Tiểu luận Những khó khăn cản trở quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Mỹ trong những năm từ 1975 – 1985

Đã hơn 30 năm kể từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc và đã 16 năm kể từ khi quan hệ Việt Nam – Mỹ được chính thức thiết lập vào ngày 11/7/1995, mốc thời gian này vẫn được nhắc đến như mốc son lịch sử trong quan hệ hai nước. Tuy nhiên không thể phủ định rằng quan hệ hai nước đã phải trải qua những giai đoạn hết sức khó khăn để có được tình hữu nghị như ngày nay. Sau hai thập kỷ ở hai bên chiến tuyến thì đến năm 1975 Việt Nam lại phải đối mặt với chính sách cấm vận toàn diện của Mỹ. Và phải mãi đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước, trước những biến chuyển lớn của tình hình thế giới, chiến tranh lạnh đi vào hồi kết thúc và với những đổi mới của Việt Nạm từ sau 1986 đã khiến Mỹ có những điều chỉnh chính sách với Việt Nam. Từ đây con đường bình thường hóa quan hệ của hai nước bước sang một trang mới mặc dù cả hai nước đã có nỗ lực bình thường quan hệ ngay từ sau chiến tranh kết thúc không lâu. Vậy trước thời kỳ Đổi mới, cụ thể là giai đoạn 1975 - 1985 chúng ta đã gặp phải những khó khăn, trở ngại gì khiến quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước phải lùi sang thập kỷ tiếp theo? Bài viết này sẽ tập trung phân tích những khó khăn trở ngại của quan hệ Việt Nam – Mỹ giai đoạn 1975-1985 khiến việc thiết lập quan hệ chính thức giữa hai nước phải đợi đến năm 1995.

doc13 trang | Chia sẻ: hongden | Ngày: 30/09/2015 | Lượt xem: 1407 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Những khó khăn cản trở quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Mỹ trong những năm từ 1975 – 1985, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ NGOẠI GIAO HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ VÀ NGOẠI GIAO BỘ MÔN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM II TIỂU LUẬN NHỮNG KHÓ KHĂN CẢN TRỞ QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ VIỆT NAM – MỸ TRONG NHỮNG NĂM TỪ 1975 – 1985 Giảng viên hướng dẫn cô : Nguyễn Phú Tân Hương Sinh viên thực hiện : Nguyễn Sinh Hoàng Lớp : CT38H Hà Nội, tháng 5 năm 2013 MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Đã hơn 30 năm kể từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc và đã 16 năm kể từ khi quan hệ Việt Nam – Mỹ được chính thức thiết lập vào ngày 11/7/1995, mốc thời gian này vẫn được nhắc đến như mốc son lịch sử trong quan hệ hai nước. Tuy nhiên không thể phủ định rằng quan hệ hai nước đã phải trải qua những giai đoạn hết sức khó khăn để có được tình hữu nghị như ngày nay. Sau hai thập kỷ ở hai bên chiến tuyến thì đến năm 1975 Việt Nam lại phải đối mặt với chính sách cấm vận toàn diện của Mỹ. Và phải mãi đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước, trước những biến chuyển lớn của tình hình thế giới, chiến tranh lạnh đi vào hồi kết thúc và với những đổi mới của Việt Nạm từ sau 1986 đã khiến Mỹ có những điều chỉnh chính sách với Việt Nam. Từ đây con đường bình thường hóa quan hệ của hai nước bước sang một trang mới mặc dù cả hai nước đã có nỗ lực bình thường quan hệ ngay từ sau chiến tranh kết thúc không lâu. Vậy trước thời kỳ Đổi mới, cụ thể là giai đoạn 1975 - 1985 chúng ta đã gặp phải những khó khăn, trở ngại gì khiến quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước phải lùi sang thập kỷ tiếp theo? Bài viết này sẽ tập trung phân tích những khó khăn trở ngại của quan hệ Việt Nam – Mỹ giai đoạn 1975-1985 khiến việc thiết lập quan hệ chính thức giữa hai nước phải đợi đến năm 1995. Bài tiểu luận của tôi được tìm hiểu theo 3 nội dung lớn như sau: Bối cảnh trong nước và thế giới trong giai đoạn 1975 – 1985 Chính sách của Việt Nam trong phục vụ cuộc đấu tranh chống bao vây cô lập 1975 – 1985 Đánh giá những khó khăn cản trở quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Mỹ (1975 – 1985) NỘI DUNG TÌM HIỂU I. BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI TRONG GIAI ĐOẠN 1975-1985 1. Bối cảnh thế giới Từ giữa những năm 1970, tình hình thế giới diễn ra những biến động lớn trên các mặt chính trị, kinh tế và quan hệ quốc tế, mở màn cho những phát triển và biến đổi có tính chất bước ngoặt trong mấy thập kỷ cuối thế kỷ XX. Sau chiến tranh Việt Nam, Mỹ rút quân khỏi Đông Nam Á lục địa, nền chính trị quốc tế bước vào thời kỳ “Sau chiến tranh Việt Nam Chính sách ngoại giao Việt Nam, tập II (1975-2006), HVQHQT, Hà Nội 2007 ”, Các nước lớn có những điều chỉnh quan trọng trong chính sách đối ngoại. Cục diện quan hệ giữa những nước lớn có diễn biến phức tạp. Cụ thể: nước Mỹ suy giảm thế và lực, khủng hoảng toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội. Tây Âu và Nhật Bản vươn lên trở thành các trung tâm kinh tế thế giới cạnh tranh với Mỹ. Các khối quân sự trở nên lỏng lẻo hoặc tan rã. Xu hướng độc lập với Mỹ trong thế giới phương Tây tăng lên. Mỹ tiến hành điều chỉnh chiến lược, giảm cam kết ở bên ngoài thúc đẩy hòa hoãn với các đối thủ chính, tập trung ưu tiên giải quyết các vấn đề trong nước củng cố địa vị trong hệ thống Tư bản chủ nghĩa. Mẫu thuẫn Xô – Trung ngày càng trở nên gay gắt. Tình hình này có ảnh hưởng lớn đến quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam, nhất là bởi vì Liên Xô và Trung Quốc đều là hai người anh cả của phe Xã hội chủ nghĩa. Trung Quốc triển khai chương trình cải cách, mở cửa kinh tế, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế, đẩy mạnh quan hệ với Mỹ, Nhật và các nước Tây Âu khác, đồng thời chú trọng cải thiện quan hệ với các nước ở Đông Nam Á Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002, tr. 282 . Từ sau thắng lợi của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới có đà phát triển mới sôi động và rộng khắp. Tình hình kinh tế, xã hội và quan hệ giữa các nước trong hệ thống XHCN đã xuất hiện những dấu hiệu không thuận lợi. 2. Bối cảnh trong nước. Sau khi giành thắng lợi thống nhất Tổ Quốc, Việt Nam bước vào thời kỳ mới, bảo vệ độc lập chủ quyền và xây dựng lại đất nước. Thắng lợi mùa Xuân 1975 đánh dấu kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam: hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước đi vào xây dựng trong thế hòa bình, quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chiến thắng đế quốc Mỹ đã nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, ngay sau thắng lợi lịch sử thì Việt Nam lại phải đối mặt với sự cấm vận về mọi mặt của chính quyền Mỹ. Vì vậy hoàn cảnh trong nước giai đoạn 1975- 1985 này có nhiều khó khăn về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội. Kinh tế sa sút, lạm phát tăng nhanh, bội chi ngân sách Nhà nước ngày càng tăng; sản xuất trì trệ, năng suất hiệu quả kinh tế giảm sút. Ngoại thương đình trệ và nhà nước ta mới đặt quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới chưa được nhiều nước. Thêm vào đó là quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực, đặc biệt là các nước có chung biên giới xuất hiện nhiều phức tạp, các thế lực thù địch trong và ngoài nước phố hợp chống đối Việt Nam. Trong những điều kiện quốc tế và khu vực như vậy, Việt nam cùng một lúc thực hiện công cuộc cải tạo xây dựng lại đất nước, mở rộng quan hệ với các nước mà một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong giai đọan này chính là công cuộc đấu tranh chống bao vây cô lập của chính quyền Mỹ. II. CHÍNH SÁCH CỦA VIỆT NAM TRONG PHỤC VỤ CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG BAO VÂY CÔ LẬP 1975 – 1985 1. Triển khai chính sách 1.1 Những nỗ lực đầu tiên 1975 -1978 Ngay sau đại thắng mùa xuân, vào tháng 6 năm 1975, thủ tướng nước ta lúc đó là Phạm Văn Đồng đã đề nghị Mỹ xúc tiến bình thường hóa với điều kiện Mỹ bồi thường chiến tranh Việt Nam và có trách nhiệm hàn gắn và xây dựng lại Việt Nam. Năm 1977 là năm mà nỗ lực bình thường hóa quan hệ hai nước đạt được những bước đi hết sức đáng ghi nhận đến từ cả hai phía Việt Nam và Mỹ. Từ ngày 16 đến ngày 19 tháng 3 năm 1977 phái đoàn Mỹ do Leonard Woodcock – đặc phái viên của Tổng thống Carter dẫn đầu đã tới Việt Nam thương lượng vấn đề bình thường hóa quan hệ hai nước . Còn Mỹ thì không còn phủ quyết việc Việt Nam đệ đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc. Mỹ đề nghị nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, sau đó Mỹ sẽ dỡ bỏ kiểm soát xuất khẩu và tài sản đối với Việt Nam. Nếu như quan điểm trước đây của Việt Nam có phần cứng nhắc, được thể hiện trong bài phát biểu của Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền ngày 26-3-1976: “Việc Hoa Kỳ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam là một nghĩa vụ không thể chối cãi, xét về mặt pháp lý của Hiệp định Paris về Việt Nam, về mặt pháp lý quốc tế cũng như đạo lý và lương tri của con người”. Tuy nhiên Phía Việt Nam cũng đã điều chỉnh lập trường đàm phán theo hướng linh hoạt hơn nhằm thể hiện thiện chí bình thường hóa như việc đồng ý cung cấp thông tin và hợp tác với Mỹ về vấn đề MIA ( tìm kiếm người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam). 1.2 Giai đoạn chông gai nhất 1979 -1985 Giai đoạn 1979 – 1985 lại là giai đoạn khó khăn vì những biến đổi của tình hình thế giới và khu vực làm trì hoãn quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước. Việt Nam lúc này đã chủ động rút bỏ điều kiện đòi Mỹ bồi thường chiến tranh và đóng góp xây dựng nước Việt Nam hậu chiến nhưng Mỹ từ chối đàm phán do những tính toán chiến lược mới của Mỹ. Quan hệ Xô – Trung căng thẳng, Liên Xô gia tăng ảnh hưởng ở thế giới thứ ba, Việt Nam đưa quân tình nguyện vào Campuchia, quan hệ Việt - Trung xấu đi tạo động lực khiến Mỹ xích lại gần Trung Quốc. Cuộc tranh cãi trong nội bộ chính quyền Mỹ về vấn đề bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và Trung Quốc đem chiến thắng cho phe thân Trung Quốc của Cố vấn anh ninh Brzezinski – người vốn chủ trương bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Kết quả là việc bình thường hóa quan hệ Trung – Mỹ được ưu tiên tiến hành trước Việt Nam. Còn vấn đề Campuchia lại bị biến thành một vấn đề quốc tế lớn và Mỹ coi việc yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Campuchia trở thành điều kiện tiên quyết cho việc nối lại đàm phán với Việt Nam. Cơ hội đàm phán bình thường hóa quan hệ hai nước trong giai đoạn này không còn nữa. 2. Những khó khăn cản trở quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Mỹ giai đọan 1975 -1985 Vậy những nguyên nhân gì đã làm quan hệ hai nước Việt Nam, Mỹ tiếp tục ở trong trạng thái thù địch cho đến cuối thập kỷ 80 và chỉ có thể được khởi động lại sau 1986? Cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam kết thúc cũng là lúc những con số thống kê tổn thất của cả hai phía được đưa ra. Với khoảng 3 triệu người chết và hàng nghìn gia đình phải ly tán, hậu quả để lại cho kinh tế xã hội Việt Nam là cực kỳ nặng nề. Và đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử, Mỹ đã trở thành nước bại trận với hơn 58.000 lính Mỹ chết trận, cùng với làn sóng phản đối chiến tranh và những chia rẽ trong nội bộ chính quyền Mỹ đã đem đến một vết thương lòng quá lớn cho một cường quốc như Mỹ. Cái mà người ta thường gọi là “Hội chứng Việt Nam ” không thể ngày một ngày hai có thể xóa đi. Chưa thể sẵn sàng khép lại quá khứ đau thương chính là nguyên nhân đầu tiên cũng như là trở ngại thứ nhất làm chậm quá trình bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ. Thứ hai là sự đối lập trong quan điểm của hai nước khi tham gia đàm phán khiến cho mục tiêu của hai bên không thể gặp nhau. Trong khi Việt Nam muốn Mỹ phải “có nghĩa vụ không thể chối cãi” trong công cuộc tái thiết Việt Nam sau chiến tranh cũng như bồi thường chiến phí thì đây dường như là điều không thể chấp nhận được với một cường quốc như Mỹ. quan điểm của Mỹ là bình thường hóa “vô điều kiện” Và cũng chính vì sự đối lập trong quan điểm của hai quốc gia và kéo theo đó tình hình thế giới và khu vực đã có kết quả bất lợi cho việc bình thường hoá quan hệ trong những năm tiếp theo đó. Thứ ba là quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc căng thẳng, Liên Xô gia tăng ảnh hưởng ở thế giới thứ ba, hai quốc gia đi từ căng thẳng đến đối đầu nhau. Việt Nam đưa quân vào Campuchia , quan hệ Việt Trung xấu đi khiến cho Mỹ xích lại gần Trung Quốc hơn. Đến lúc này thì trong những tính toán chiến lược của Mỹ, họ quyết định chọn Trung Quốc là ưu tiên bình thường hóa quan hệ ngoại giao trước. Đỉnh điểm của sự căng thẳng giữa Việt Nam và Mỹ đó là vấn đề Campuchia. Chế độ diệt chủng Polpot ở Campuchia là vấn nạn lớn, Việt Nam thực hiện quyền tự vệ chính đáng thiêng liêng của mình để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc, bảo vệ biên giới tây nam, tính mạng và tài sản của nhân dân, đồng thời làm nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân Cam-pu-chia, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương giúp đỡ những người cách mạng chân chính Cam-pu-chia. Tuy nhiên phía Mỹ không nhìn nhận vấn đề như vậy và liên tục gây áp lực đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia như điều kiện tiên quyết để nối lại đàm phán . III. ĐÁNH GIÁ NHỮNG KHÓ KHĂN CẢN TRỞ QUÁ TRÌNH BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ VIỆT NAM – MỸ (1975 – 1985) Sau khi đã phân tích kỹ càng những khó khăn trong việc bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ trong giai đoạn 1975 – 1985, Tôi có một vài suy nghĩ, đánh giá. Tuy đánh giá của Tôi có thể chưa hoàn toàn đúng đắn, song thông qua bài tiểu luận này, Tôi cũng xin được đưa ra những đánh giá chủ quan từ phía bản thân về những khó khăn trong việc bình thường hóa ở giai đoạn này. “Làm thế nào để bạn có thể có quan hệ tốt đẹp với một người? Bạn có thể có quan hệ tốt đẹp với một người được không sau khi người ấy đã gây ra cho bạn bao nhiêu đau thương trong quá khứ?” Tất nhiên câu hỏi này chỉ được đặt ra trong mối quan hệ giữa hai người với nhau, còn trong quan hệ của cả hai quốc gia lớn thì những lợi ích cá nhân sẽ phải gạt sang một bên để đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Song nhìn lại mốc lịch sử năm 1975, thì chúng ta ai ai cũng thấy rõ một điều, trong suốt 30 năm từ 1945 đến 1975, Mỹ đã liên tục chống nhân dân Việt Nam, khi Pháp xâm lược Việt Nam thì Mỹ đã cung cấp vũ khí cho Pháp, năm 1954 Mỹ lại hất cẳng Pháp, trực tiếp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, một cuộc chiến tranh khốc liệt, để lại bao đau thương và hậu quả của nó còn tồn tại mãi cùng thời gian. Vậy trong suốt 30 năm ấy Mỹ là kẻ thù trực tiếp của ta, nhưng đến sau năm 1975 thì sao? Việc ta thận trọng trong mối quan hệ với một quốc gia đã từng có một thời gian xâm lược nước ta là đúng hay sai? Theo Tôi, là hoàn toàn đúng. Bởi lẽ, sau 1975 khi đất nước được hoàn toàn hòa bình sau một thời gian chia cắt rất dài thì nhiệm vụ bảo vệ đất nước được đặt lên hàng đầu. Xu hướng tránh xa kẻ đang có âm mưu thi hành “kế hoạch hậu chiến” với ta là xu hướng tất yếu. Hơn nữa, cũng phải đánh giá chính sách của chúng ta lúc này dựa trên ý thức hệ còn cao. Chúng ta đã làm đúng như những gì đề ra trong Đại hội IV của Đảng, nghĩa là ủng hộ tuyệt đối các nước trong hệ thống Xã hội chủ nghĩa và vẫn chống lại Mỹ. Tuy vậy, nếu đứng trên lập trường của một người ở ngoài cuộc chiến nhìn vào bằng một cái nhìn khách quan, nghĩa là bỏ qua tất cả những yếu tố xung quanh mà chỉ tập trung vào những chính sách đối ngoại để hoàn thành nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước sau chiến tranh thì cũng thể phủ nhận rằng, khi đó chúng ta đã có thể có cách cư xử mềm mỏng hơn như “dĩ hòa vi quý”. Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm dựng nước của ông cha ta thấy giặc phương Bắc sang xâm lược ta nhiều lần, song sau những chiến thắng vẻ vang, chúng ta vẫn biết mình biết ta để cống nạp, duy trì mối quan hệ tốt đẹp với các nước phương Bắc dù vẫn khẳng định rõ chủ quyền của dân tộc ta. Chúng ta đã bỏ lỡ cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ - Đó là một nhận định không sai. Như vậy, thực ra trong giai đoạn 1975 -1985 ấy khách quan mà nói chúng ta đã không để ý đến những chuyển biến của quốc tế do cuộc chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường đã cuốn ta vào vòng xoáy của nó. Nếu khi ấy nhìn nhận tình hình một cách khéo léo hơn, nghiên cứu quốc tế kĩ càng hơn thì có lẽ chúng ta đã có chính sách đối ngoại trong vấn đề bình thường hóa quan hệ với Mỹ nhạy bén và khôn khéo hơn, để giành lấy được nhiều cơ hội hơn, hơn là tự đưa chúng ta vào thế bất lợi trong quan hệ với Mỹ mà phải mất hơn 10 năm ta mới gỡ ra được. Bước chuyển biến chính là tại Đại Hội Đảng lần VI về đổi mới toàn diện trong đó có đổi mới về đường lối đối ngoại đã mở ra cơ hội cho quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước. Và câu trả lời cho những nỗ lực không biết mệt mỏi ấy là ngày 11- 7- 1995, Tổng thống mỹ Bill Clinton đã tuyên bố bình thuờng hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam. LỜI KẾT Bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Mỹ là một thành công lớn của ngoại giao Việt Nam, đây là một chặng đường đầy chông gai nhưng đáng tự hào của ngành ngoại giao Việt Nam. Nghiên cứu con đường đấu tranh nhằm tiến tới bình thường hóa quan hệ hai nước đặc biệt là trong giai đoạn 1975 -1985, đây là một giai đoạn vô cùng gay go quyết liệt, sẽ cung cấp những tài liệu quý giá cũng như đem đến những bài học quý báu về một chặng đường đầy vẻ vang của ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh. Từ đây những quan niệm về bạn và thù, ý thức hệ hay “lợi ích quốc gia là trên hết” sẽ được làm sáng tỏ và không bao giờ có bạn và thù vĩnh viễn mà chỉ có lợi ích quốc gia-dân tộc được đặt lên hàng đầu trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại. Và chúng ta càng biết trân trọng hơn những gì của hiện tại và nỗ lực phấn đấu cho công cuộc đổi mới xây dựng đất nước trong thời kì mới, thực hiện kiên định con đường đổi mới mà Đảng đề ra để làm sao nước nhà có thể sánh vai với các cường quốc năm châu như Bác Hồ đã từng trông mong. TÀI LIỆU THAM KHẢO Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002 Chính sách ngoại giao Việt Nam, tập II (1975-2006), HVQHQT, Hà Nội 2007 Chiến tranh lạnh và di sản của nó, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002 Đường lối Cách mạng Đảng cộng sản Việt Nam, NXB CHính trị quốc gia, Hà Nội 2009
Tài liệu liên quan