Trung tâm Thông tin và Phân tích dữ liệu Việt Nam, nghiên cứu được triển khai trên địa bàn rộng có thể áp dụng công thức tính cỡ mẫu xác định số lượng người dân tham gia khảo sát là: (1) Trong đó: n: cỡ mẫu; z: 1,96 với độ tin cậy 95%; p: ước tính tỷ lệ ước tính của tổng thể (50%); khả năng lớn nhất q = 1-p; e = sai số cho phép (0,05). Số lượng người tham gia khảo sát tính toán theo công thức là ≥ 384 mẫu. Bên cạnh đó phương pháp sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến WTP được sử dụng cho nghiên cứu này là phân tích hồi quy trên mô hình cấu trúc tuyến tính. Để đạt được ước lượng tin cậy của phương pháp, kích thước mẫu được xác định [18]: n ≥ 50+8 x m (2) Trong đó: n: cỡ mẫu; m là số biến độc lập của mô hình. Đối với nghiên cứu này mô hình hồi quy sử dụng 11 biến độc lập nên quy mô mẫu là: n ≥ 50+11 x 8=138. Do đó để đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu đã tiến hành khảo sát ngẫu nhiên 400 người (đại diện cho 400 HGĐ) ở 2 huyện và 1 thành phố đại diện cho tỉnh Thái Bình bao gồm: thành phố Thái Bình, huyện Hưng Hà và huyện Thái Thụy. Kết quả 386 bảng hỏi đạt yêu cầu để đưa vào phân tích. Thông tin cơ bản về mẫu điều tra thể hiện ở bảng 1. Bảng 1. Phương pháp chọn mẫu, dung lượng và đặc điểm cơ bản của mẫu điều tra Tiêu chí Thành phố Thái Bình Huyện Hưng Hà Huyện Thái Thụy Tỷ lệ (%) Tổng số người điều tra 143 124 119 100 Giới tính Nam (người) 41 23 3 17,4 Nữ (người) 103 101 116 82,9 Số nhân khẩu trung bình (người) 4 6 5 Trình độ học vấn trung bình (năm) 12 9 10 Tuổi trung bình (năm) 38 41 45 Thu nhập bình quân (triệu đồng/người/năm) 52,08 50,23 48,02 Chủ sở hữu (người) 140 119 118 97,7 (Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2019) Hầu hết những người được hỏi là nữ (82,9%), với độ tuổi trung bình là 41 và trình độ giáo dục trung bình 11 năm đi học. Quy mô HGĐ xấp xỉ 5 người và hơn 97% số người được hỏi có nhà riêng. Thu nhập trung bình của 2 huyện và 1 thành phố đại diện cho tỉnh Thái Bình là 50,11 triệu đồng/người/năm. Số liệu sơ cấp về mức sẵn lòng chi trả và dữ liệu phân tích yếu tố ảnh hưởng được thực hiện bằng phương pháp CVM. Trong nghiên cứu này, để khắc phục một số hạn chế của CMV trước khi điều tra chính thức, đã thực hiện điều tra thử 10 phiếu hỏi thử nhằm điều chỉnh kịch bản, bảng hỏi cho phù hợp. Trong phiếu điều tra thử, các mức giá được đưa ra ở dạng câu hỏi mở, người trả lời sẽ tự đưa ra mức giá sẵn lòng chi trả cao nhất. Đây cũng là tham chiếu để chọn ra mức giá phù hợp sử dụng cho điều tra chính thức. Phiếu điều tra chính thức bao gồm 3 phần: Phần 1: Xây dựng các câu hỏi nhằm thu thập các thông tin liên quan đến nhận thức về hiện trạng hệ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 12/2020 125 thống cấp nước và chất lượng nước hiện tại, việc sử dụng nước, biện pháp trữ và xử lý nước mà gia đình đang áp dụng. Phần 2: Phần định giá WTP, xây dựng kịch bản với phần mô tả đặc điểm của hệ thống nước hiện có và sự cải tiến về tiêu chuẩn chất lượng nước an toàn cho nhu cầu ăn uống. Kịch bản được trình bày cụ thể như sau: Hiện nay, việc cung cấp nước máy ở tỉnh Thái Bình thường bị gián đoạn và nước máy nói chung không đảm bảo phục vụ cho nhu cầu ăn uống một cách an toàn. Giả sử rằng người dân tỉnh Thái Bình sẽ có cơ hội bỏ phiếu ủng hộ hoặc không ủng hộ dự án xây dựng và áp dụng công nghệ nhằm cải thiện chất lượng nước (giảm vi khuẩn, vi nấm và kim loại nặng) và đầu tư cho các dự án bảo vệ và khai thác bền vững tài nguyên nước hiện đang có nguy cơ cạn kiệt và ô nhiễm. Dự án này sẽ giảm thiểu ô nhiễm, cung cấp đầy đủ nguồn nước và giúp nước máy ở tỉnh Thái Bình an toàn phục vụ cho nhu cầu ăn uống trực tiếp theo các tiêu chuẩn được quốc tế chấp nhận. Để thực hiện dự án này, hơn 50% cư dân của tỉnh Thái Bình phải bỏ phiếu cho dự án. Nếu dự án được chấp thuận, để xây dựng và bảo trì hệ thống nước mới cũng như đóng góp vào quỹ bảo vệ nguồn nước, một số tiền mỗi tháng sẽ được thêm vào hóa đơn tiền nước của gia đình ngoài số tiền mà gia đình hiện tại phải trả. Tiếp theo, là câu hỏi thăm dò mức sẵn lòng chi trả của người dân. Trong nghiên cứu này, người được phỏng vấn sẽ được hỏi “có đồng ý với mức giá WTP khởi điểm hay không?” Nếu “có” họ sẽ được hỏi có sẵn lòng trả thêm ở mức giá cao hơn và tiếp tục cho đến mức giá cao nhất; nếu “không” họ sẽ được hỏi số tiền cao nhất có thể chi trả là bao nhiêu? Trong nghiên cứu này sau khi cân nhắc mức WTP ở phiếu điều tra thử, mức WTP khởi điểm được tính dựa trên đơn giá nước sạch hiện tại là 7.300 đồng/m3. Các mức WTP thực tế đề xuất mức chi trả của hộ trên cơ sở tỷ lệ gia tăng lần lượt là 20% mỗi mức so với mức WTP cơ sở và được làm tròn. Theo đó, WTP thực tế = WTP cơ sở *(1 + i*20%) = các giá trị lần lượt là 7.300; 9.000; 1.000; 13.000; 15.000; 18.000; 22.000 đồng/m3/tháng. Phần 3 là phần thông tin cá nhân gồm họ tên, năm sinh, giới tính, trình độ học vấn, thu nhập bình quân. 2.3. Phương pháp xử lý số liệu và mô hình nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh... Để phân tích thực trạng sử dụng nước sạch và phương pháp chuyên gia để đề xuất giải pháp. Tính toán WTP trung bình: (3) Trong đó, i chỉ số quan sát (i= 1 - 386), n là tổng số quan sát, WTPi là mức sẵn lòng chi trả của người thứ i. Tổng WTP cho 531.463 HGĐ ở tỉnh Thái Bình được tính là: ƩWTP = WTPTB x Tổng số hộ dân tỉnh Thái Bình x Tỷ lệ số HGĐ sẵn lòng chi trả x Lượng nước bình quân sử dụng hàng tháng của HGĐ (4) Một số nghiên cứu thực nghiệm trước đây ghi nhận rằng người tiêu dùng nhạy cảm đối với sự thay đổi giá cả hàng hóa [19]. Các yếu tố đặc điểm cá nhân như tuổi, trình độ học vấn và quyền sở hữu nhà riêng... được kể đến như là các yếu tố quyết định đến mức WTP. Phương pháp hồi quy tuyến tính để xác định sự ảnh hưởng của các yếu tố đến sự sẵn lòng trả tiền và sử dụng phương pháp tham số để phân tích sự sẵn lòng chi trả. Nghiên cứu giả định mức WTP của các HGĐ là biến phụ thuộc, được giải thích bằng các biến độc lập. Mô hình tổng quan có dạng sau: (5) Trong đó: i là chỉ số các quan sát; j là chỉ số của các biến; βo là hệ số chặn; βi là hệ số hồi quy; Xj là biến giải thích j (j=1-10); Xij là các giá trị quan sát thứ i của biến Xj; Ui là sai số ngẫu nhiên. Trước khi tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân tích tương quan Pearson để kiểm tra tính tin cậy và phù hợp của mô hình phân tích cũng đã được thực hiện. Dựa trên kết quả nghiên cứu lý thuyết và khảo sát, đã xây dựng mô hình nghiên cứu gồm 11 nhóm nhân tố với 15 biến quan sát kỳ vọng. Danh sách các biến được thể hiện ở bảng 2. KHOA HỌC CÔNG NGHỆ N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 12/2020 126 Bảng 2. Danh sách biến được lựa chọn, giả thuyết và mô tả thống kê Danh sách biến Ký hiệu Mô tả biến Đơn vị Kỳ vọng Trung bình Độ lệch chuẩn Biến phụ thuộc WTP Mức phí sẵn lòng trả thêm ngoài số tiền nước hiện tại Nghìn đồng/m3 + 11,415 4,62 Biến độc lập Thu nhập bình quân X1 Phân nhóm thu nhập của HGĐ, bằng triệu đồng (0= thu nhập < 5 triệu, 1= 5 -10 triệu, 2 = từ 10 triệu - 15 triệu, 3 = từ 15 triệu - 20 triệu, 4 = từ 20 triệu đến 30 triệu, 5 = trên 30 triệu đồng + 3,17 2,88 Đánh giá hệ thống dịch vụ nước máy X2 04 biến đánh giá dịch vụ nước máy. Điểm trung bình đánh giá theo thang đo linker 5 điểm: 1 = rất kém, 2 = kém, 3 = bình thường, 4 = tốt, 5 = rất tốt Điểm - 3,30 0,83 Tuổi X3 Tuổi của người trả lời Năm + 41,07 14,85 Trình độ giáo dục X4 Số năm đi học Năm + 10,77 4,39 Nhu cầu cải thiện hệ thống nước máy D1 Biến giả; nhu cầu cải thiện nước máy sẽ cung cấp nước (1 = nước ăn uống an toàn và cung cấp liên tục; 0 = nước an toàn và nguồn cung cấp có thể bị gián đoạn) + 0,67 0,47 Trữ nước tại nhà D2 Biến giả, HGĐ có thiết bị trữ nước tại nhà = 1, HGĐ không có thiết bị trữ nước tại nhà = 0 Xử lý nước D3 Biến giả, HGĐ có thiết bị xử lý nước = 1, HGĐ không có thiết bị xử lý nước = 0 Điểm - 3,30 0,83 Chủ sở hữu D4 Biến giả; HGĐ được hỏi là chủ sở hữu của ngôi nhà (1 = Có, 0 = Ngược lại) Người + 0,83 0,38 Sự quan tâm D5 Biến giả, nếu người trả lời thể hiện bất kỳ sự quan tâm nào bằng cách hỏi bất kỳ câu hỏi liên quan đến việc triển khai hệ thống nước khi phỏng vấn (1 = Có; 0 = Nếu không) Điểm + 0,39 0,49 Tin vào tiềm năng thực hiện của dự án D6 Biến giả, người dân tin rằng dự án sẽ được triển khai ở tỉnh Thái Bình = 1, không = 0 + 0,67 0,47 (Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2019) 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1. Thực trạng sử dụng nước máy sinh hoạt của người dân tỉnh Thái Bình 3.1.1. Tình hình sử dụng nước sinh hoạt của người dân tham gia khảo sát Theo báo cáo kết quả sử dụng nước sạch sinh hoạt nông thôn trên địa bàn tỉnh Thái Bình đến hết ngày 15/6/2018 tỷ lệ dân cư tỉnh Thái Bình được sử dụng nước sạch là 94,2% [15]. Kết quả khảo sát về nguồn nước sinh hoạt đang sử dụng được thể hiện ở hình 1. Hình 1. Tỷ lệ phần trăm nguồn nước sử dụng chủ yếu cho sinh hoạt của các hộ gia đình khảo sát (N = 386) KHOA HỌC CÔNG NGHỆ N«ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n«ng th«n - KỲ 2 - TH¸NG 12/2020 127 Ngoài việc sử dụng nguồn nước chính là nước máy thì người dân còn sử dụng thêm nguồn nước từ giếng khoan, nước mưa trong bể chứa cho sinh hoạt và nhu cầu ăn uống. Ngoài ra, có một số các hộ dân sinh sống gần bờ sông, sử dụng thêm nguồn nước từ sông, ao hồ mà chưa qua xử lý cho các mục đích sinh hoạt khác. Theo kết quả điều tra, lý do một số HGĐ ngoài việc sử dụng nước máy còn kết hợp sử dụng các nguồn nước là do họ cho rằng chất lượng nước máy cũng giống với chất lượng của các nguồn nước khác như nước giếng khoan (25%), thậm chí nhiều người tin rằng nguồn nước mưa vẫn được cho là sạch hơn nước máy (43%). Khoảng 8% HGĐ có thu nhập thấp khôn
Tài liệu liên quan