Thực trạng tăng đường huyết mới phát hiện ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương

Tăng đường huyết cấp tính xảy ra ở cả nhóm bệnh nhân có tiền căn mắc bệnh đái tháo đường và không mắc đái tháo đường, là yếu tố nguy cơ độc lập gây tăng tỷ lệ nhập viện, kéo dài thời gian nằm viện và gây ra nhiều kết cục xấu. Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng tăng đường huyết mới phát hiện ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Điều tra 118 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên có tăng đường huyết phát hiện lần đầu nhập viện, chia thành 2 nhóm: nhóm I là các bệnh nhân không bị đái tháo đường, nhóm II là các bệnh nhân đái tháo đường nhưng chưa được phát hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm bệnh nhân hay gặp nhất là trên 80 tuổi chiếm 39,8%. Đường huyết trung bình khi nhập viện 12,83 mmol/L, mức đường huyết khi nhập viện có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm. Hầu hết các bệnh nhân không có triệu chứng gợi ý của đái tháo đường (92,8%). Nhóm nguyên nhân gây tăng đường huyết hay gặp nhất là tai biến mạch máu não (35,6%) và bệnh đường hô hấp cấp chiếm 24,6%.

pdf8 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 14/06/2022 | Lượt xem: 159 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thực trạng tăng đường huyết mới phát hiện ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TCNCYH 115 (6) - 2018 143 TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC Địa chỉ liên hệ: Hồ Thị Kim Thanh, Bộ môn Lão khoa, Trường Đại học Y Hà Nội Email: hokimthanh@hmu.edu.vn Ngày nhận: 21/9/2018 Ngày được chấp thuận: 22/10/2018 THỰC TRẠNG TĂNG ĐƯỜNG HUYẾT MỚI PHÁT HIỆN Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN LÃO KHOA TRUNG ƯƠNG Đoàn Thị Kim Ngân, Hồ Thị Kim Thanh Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Tăng đường huyết cấp tính xảy ra ở cả nhóm bệnh nhân có tiền căn mắc bệnh đái tháo đường và không mắc đái tháo đường, là yếu tố nguy cơ độc lập gây tăng tỷ lệ nhập viện, kéo dài thời gian nằm viện và gây ra nhiều kết cục xấu. Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng tăng đường huyết mới phát hiện ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Điều tra 118 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên có tăng đường huyết phát hiện lần đầu nhập viện, chia thành 2 nhóm: nhóm I là các bệnh nhân không bị đái tháo đường, nhóm II là các bệnh nhân đái tháo đường nhưng chưa được phát hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm bệnh nhân hay gặp nhất là trên 80 tuổi chiếm 39,8%. Đường huyết trung bình khi nhập viện 12,83 mmol/L, mức đường huyết khi nhập viện có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm. Hầu hết các bệnh nhân không có triệu chứng gợi ý của đái tháo đường (92,8%). Nhóm nguyên nhân gây tăng đường huyết hay gặp nhất là tai biến mạch máu não (35,6%) và bệnh đường hô hấp cấp chiếm 24,6%. Từ khóa: Tăng đường huyết, người cao tuổi I. ĐĂT VẤN ĐỀ Tăng đường huyết cấp tính là một vấn đề khá phổ biến trong thực hành lâm sàng [1]. Tình trạng này xảy ra ở cả nhóm bệnh nhân có tiền căn mắc bệnh đái tháo đường và không mắc đái tháo đường. Tăng đường huyết là yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng tỷ lệ nhập viện, kéo dài thời gian nằm viện và gây ra những hậu quả không mong muốn [2]. Theo ước tính của Hiệp hội các chuyên gia Nội tiết Hoa Kỳ (AACE) và Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ có khoảng 30% bệnh nhân nội trú có tăng đường huyết, trong số đó 50% - 80% là tăng đường huyết phản ứng [1]. Tăng đường huyết gây tăng áp lực thẩm thấu, nhiễm toan chuyển hoá, rối loạn chuyển hóa tế bào nội mô mạch máu, giảm sản xuất NO nội mô, gia tăng tính thấm thành mạch, tăng đông, rối loạn vi tuần hoàn và tăng các cyto- kine đáp ứng viêm hệ thống như IL-1, IL-6, yếu tố gây hoại tử u TNFα, làm tăng tỷ lệ tử vong, tăng biến chứng và gây tổn thất về kinh tế [2]. Số người cao tuổi trên thế giới ngày một tăng, hiện chiếm khoảng 8,3% dân số và dự kiến sẽ tăng lên 30% vào năm 2050 [3]. Việt Nam là một trong số các nước có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới, tỷ lệ người cao tuổi theo báo cáo năm 2009 là 9,5%, dự báo lên tới 16,8% vào năm 2029 [4]. Đái tháo đường là bệnh thường gặp trên người cao tuổi và được xếp hàng thứ 6 trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở người cao tuổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đến năm 2030 sẽ có hơn nửa số mắc đái tháo đường trên thế giới là người châu Á và khoảng 53% số bệnh nhân này trên 60 tuổi [5]. Người cao tuổi mắc đái tháo đường làm gia tăng đáng kể biến chứng tim mạch, có tỷ 144 TCNCYH 115 (6) - 2018 TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC lệ tử vong cao gấp đôi so với người không bị đái tháo đường và là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất liên quan đến suy giảm chức năng ở người cao tuổi. Tại Việt Nam, vấn đề tăng đường huyết mới phát hiện trên người cao tuổi hiện ít được đề cập đến, vì vậy nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu khảo sát thực trạng tăng đường huyết mới phát hiện ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 1. Đối tượng 118 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, có tình trạng tăng đường huyết mới được phát hiện lần đầu khi vào nhập viện tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018. Tiêu chuẩn lựa chọn Bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, nhập viện điều trị, có tăng đường huyết mới phát hiện dựa theo tiêu chuẩn Allport LE (2004), Baird TA (2003) [2; 10]. + Bệnh nhân không được chẩn đoán đái tháo đường trước đó. + Có kết quả định lượng đường huyết làm trong ngày nhập viện đầu tiên với giá trị ≥ 8 mmol/L (kết quả định lượng đường huyết ngẫu nhiên) và 1 kết quả xác định lần 2 trong điều kiện bệnh nhân nhịn ăn ít nhất 8 tiếng (đường huyết lúc đói). Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường theo Bộ Y tế 2017 [11] Đái tháo đường được chẩn đoán khi thỏa mãn 1 trong 4 tiêu chuẩn sau: a. Đường máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (126 mg/dl) khi bệnh nhân không ăn gì có năng lượng trong vòng ít nhất 8 giờ. b. Đường máu 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng đường huyết ≥ 11,1 mmol/l (200 mg/dl). c. Đường máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l, kèm theo triệu chứng kinh điển của đái tháo đường như khát, uống nhiều, đái nhiều, sút cân. d. HbA1c trong máu ≥ 6,5%. Xét nghiệm này được thực hiện trong phòng thí nghiệm được chẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. Nếu bệnh nhân không có các triệu chứng rõ ràng của đái tháo đường thì các tiêu chuẩn a và b cần được xét nghiệm lại một vài ngày sau đó (có thể sử dụng lại 1 trong 3 tiêu chuẩn bất kỳ). Tiêu chuẩn loại trừ - Những bệnh nhân có đái tháo đường đã điều trị từ trước - Những bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu 2. Phương pháp Thiết kế: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Tiến hành nghiên cứu Nghiên cứu được tiến hành trên 118 bệnh nhân. Tất cả các bệnh nhân đều được hỏi bệnh và khám bệnh theo mẫu bệnh án thống nhất. Các xét nghiệm làm tại khoa Xét nghiệm Bệnh viện Lão khoa Trung ương. Nghiệm pháp tăng đường huyết: Tiến hành nghiệm pháp cho các bệnh nhân nghiên cứu đã qua giai đoạn cấp (được xác định là hết tác động của tác nhân stress). Bệnh nhân được uống nước có chứa 75g glucose và nhận định kết quả theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (1998). Các bệnh nhân nghiên cứu được chia thành 2 nhóm: TCNCYH 115 (6) - 2018 145 TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC Nhóm I (NI): Bệnh nhân không bị đái tháo đường. Là những bệnh nhân sau giai đoạn cấp, glucose máu trở về bình thường, nghiệm pháp tăng glucose máu cho kết quả bình thường. Nhóm II (NII): Bệnh nhân bị đái tháo đường nhưng chưa được phát hiện trước đó. - Phân chia mức độ tăng đường huyết Phân chia mức độ tăng đường huyết vẫn chưa được các nghiên cứu thống nhất. Trong nghiên cứu này chúng tôi phân chia ra 3 mức độ tăng đường huyết theo tác giả Brown Glen - 2001 [12] + Tăng đường huyết mức độ nhẹ: nồng độ đường huyết từ 8,0 - 10 mmol/L. + Tăng đường huyết mức độ vừa: nồng độ đường huyết từ 10,1 - 16,6 mmol/L. + Tăng đường huyết mức độ nặng: nồng độ đường huyết ≥ 16,6 mmol/L. 3. Xử lý số liệu Theo phương pháp thống kê mô tả, các số liệu được xử lý theo phần mềm SPSS 20. So sánh trung bình, so sánh tỷ lệ, mối tương quan và kiểm định Khi bình phương (χ2) với khoảng tin cậy 95%. 4. Đạo đức nghiên cứu Bệnh nhân hoàn toàn tự nguyện tham gia nghiên cứu và được giải thích chi tiết về quy trình nghiên cứu. Thông tin của bệnh nhân được đảm bảo bí mật. Bệnh nhân có quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ khi nào. III. KẾT QUẢ 1. Đặc điểm chung của bệnh nhân nghiên cứu Bảng 1. Tỷ lệ bệnh nhân theo giới, nhóm tuổi Nhóm Nhóm chung (n = 118) NI (n = 61) NII (n= 57) p (NI và NII) n % n % n % Giới (n = 118) Nam 57 48,3 34 55,7 23 40,4 > 0,05 Nữ 61 51,7 27 44,3 34 59,6 Nhóm tuổi (n = 118) 60 - 69 33 28,0 18 30,0 15 25,9 > 0,05 70 - 79 38 32,2 19 31,7 19 32,8 ≥ 80 47 39,8 23 38,3 24 41,4 - Bệnh nhân nữ (51,7%)có nhiều hơn bệnh nhân nam (48,3%). Không có sự khác biệt về giới giữa 2 nhóm (p > 0,05). - Bệnh nhân tuổi từ 80 trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất. Không có sự khác biệt về tuổi giữa 2 nhóm với p > 0,05. Hầu hết bệnh nhân nghiên cứu (92,8%) không có triệu chứng của bệnh đái tháo đường. Người có tiền căn đái tháo đường nhưng lần đầu được phát hiện thì có 14% có biểu hiện lâm sàng trước ngày vào viện 1 - 2 tuần (bảng 2). 146 TCNCYH 115 (6) - 2018 TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC 2. Đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm lúc nhập viện Bảng 2 . Tỷ lệ bệnh nhân có triệu chứng gợi ý bệnh đái tháo đường Triệu chứng gợi ý đái tháo đường Nhóm chung NI NII p (NI và NII) n % n % n % Có triệu chứng 9 7,2 1 1,6 8 14,0 < 0,05 Không có triệu chứng 109 92,8 60 98,4 49 86,0 Tổng 118 100 61 100 57 100 Bảng 3. Một số đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng (n = 118) Nhóm chung NI NII p HA tâm thu (mmHg) 143,5 ± 23,21 139,67 ± 25,43 138,95 ± 20,85 > 0,05 HA tâm trương (mmHg) 81,98 ± 11,26 80,08 ± 10,74 80,09 ± 10,87 > 0,05 GM nhập viện (mmol/l) 12,83 ± 0,58 10,15 ± 1,86 15,70 ± 8,02 < 0,05 Ure (mmol/l) 7,72 ± 7,02 7,13 ± 6,16 8,38 ± 5,91 > 0,05 Creatinin (mmol/l) 93,06 ± 54,63 88,11 ± 62,49 92,37 ± 39,48 > 0,05 Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả xét nghiệm đường huyết trung bình ngày nhập viện giữa 2 nhóm với p < 0,05. 3. Các nguyên nhân,bệnh lý nhập viện thường gặp ở bệnh nhân tăng đường huyết cấp tính Bảng 4. Nguyên nhân, bệnh lý nhập viện thường gặp ở bệnh nhân tăng đường huyết cấp tính Bệnh lý khi nhập viện Nhóm chung (n = 118) NI (n = 61) NII (n = 57) p (NI và NII) n % n % n % Tại biến mạch máu não 42 35,6 21 34,5 21 36,8 < 0,05 Bệnh lý hô hấp cấp 29 24,6 18 29,5 11 19,3 Bệnh lý tim mạch 12 10,2 8 13,1 4 7,0 Đường huyết tăng cao 12 10,2 0 0,0 12 21,1 Bệnh lý cơ xương khớp 8 6,7 3 4,9 5 8,8 Khác 15 12,7 11 18,0 4 7,0 TCNCYH 115 (6) - 2018 147 TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC Nhóm nguyên nhân hay gặp nhất là tai biến mạch máu não cấp chiếm 35,6% và nhóm bệnh lý đường hô hấp cấp chiếm 24,6%. Nhóm bệnh nhân nhập viện vì có xét nghiệm đường huyết tăng cao mà không có bệnh cấp tính kèm theo chiếm 7,4% (chủ yếu những bệnh nhân này đi khám sức khỏe định kỳ hoặc có triệu chứng gợi ý của bệnh đái tháo đường). Sự khác nhau có ý nghĩa thống kê ở từng nhóm nguyên nhân, bệnh lý cấp tính nhập viện giữa 2 nhóm I và II với p < 0,05. 4. Mức đường huyết lúc nhập viện Bảng 5. Phân bố bệnh nhân theo các mức tăng đường huyết Mức đường huyết lúc nhập viện (mmol/L) Nhóm chung NI NII p (NI,NII) n % n % n % 8,0 - 10,0 47 39,8 34 55,7 13 22,8 < 0,01 10,1 - 16,6 53 44,9 27 44,3 26 45,6 ≥ 16,6 18 15,3 0 0,0 18 31,6 Tổng 118 100 61 100 57 100 Trong các nhóm nghiên cứu, bệnh nhân có mức đường huyết trung bình (10,1 - 16,6 mmol/L) chiếm tỉ lệ cao nhất 44,9 %. Trong nhóm I, không có bệnh nhân nào có mức đường huyết ≥ 16,6 mmol/L. IV. BÀN LUẬN Trong 6 tháng thu nhận số liệu tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương, chúng tôi ghi nhận được 118 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên, nhập viện có tăng glucose máu cấp tính, lần đầu tiên được chẩn đoán. Trong 118 bệnh nhân nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân nữ cao hơn nam, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nữ đái tháo đường cao hơn nam. Nhất là trong quần thể người cao tuổi có sự chênh lệch về cơ cấu giới tính và nhóm tuổi càng cao thì sự chênh lệch này càng lớn do tuổi thọ của nữ cao hơn nam, dẫn đến tình trạng “nữ hóa dân số cao tuổi”, tuổi càng tăng thì sự khác biệt này càng lớn [13]. Nhóm bệnh nhân không mắc đái tháo đường (nhóm I) và nhóm có đái tháo đường nhưng lần đầu tiên được phát hiện (nhóm II) có tỷ lệ đều nhau về tuổi, trong đó hay gặp nhất là nhóm bệnh nhân ≥ 80 tuổi. Điều này cho thấy nhiều bệnh nhân được phát hiện muộn, tập trung vào nhóm tuổi rất già. Đây là vấn đề cảnh báo khi tiếp nhận thăm khám, điều trị cho bệnh nhân cao tuổi. Người cao tuổi phải đối mặt với nhiều bệnh, mức độ hiểu biết về chăm sóc sức khỏe và tự chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi còn thấp, hơn nữa họ thường sợ phiền đến người xung quanh nên làm chậm quá trình phát hiện và điều trị bệnh. Do đó tuổi càng tăng thì tỷ lệ mắc bệnh càng cao [4]. Hầu hết bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi (92,8%) không có biểu hiện triệu chứng của bệnh đái tháo đường trong vòng 1 - 2 tuần trước khi vào viện. Kết quả này tương tự với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đạt Anh 148 TCNCYH 115 (6) - 2018 TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC và cộng sự (93,9%) và một số tác giả khác [4] [14]. Có 1/57 bệnh nhân (1,6%) thuộc nhóm tăng đường huyết phản ứng khi vào viện có các biểu hiện triệu chứng gợi ý của bệnh đái tháo đường. Bệnh nhân này nhập viện vì bệnh viêm phổi nhưng trước đó khoảng 10 ngày bệnh nhân có biểu hiện mệt, ăn uống kém nên đã tự ý điều trị bằng truyền dung dịch glucose. Đó cũng là nguyên nhân khiến đường máu tăng cao gây ra các triệu chứng giống như triệu chứng của người đái tháo đường. Nhóm có tiền căn đái tháo đường lần đầu được chẩn đoán thì có 14% có biểu hiện lâm sàng trước khi nhập viện. Tuy nhiên, bệnh nhân cao tuổi thường nhập viện với tình trạng đa bệnh lý, những bệnh lý như viêm nhiễm, suy tim, suy hô hấp‰ cũng dẫn đến tình trạng mệt mỏi, ăn kém sẽ gây nhầm lẫn, chồng chéo triệu chứng. Tình trạng tăng đường huyết có thể gây tăng áp lực thẩm thấu máu và gây biểu hiện lâm sàng giống như trong bệnh đái tháo đường kinh điển. Điều này cho thấy không dễ trả lời ngay câu hỏi liệu bệnh nhân đó có phải là người bị bệnh đái tháo đường hay không? Việc xác nhận phải dựa trên theo dõi lâu dài bệnh nhân và tiến hành làm nghiệm pháp tăng đường huyết đường uống khi bệnh nhân hết tình trạng cấp. Giá trị đường huyết trung bình ngày nhập viện của nhóm không bị đái tháo đường (10,15 mmol/L) thấp hơn hẳn có ý nghĩa thống kê so với nhóm đái tháo đường lần đầu phát hiện (15,70 mmol/L). Điều này chứng tỏ những bệnh nhân thuộc nhóm II có thể mắc bệnh đái tháo đường trước đó nhiều năm mà không được biết, lần này vào viện vì một bệnh cấp cứu khiến đường máu tăng cao hơn nhiều so với nhóm I không bị đái tháo đường. Nghiên cứu này phản ánh 1 thực tế là thực trạng phát hiện đái tháo đường sớm còn chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với tác giả Nguyễn Đạt Anh và cộng sự, Rothwell PM và cộng sự [1; 14]. Các bệnh nhập viện thường gặp ở bệnh nhân bị tăng đường huyết mới phát hiện trong nghiên cứu của chúng tôi là tai biến mạch máu não cấp chiếm 35,6% và nhóm bệnh đường hô hấp cấp chiếm 24,6% và được phân bố với tỷ lệ tương đương ở cả 2 nhóm. Kết quả của chúng tôi tương tự với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác [7; 10]. Do không có dấu hiệu báo trước nên các bệnh nhân nhập viện với các mức đường huyết khác nhau. Tiêu chuẩn để đánh giá mức tăng đường huyết ở các nghiên cứu cũng rất khác nhau. Trong nghiên cứu này, chúng tôi dựa vào sự phân chia mức độ đường huyết theo tác giả Glen & Brown năm 2001, chia ra 3 mức độ: (1) tăng đường huyết nhẹ: Đường huyết ≤ 10 mmol/L; (2) Tăng đường huyết vừa: Đường huyết 10 - 16,6 mmol/L; (3) Tăng đường huyết nặng: Đường huyết ≥ 16 mmol/ L [12]. Sự phân chia như vậy giúp các thầy thuốc được cảnh báo sớm về nồng độ đường huyết để có thái độ xử lý đúng và kịp thời, tránh các tai biến đáng tiếc có thể xảy ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có mức đường huyết nằm trong khoảng 10,1 - 16,6 mmol/L là cao nhất (44,9%). Sự khác biệt các mức đường huyết ở 2 nhóm có khác biệt ý nghĩa thống kê. Ở nhóm I (không bị đái tháo đường) thì nồng độ đường huyết ở mức nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất (55,7%), không có bệnh nhân nào tăng đường huyết ở mức nặng (≥ 16,6 mmol/L). Trái lại, ở nhóm II (bị đái tháo đường nhưng chưa phát hiện) thì bệnh nhân tăng đường huyết ở mức vừa chiếm tỷ lệ cao nhất (45,6%). Kết quả này tương tự như nghiên cứu của tác giả Brown và cộng sự [12]. TCNCYH 115 (6) - 2018 149 TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC V. KẾT LUẬN Hầu hết bệnh nhân không có triệu chứng gợi ý của bệnh đái tháo đường khi nhập viện. Nhóm nguyên nhân gây tăng đường huyết hay gặp nhất là tai biến mạch máu não và bệnh đường hô hấp cấp. Các bác sỹ cần nhận diện tình trạng tăng đường huyết sớm cho các bệnh nhân, ngay khi nhập viện để kiểm soát và đề phòng biến chứng. Lời cảm ơn Xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Trường Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Lão khoa Trung ương đã cho phép thực hiện nghiên cứu này. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Montori VM1, Bistrian BR., McMahon MM (2002). Hyperglycemia in acutely ill pa- tients. JAMA, 288(17), 2167 - 2169. 2. Allport LE, Butcher KS, Baird TA et al (2004). Insular cortical ischemia is independ- ently associated with acute stress hyperglyce- mia. Stroke, 35(8), 1886 - 1891. 3. Lowell R. Schmeltz (2011). Manage- ment of Inpatient Hyperglycemia Laboratory Medicine, 42(7), 427 - 434. 4. Umpierrez GE, Isaacs SD, Niloofar Bazargan et al (2002). Hyperglycemia: An Independent Marker of In-Hospital Mortality in Patients with Undiagnosed Diabetes The Jour- nal of Clinical Endocrinology & Metabolism, 87 (3), 978 - 982. 5. Nguyễn Đạt Anh (2004). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hóa sinh và hiệu quả của phác đồ insulin liều chia nhỏ đối với bệnh nhân cấp cứu có tăng đường huyết. Luận án Tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội. 6. W. Duckworth, C. Abraira, T. Moritz et al (2009). Glucose control and vascular com- plications in veterans with type 2 diabetes. N Engl J Med, 360(2), 129 - 39. 7. Quỹ dân số Liên hợp quốc (2011). Già hóa dân số và người cao tuổi ở việt Nam: Thực trạng, dự báo và một số khuyến nghị chính sách, 16 - 29. 8. American Diabetes Association (2015). Standards of medical care in diabetes Diabetes care, 38(1), S1 - 99. 9. Meneilly GS (2006). Diabetes in the Eld- erly. Medical clinics of North America – Geriat- ric medicine, 90, 909 - 923. 10. Baird TA., Parsons MW., Thanh Phan (2003). Persistent Poststroke Hypergly- cemia Is Independently Associated With In- farct Expansion and Worse Clinical Outcome. Stroke, 34, 2208 - 2214. 11. Bộ Y tế (2017). Quyết định số 3319/ QĐ-BYT. Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị đái tháo đường typ 2, <https://thuvienphapluat.vn/ van-ban/The-thao-Y-te/Quyet-dinh-3319-QD- BYT-2017-tai-lieu-Huong-dan-chan-doan-va- dieu-tri-dai-thao-duong-tip-2>,xem ngày 15.08. 12. Brown Glen., Dodek., Peter (2001). Intravenous insulin nomogram improves blood glucose control in the critically ill, 29(9), 1714- 1719. 13. Lê Văn Khảm (2014). Vấn đề về người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, 7(80). 14. Nguyễn Đạt Anh, Nguyễn Văn Chi, Trần Hữu Thông và cộng sự (2006). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, diễn biến và tác động của tình trạng tăng đường huyết mới được phát hiện ở bệnh nhân khi vào viện cấp cứu. Y học Việt Nam, 11, 1 - 9. 15. Rothwell PM and Lawler PG (1995). Prediction of outcome in intensive care pa- tients using endocrine parameters. Crit Care Med, 23(1), 78 - 83. 150 TCNCYH 115 (6) - 2018 TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC Summary NEWLY DIAGNOSED HYPERGLYCEMIA IN OLD INPATIENTS IN VIETNAM NATIONAL GERIATRIC HOSPITAL Extensive observational and trial data indicated that inpatient hyperglycemia, in patients with or without a prior diagnosis of diabetes, is associated with an increased risk of complications and mortality, longer hospital stay, higher admission rate to the intensive care unit (ICU) and higher need for transitional or nursing home care after hospital discharge. The purpose of this study is to describe the characteristic of hospitalized elderly patients, newly detected with hyperglycemia. This is an observational study of 118 inpatients, aged from 60 years old or older admitted in the National Geriatric Hospital, first time diagnosed with hyperglycemia. Group I was designated non diabetic, group II was designated diabetic. The results show that patients age 80 years and older are the most common (39.8%). The mean blood glucose as hospital admission is 12.82 mmol/l; there is a statistically significant difference be