So sánh tính hiệu quả của coblator và tia laser trong cắt amidan ở người lớn và trẻ em tại TP HCM

Đặt vấn đề: Hiện nay bác sĩ Tai Mũi Họng ở TP.Hồ Chí Minh có xu hướng cắt amidan với dụng cụ mới, dụng cụ coblator, và cũng có nơi cắt amidan với tia laser. Chúng tôi muốn biết hiệu quả của hai dụng cụ này. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu: Đây là đề tài so sánh hiệu quả của hai dụng cụ nói trên. Chúng tôi tìm ra chín tiêu chuẩn so sánh, đó là thời gian cắt amidan hai bên, lượng máu mất trong lúc cắt, độ đau sau cắt, chảy máu sau cắt, độ bỏng hố mổ, tỉ lệ nhiễm trùng, sẹo sau mổ, thời gian điều trị nội khoa thêm và chi phí cho một ca. Cắt amidan được thực hiện tại bốn bệnh viện: bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM (coblator trẻ em)), bệnh viện Nhi đồng 1 (laser trẻ em), bệnh viện Đại học Y Dược Cơ sở 2 (coblator người lớn) và bệnh viện ITO (laser người lớn). Mỗi bệnh viện cắt amidan 50 bệnh nhân. Kết quả: So sánh chín tiêu chuẩn đạt được, chúng tôi nhận thấy cắt amidan với coblator độ bỏng hố mổ nhẹ hơn, đau sau mổ ít hơn, dùng thuốc giảm đau ít hơn và bệnh nhân trở lại sinh hoạt thường ngày sớm hơn. Bàn luận: Cắt amidan với dụng cụ coblator trong môi trường có nước, độ nóng 60oC và cắt amidan với tia laser ở môi trường không có nước, độ nóng 800C. So kết quả của hai dụng cụ, chúng ta nhận thấy cắt amidan với dụng cụ coblator độ bỏng nhẹ hơn, đau sau mổ ít hơn, trở lại sinh hoạt sớm hơn. Kết luận: Như vậy tính hiệu quả cắt amidan với coblator cao hơn với tia laser,

pdf7 trang | Chia sẻ: thanhuyen291 | Ngày: 14/06/2022 | Lượt xem: 93 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu So sánh tính hiệu quả của coblator và tia laser trong cắt amidan ở người lớn và trẻ em tại TP HCM, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 203 SO SÁNH TÍNH HIỆU QUẢ CỦA COBLATOR VÀ TIA LASER TRONG CẮT AMIDAN Ở NGƯỜI LỚN VÀ TRẺ EM TẠI TP.HCM Nhan Trừng Sơn*, Huỳnh Khắc Cường*, Nguyễn Hữu Khôi*, Nguyễn Nam Hà*, Nguyễn Thị Ngọc Dung*, Phan Thị Thảo*, Đặng Hoàng Sơn*, Trần Anh Tuấn*, Nguyễn Thành Đông*, Nguyễn Ngọc Minh* TÓM TẮT Đặt vấn đề: Hiện nay bác sĩ Tai Mũi Họng ở TP.Hồ Chí Minh có xu hướng cắt amidan với dụng cụ mới, dụng cụ coblator, và cũng có nơi cắt amidan với tia laser. Chúng tôi muốn biết hiệu quả của hai dụng cụ này. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu: Đây là đề tài so sánh hiệu quả của hai dụng cụ nói trên. Chúng tôi tìm ra chín tiêu chuẩn so sánh, đó là thời gian cắt amidan hai bên, lượng máu mất trong lúc cắt, độ đau sau cắt, chảy máu sau cắt, độ bỏng hố mổ, tỉ lệ nhiễm trùng, sẹo sau mổ, thời gian điều trị nội khoa thêm và chi phí cho một ca. Cắt amidan được thực hiện tại bốn bệnh viện: bệnh viện Tai Mũi Họng TP.HCM (coblator trẻ em)), bệnh viện Nhi đồng 1 (laser trẻ em), bệnh viện Đại học Y Dược Cơ sở 2 (coblator người lớn) và bệnh viện ITO (laser người lớn). Mỗi bệnh viện cắt amidan 50 bệnh nhân. Kết quả: So sánh chín tiêu chuẩn đạt được, chúng tôi nhận thấy cắt amidan với coblator độ bỏng hố mổ nhẹ hơn, đau sau mổ ít hơn, dùng thuốc giảm đau ít hơn và bệnh nhân trở lại sinh hoạt thường ngày sớm hơn. Bàn luận: Cắt amidan với dụng cụ coblator trong môi trường có nước, độ nóng 60oC và cắt amidan với tia laser ở môi trường không có nước, độ nóng 800C. So kết quả của hai dụng cụ, chúng ta nhận thấy cắt amidan với dụng cụ coblator độ bỏng nhẹ hơn, đau sau mổ ít hơn, trở lại sinh hoạt sớm hơn. Kết luận: Như vậy tính hiệu quả cắt amidan với coblator cao hơn với tia laser, Từ khóa: Dụng cụ coblator, laser CO2, cắt amidan, ngẫu nhiên, chảy máu sau cắt amidan, đau sau cắt amidan, nhiễm trùng sau mổ. SUMMARY COMPARISON WITH THE EFFECTS OF COBLATOR INSTRUMENT AND LASER CO2 IN TONSILLECTOMY ON ADULTS AND CHILDREN AT HCM CITY Nhan Trung Son, Huynh Khac Cuong, Nguyen Huu Khoi, Nguyen Nam Ha, Nguyen Thi Ngoc Dung, Phan Thi Thao, Dang Hoang Son, Tran Anh Tuan, Nguyen Thanh Dong, Nguyen Ngoc Minh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 203 - 209 Background: Nowadays lots of ENT doctors in HCM.City trend to use two new kinds of instrument for tonsillectomy (coblator and laser). We want to realize the efficiency of the two instruments. In this work we are going to compare the efficiency of the two instruments. Material and method: We find nine standards of comparison: time of tonsillectomy, haemorrhage during tonsillectomy, post-tonsillectomy pain, post-tonsillectomy haemorrhage, burn of tissue, post-surgery infection, sticked pseudomembrane, time of supplement internal medicine and cost for a case of tonsillectomy. * Bộ môn Tai Mũi Họng – Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Tác giả liên lạc: PGS.TS. Nhan Trừng Sơn, ĐT: 0989351731 Email: sondieu@hcm.fpt.vn Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 204 Tonsillectomy was executed at four hospitals: HCM.C. ENT Hospital (coblator on children), Children Hospital N.1 ((laser on children), University Hospital section 2 (coblator on adults) and ITO Hospital (laser on adults) on adults. Each of them takes charge of 50 patients. Results: Comparising the nine completely done standards, we see: with coblator instrument, we get the result that burn degree is lighter, post-tonsillectomy pain is less, using pain-relief medicine is less and that patients return to normal activity sooner. Discussion: For tonsillectomy, we use coblator instrument in water at 600C or use laser without water at 800C. Comparising the results of the two instruments, we find that with coblator instrument, we get the result that burn degree is lighter, post-tonsillectomy pain is less, using pain-relief medicine is less and that patients return to normal activity sooner. Conclusion: So the efficiency of coblator instrument for tonsillectomy is higher than the one of laser.. Keyword: coblator instrument, laser CO2, tonsillectomy, random, post tonsillectomy haemorrhage, post tonsillectomy pain, post surgery infection. ĐẶT VẤN ĐỀ Như chúng ta biết, viêm A (viêm amidan khẩu cái – còn gọi tắt là viêm amidan) là bệnh thường gặp trong tai mũi họng. Vấn đề điều trị viêm amidan hiện nay được coi là ổn định. Phẫu thuật cắt amidan là phẫu thuật được thực hiện nhiều trong chuyên khoa Tai Mũi Họng. Chính vì amidan khẩu cái có nhiệm vụ miễn dịch cho nên điều trị viêm amidan cần phải có nhiều hiểu biết về vai trò của amidan khẩu cái. Amidan giúp cơ thể ta bảo vệ chống tác hại bên ngoài. Chúng ta có(11): Bảo vệ không đặc hiệu: Niêm mạc là hàng rào cản. Niêm mạc tiết ra dịch nhầy làm giảm xâm nhập vi khuẩn. Trong vùng niêm mạc, ta có một số hệ sinh vật cộng sinh, cùng với chúng ta chống xâm nhập từ bên ngoài. Các bạch cầu, các đại thực bào sẽ tiêu diệt tác nhân gây hại. Bảo vệ đặc hiệu: Hệ thống miễn dịch của cơ thể có nhiệm vụ loại trừ các vật lạ (kháng nguyên) nhằm bảo vệ cơ thể. Khi có kháng nguyên vào amidan, ban đầu amidan tự bảo vệ bằng cơ chế không đặc hiệu, sau đó bằng sử dụng bạch cầu, đại thực bào, hệ thống bổ thể để diệt tác nhân thâm nhập. Nếu không thành công, amidan sẽ bảo vệ cơ thể bằng phương pháp đặc hiệu, tức là phương pháp miễn dịch, tạo ra kháng thể. Cắt amidan là một thủ thuật đầu tay của các bác sĩ Tai Mũi Họng. Đây là một thủ thuật thường qui mà các bác sĩ Tai Mũi Họng thực hiện khá nhiều và đạt thành công theo ý muốn. Phương pháp cổ điển vẫn là phương pháp bóc tách thòng lọng. Trong phương pháp này chúng ta rạch niêm mạc trụ trước với dao số 12, bóc tách amidan với dụng cụ bóc tách và cắt cuống amidan với thòng lọng Tyding hoặc Vacher. Cách nay hơn 10 năm, với đà phát triển về dụng cụ, thế giới đã phát minh ra một số dụng cụ mới để cắt amidan. Chúng tôi xin kể ra đây một số dụng cụ như dao điện đơn cực, dao điện lưỡng cực, coblator, microdebrider, tia laser, dao hòa âm (harmonic scalpel), dụng cụ hàn nhiệt (thermal Welding), kéo lưỡng cực Trong những dụng cụ này có 2 dụng cụ được sử dụng nhiều ở một số trung tâm lớn tại TP.HCM, đó là dụng cụ coblator và tia laser. Hai dụng cụ này đã giúp các bác sĩ Tai Mũi Họng giải quyết số lớn bệnh nhân bị viêm amidan và đạt kết quả cao. Tuy nhiên chúng ta cần phải nắm tính hiệu quả của hai dụng cụ này để chúng ta phát triển hầu hỗ trợ một phần nào trong công tác cắt amidan. Chúng tôi, nhóm nghiên cứu, xin thực hiện đề tài: “So sánh tính hiệu quả của coblator và tia laser trong cắt amidan ở người lớn và trẻ em tại TP.HCM”. Mục tiêu nghiên cứu 1. Tìm tính hiệu quả trong cắt amidan với tia laser diode ở trẻ em. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 205 2. Tìm tính hiệu quả trong cắt amidan với tia laser CO2 ở người lớn. 3. Tìm tính hiệu quả trong cắt amidan với coblator ở trẻ em. 4. Tìm tính hiệu quả trong cắt amidan với coblator ở người lớn 5. So sánh tính hiệu quả của coblator và tia laser trong cắt amidan ở người lớn và trẻ em tại TP.HCM. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Bệnh nhân có chỉ định cắt amidan dược đưa vào phẫu thuật một cách ngẫu nhiên với phương pháp 1 bỏ 2 – 3, không giới hạn nam-nữ, nơi ở, tuổi vv Bệnh nhân được cắt amidan từ 01.06.2009 đến 31.08.2009. Cỡ mẫu Chúng tôi áp dụng công thức: 2 2 )1(. d ppC n   để tính cỡ mẫu, trong đó C = 1.96, d = 0.05. Theo Kothari, tỉ lệ thành công của cắt amidan bằng tia laser là 96.51%, như vậy p = 0.9651 và n sẽ là 51. Chúng tôi lấy số tròn là 50. Thiết kế lâm sàng chọn lựa ngẫu nhiên Chỉ định: Chúng tôi áp dụng chỉ định cắt amidan của Hội tai Mũi Họng & Cổ Mặt Hoa Kỳ năm 2000: 1. Viêm amidan mạn với đợt cấp trên 3 lần trong năm; 2. Viêm amidan phì đại gây lệch khớp cắn hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến biến dạng khối sọ mặt; 3. Viêm amidan phì đại gây tắc nghẽn đường hô hấp trên; 4. Áp-xe quanh amidan không đáp ứng với điều kiện nội khoa và dẫn lưu; 5. Viêm amidan mạn có liên cầu, không đáp ứng với kháng sinh nhóm be6ta-lactam; 6. Quá phát amidan 1 bên gây u; 7. Viêm amidan mạn gây biến chứng vùng lân cận và 8. Hơi thở hôi(4,8,9). Chọn bệnh: Chọn bệnh theo đúng chỉ định theo nguyên tắc ngẫu nhiên, lấy 1 bỏ 2 hay 3. Lúc phẫu thuật cỡ mẫu có thể lên đến 55 ca, nhưng sau đó loại bỏ những ca không đủ điều kiện. Tính khách quan: Sau chọn bệnh ngẫu nhiên, chúng tôi đưa các dữ kiện của bệnh nhân vào Bảng câu hỏi có rạch phách, có ẩn số. Sau khi cắt amidan, lấy đủ dữ kiện, phách được rọc, phần Hành chánh được lấy ra, chỉ còn phần dữ kiện bệnh. Tập hợp, khai thác thống kê dữ kiện mà không biết bệnh nhân. Người thống kê là một điều dưỡng không biết gì về nghiên cứu. Như vậy nghiên cứu này có tính cách mù đôi. Tiêu chuẩn chọn bệnh: Có chỉ định, xét nghiệm tiền phẫu đạt yêu cầu. Bệnh nhân hay gia đình đồng ý hợp tác đúng theo tinh thần Y đức. Bệnh nhân phải tuân theo mọi yêu cầu nghiên cứu. Có đủ tiêu chuẩn so sánh. Không bệnh nan y, bệnh về máu, gan, thận. Tiêu chuẩn loại trừ: Gia đình hay bệnh nhân không đồng ý hợp tác. Hồ sơ không đầy đủ. Có bệnh cấp, bệnh gan, phổi, thận, máu. Phương pháp cắt amidan: Sau khi chọn bệnh và ghi đầy đủ bệnh án theo Bảng câu hỏi, bệnh nhân được gây mê nội khí quản tư thế nằm ngửa. Bệnh nhân được cắt amidan với tia laser diode màu xanh. Đây là tác dụng của điện trên chất thạch anh. Chúng ta vận hành dụng cụ tia laser diode. Sau khi bật nút “ON” chúng tôi đưa cường độ lên từ 2, 3, 4, có thể 5. Con số này tùy theo phẫu thuật viên chọn để có thể thao tác cắt amidan dễ dàng(5). Ban đầu dùng tia cắt cách bờ trụ trước khoảng 2mm, đi dần, theo bao của amidan để cắt mặt ngoài amidan. Sau đó vào cực dưới và cực trên. Cuối cùng tách rời trụ sau với khối amidan. Cầm máu bằng cách đốt với tia laser. Trong lúc cắt, một điều dưỡng ở ngoài tính thời gian cắt amidan 2 bên từ lúc để banh miệng đến lúc tháo banh miệng. Trước khi cắt, nên hút sạch nước bọt. Trong lúc cắt, hút máu chảy vào một bình. Có thể hút thêm nước ở ngoài để tránh nghẹt ống hút. Nhớ đo lượng nước hút để trừ ra. Nếu có dùng bông ép ầm máu, phải cân tiểu ly bông trước khi dính máu và sau khi dính máu. Chênh lệch trọng lượng Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 206 của bông nói lên trọng lượng máu đã thấm vào bông. Lượng máu mất là lượng máu trong bô máu trừ lượng máu đã hút cộng thêm chênh lêch trọng lượng của bông, nếu có. Chảy máu sau cắt amidan: Sau cắt amidan, bệnh nhân được nằm, để khăn trắng và ẩm dưới miệng. Bệnh nhân đùa nước bọt. Nếu nước bọt có dây máu đỏ là không chảy máu. Nếu dịch đùa ra là máu tươi liên tục là có chảy máu. Định độ bỏng của amidan là lấy một mảnh ỏ phàn goài của amidan đã cắt, thử giải phẫu bệnh lý. Tìm bỏng độ 1, độ 2, độ 3. Tìm độ đau sau cắt: Đối với trẻ dưới 8 tuổi, dùng thang định độ đau của Wong Baker. Phẫu thuật viên nhìn mặt bệnh nhân và so sánh trọng lượng và ghi độ đau. Đối với trẻ trên 8 tuổi, dùng thang đau của Trần Anh Tuấn. Cho bệnh nhân xem độ đau trong giấy, định độ đau của mình ỏ ô nào, phẫu thuật viên ghi số của ô đó. Nhiễm trùng hố mổ: Nếu bệnh nhân sốt trên 38,50, nhức vùng hố mổ và hố mổ có giả mạc xám đục, là nhiễm trùng hố mổ. Sẹo hố mổ: Bác sĩ theo dõi hố mổ vào ngày 7 – 14 – 21, ta có thể có hố mổ trơn láng, hố mổ sần sùi, hố mổ co rút và hố mổ co rút gây khó nuốt. Thời gian điều trị nội khoa thêm: Bình thường sau mổ điều trị thuốc đến ngày 7 sau mổ. Nếu thời gian điều trị dài hơn 7 ngày là điều trị thêm. Chi phí: Chúng tôi tính chi phí từng ca. Đây là tổng hợp chi phí xét nghiệm, ằm viện, phẫu thuật và cả chi phí dụng cụ. Tất cả đều được đưa vào Bản Ghi nhớ để được thực hiện cho đúng. KẾT QUẢ Thời gian phẫu thuật 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% Coblator/TE Laser /TE Coblator/NL Laser /NL <5 phút 5-15 phút 15-30 phút >30 phút Thời gian cắt 2 bên bằng tia laser ngắn hơn cắt bằng coblator ở người lớn. Tuy nhiên ở nhóm trẻ em thì thời gian cắt theo phương pháp coblator ngắn hơn (sự khác biệt có ý nghĩa với p<0.001) THỜI GIAN CẮT 2 BÊN Lượng máu mất lúc phẫu thuật Coblator/TE Laser /TE Coblator/N L Laser /NL <3 cc 7,84% 30,61% 18,97% 82% 3-5 cc 19,61% 59,18% 36,21% 18% 5-10cc 68,63% 10,20% 17,24% 0 10-15cc 3,92% 0 18,97% 0 > 15cc 0 0 8,62% 0 Tổng 100% 100% 100% 100% Lượng máu mất trong lúc cắt bằng coblator cao hơn lượng máu mất khi cắt bằng laser ở cả người lớn và trẻ em . Sực khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Đau sau cắt amidan Coblator/ TE Laser /TE Coblator/N L Laser /NL Nhẹ/không đau 97,62% 96% 100% 71,43% Vừa 2,38% 4% 0% 26,53% Nặng 0% 0% 0% 2,04% Tổng 100% 100% 100% 100% Ở nhóm người lớn, sử dụng phương pháp coblator thì BN ít đau hơn sử dụng phương pháp laser. Sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,001, tuy nhiên không có sự khác biệt ở nhóm trẻ em. Chảy máu sau cắt amidan Coblator/ TE Laser /TE Coblator/N L Laser /NL Không có 97,6% 94% 100% 93,88% Nhẹ 2,4% 6% 0 6,12% Vừa 0 0 0 0 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 207 Coblator/ TE Laser /TE Coblator/N L Laser /NL Nặng 0 0 0 0 Tổng 100% 100% 100% 100% Cắt bằng laser có tỷ lệ chảy máu sau cắt cao hơn cắt bằng coblator. Sự khác biệt có ý nghĩa với p<0,05. Độ bỏng của hố mổ Coblator/TE Laser /TE Coblator/NL Laser /NL Độ 1 94,12% 100% 100% 100% Độ 2 5,88% 0 0 0 Độ 3 0 0 0 0 Khác 0 0 0 0 Tổng 100% 100% 100% 100% Tỉ lệ nhiễm trùng hố mổ Coblator/ TE Laser /TE Coblator/ NL Laser /NL Không có 100% 100% 100% 100% Sốt >38,5oC 0 0 0 0 Giả mạc trắng xám 0 0 0 0 Tổng 100% 100% 100% 100% Cá c loại sẹo mổ Coblator/T E Laser /TE Coblator/N L Laser /NL Trơn láng 100% 100% 100% 100% Sần sùi 0 0 0 0 Co rút 0 0 0 0 Khác 0 0 0 0 Tổng 100% 100% 100% 100% Thời gian điều trị nội khoa thêm Coblator/T E Laser /TE Coblator/N L Laser /NL 8-14 ngày 100% 100% 100% 100% 15-21 ngày 0 0 0 0 > 21 ngày 0 0 0 0 Tổng 100% 100% 100% 100% Chi phí cho 1 ca Coblator/TE Laser /TE Coblator/N L Laser /NL 1-2 triệu 0 100% 0 2% 2-3 triệu 78% 0 0 0% 3-4 triệu 22% 0 100% 2% 4-5 triệu 0 0 0 86% >5 triệu 0 0 0 10% Tổng 100% 100% 100% 100% KẾT QUẢ CHUNG VÀ SO SÁNH Bảng tổng hợp của 4 trung tâm, có bảng so sánh giữa coblator và tia laser dùng phương pháp ANOVA Cobl. TE Cobl.NL Laser TE Laser NL Coblator Tia laser p Ý nghĩa TK Thời gian cắt A (5 – 15’) 76,47% 43,1% 48,28% (15 – 30’) 64,58% 100% 59,75% 82,29%  P<0,001 Có Máu mất lúc cắt A (3-5cc) 19,61% 68,63% (5 – 10cc) 36,21% (3-5cc) 59,18% (3-5cc) 82% (< 3cc) 27,91% 70,59%  P<0,001 Có % không chảy máu sau cắt A 97,6% 100% 94% 93,88% 98,8%  93,94% P<0,05 Có Độ nóng dụng cụ 60 0C 600C 800C 800C 600C  80oC P<0,005 Có Độ đau sau cắt (N1 N hết đau) 4 N4 3 N4 7  N7 7  N8 3,5 7 P<0,001 Có Độ đau vào N2 3 3 7 6 3 6,5 P<0,05 Không Bỏng độ 1 94,12% 100% 100% 100% 97,06% 100% Không Nhiễm trùng hố mổ 0 0 0 0 0 0 Không 80% ngày sinh hoạt bình thường N3 N4 N7 N7 N3,5  N7 P<0,001 Có 80% ngày ăn bình thường N6 N8 N12 N12 N7  N12 P<0,001 Có 80% N.tróc giả mạc N10 N10 N12 N12 N10 N12 p=0,064 >0,05 Không Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 208 N.điều trị Paracetamol thêm 0 / 50 0 / 50 3 / 50 4 / 50 0 / 50 3,5 / 50 P=0,062 >0,05 Không Chi phí 2T – 3T 3T – 4T 1T – 2T 4T – 5T 3 3 Không BÀN LUẬN Về thời gian cắt A(7,6,3,11) Phần lớn là từ 5 đến 15 phút. Thời gian của coblator là 59,75% và của tia laser là 82,29%. Với coblator,% của thới gian cắt amidan từ 5 đến 15 phút, ngắn hơn so với tia laser. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,001. Về lượng máu mất lúc cắt Lượng máu mất lúc cắt (3-5cc) của coblator là 27,91% và của tia laser là 70,59%. Như vậy lượng máu mất với tia laser ít hơn so với dụng cụ coblator. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,001(2). Về% không chảy máu sau cắt A Với dụng cụ coblator, tỉ lệ là 98,8%, trong khi với tia laser chỉ có 93,94%. Như vậy cắt amidan với dụng cụ coblator ít chảy máu hơn sau cắt so với tia laser. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,05(2). Độ nóng hố mổ trong lúc cắt amidan Độ nóng hố mổ trong lúc cắt amidan là 600C với dụng cụ coblator và 800C với tia laser. Cắt amidan với coblator, mô ít bị nóng hơn so với tia laser. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,05. Về phần đau sau mổ Đau sau mổ cắt amidan với dụng cụ coblator ít đau hơn (thang đau 3,5) so với tia laser (thang đau 7). Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,001(1,10).  Độ đau ngày 2 (N.2) sau mổ, thang đau là 3 với coblator và 6,5 với tia laser, bệnh nhân ít đau hơn với dụng cụ coblator, nhưng không có ý nghĩa thống kê, p>0,05.  Bỏng hố mổ độ 1, dụng cụ coblator chiếm 97,06% so với tia laser 100%. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, p>0,05.  Về nhiễm trùng hố mổ, không có ca nào được phát hiện.  80% sinh hoạt bình thường với coblator ngày 3,5 và với tia laser ngày 7. Như vậy bệnh nhân sinh hoạt bình thường sớm hơn với coblator so với tia laser. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,001.  80% ăn bình thường: Sau cắt bệnh nhân trở lại bình thường vào ngày 7 với dụng cụ coblator và ngày 12 với tia laser. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p<0,001.  80% tróc giả mạc: Hố mổ tróc giả mạc vào N.10 với coblator và N.12 với tia laser. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, p>0,05.  Ngày điều trị Paracetamol thêm: Đối với bệnh nhân cắt amidan với coblator không có ngày điều trị thêm, nhưng đối với bệnh nhân cắt amidan với tia laser có 3,5 ngày điều trị thêm. Sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, p>0,05.  Chi phí: Chi phí của bệnh nhân cắt amidan với coblator tương đương với chi phí của bệnh nhân cắt với tia laser.  Sở dĩ chi phí của một ca cắt amidan với dụng cụ coblator tương đương với chi phí một ca cắt amidan với tia laser là vì trẻ em có bảo trợ tài chánh của nhà nước.  Chúng tôi nhận thấy cắt amidan với coblator có lợi thế hơn so với cắt amidan với tia laser vì dụng cụ coblator được sử dụng trong môi trường nước, nhiệt độ thấp hơn. Từ đây chúng ta có hệ luận: cắt amidan với coblator ít chảy máu sau cắt, ít đau sau cắt, sinh hoạt bình thường sớm hơn sau cắt và ăn sớm hơn sau cắt. KẾT LUẬN Sau khi nghiên cứu cắt amidan với dụng cụ coblator và tia laser ở người lớn và trẻ em, chúng tôi có kết luận sau: Thời gian cắt A (5-15’) và máu mất sau cắt A (3-5cc) tia laser có hiệu quả hơn, nhưng nhờ nhiệt độ trong hố mổ với dụng cụ coblator (600C) thấp hơn nhiệt độ trong hố mổ với dụng cụ tia laser nên hiệu quả của dụng cụ coblator Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 209 về chảy máu sau cắt, độ nóng, độ đau sau cắt, sinh hoạt bình thường và ăn bình thường tốt hơ
Tài liệu liên quan