Tiểu luận Những thách thức cho các nhà đầu tư quốc tế ở Việt Nam và giải pháp để vượt qua

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu khởi sắc. Tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm vào khoảng 7-8%, là một trong những nước có nền kinh tế đang phát triển. Đã có nhà đầu tư nói rằng: “Việt Nam đang nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư và giới quan sát nước ngoài. Sự chú ý của cộng đồng quốc tế tới Việt Nam chưa bao giờ cao hơn hiện nay”. Bởi lẽ, Việt Nam đang ngày một hòa nhập với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế mà ở đó cơ hội cho các nhà đầu tư là lớn nhất, đem lại hiệu quả cao nhất. Trong suốt hai thập kỷ qua, Việt Nam đã tiến hành cuộc cải cách thị trường tự do, và những cuộc cải cách này đã giành được sự khen ngợi từ những nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì lý do đó, sự quan tâm của các nhà nước ngoài đối với quốc gia Đông Nam Á này ngày càng tăng cao. Năm 2005, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã tăng gần 50%, và sẽ đạt hơn 8 tỷ USD trong năm 2006.

doc19 trang | Chia sẻ: maiphuong | Lượt xem: 1244 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tiểu luận Những thách thức cho các nhà đầu tư quốc tế ở Việt Nam và giải pháp để vượt qua, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu khởi sắc. Tỷ lệ tăng trưởng bình quân hàng năm vào khoảng 7-8%, là một trong những nước có nền kinh tế đang phát triển. Đã có nhà đầu tư nói rằng: “Việt Nam đang nằm trong tầm ngắm của các nhà đầu tư và giới quan sát nước ngoài. Sự chú ý của cộng đồng quốc tế tới Việt Nam chưa bao giờ cao hơn hiện nay”. Bởi lẽ, Việt Nam đang ngày một hòa nhập với nền kinh tế thế giới, nền kinh tế mà ở đó cơ hội cho các nhà đầu tư là lớn nhất, đem lại hiệu quả cao nhất. Trong suốt hai thập kỷ qua, Việt Nam đã tiến hành cuộc cải cách thị trường tự do, và những cuộc cải cách này đã giành được sự khen ngợi từ những nhà đầu tư nước ngoài. Chính vì lý do đó, sự quan tâm của các nhà nước ngoài đối với quốc gia Đông Nam Á này ngày càng tăng cao. Năm 2005, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đã tăng gần 50%, và sẽ đạt hơn 8 tỷ USD trong năm 2006. Nhìn lại những chặng đường đã qua của một nền kinh tế ở Việt Nam, từ một nước chủ yếu làm nông nghiệp, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm vào loại thấp, nền kinh tế hoàn toàn là bao cấp thành một nước đi theo công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỷ lệ tăng trưởng đứng thứ nhì Châu Á, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong một thời gian ngắn ắt hẳn phải tồn tại nhiều khó khăn, thách thức cho các nhà đầu tư quốc tế. Đặc biệt là khi Việt Nam đã trở thành thành viên thứ một trăm năm mươi của tổ chức Thương Mại thế giới (WTO), nhà đầu tư quốc tế phải tìm hiểu liệu thách thức khi đầu tư ở Việt Nam có là một những yếu tố khó khăn nhất cản trở việc xúc tiến thương mại hay không? Vậy khó khăn, thách thức đó là gì, giải pháp cho các nhà đầu tư quốc tế như thế nào sẽ được tác giả trình bày trong bài tiểu luận này. Với đề tài: “Những thách thức cho các nhà đầu tư quốc tế ở Việt Nam và giải pháp để vượt qua”, tiểu luận được chia làm ba chương: Chương I: Giới thiệu chung về đầu tư quốc tế ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Chương II: Những thách thức cho các nhà đầu tư quốc tế ở Việt Nam. Chương III: Giải pháp chung cho các nhà đầu tư quốc tế ở Việt Nam. Sau đây sẽ là những nội dung chi tiết của bài tiểu luận. CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Giới thiệu chung về đầu tư quốc tế Định nghĩa về đầu tư quốc tế: Đầu tư quốc tế là nhà đầu tư có thể là cơ quan đại diện của một quốc gia, hay một tổ chức, hay một doanh nghiệp nào đó sử dụng vốn mà họ có được mang sang đầu tư ở một quốc gia khác nhằm đem lại khả năng sinh lời cho nhà đầu tư đó. Đầu tư quốc tế bao gồm đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), đầu tư gián tiếp từ nước ngoài (ODA). Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (Foreign direct investment) là loại đầu tư lâu dài mà người đầu tư vốn (chủ đầu tư) và người sử dụng là một chủ thể. Người đầu tư và vốn là từ nước ngoài. FDI là kênh du nhập tư bản không phát sinh nợ Còn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài (Official Development Assistant) là nguồn vốn hỗ trợ chính thức từ bên ngoài bao gồm các khoản viện trợ và cho vay với điều kiện ưu đãi. ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển theo ba hình thức: viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại với lãi suất thấp và hình thức cho vay hỗn hợp. Vai trò của đầu tư quốc tế đối với một quốc gia: ODA và FDI là hai nguồn ngoại lực quan trọng góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia, đặc biệt đối với nước chậm và đang phát triển. Một nước ở trình độ thấp, khả năng tiết kiệm hạn chế, không đáp ứng được nhu cầu đầu tư. Nếu hạn chế nhu cầu đầu tư ở mức tiết kiệm cho phép thì nền kinh tế tăng trưởng chậm, do vậy để có một nền kinh tế phát triển vững chắc, đất nước đó phải đảm bảo có tỷ lệ đầu tư cao. Khoảng chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư phải được bù đắp bằng các nguồn vốn từ nước ngoài. Nguồn lực kinh doanh được du nhập chủ yếu qua kênh FDI bởi lẽ FDI là hình thái cùng lúc du nhập ba nguồn lực: vốn, công nghệ và năng lực kinh doanh – ba yếu tố quan trọng để phát triển nền kinh tế và cũng là yếu tố nhìn được cả hai mặt: nội lực và ngoại lực. Không những công nghệ và nguồn lực kinh doanh được chuyển giao không giới hạn trong ngành có FDI triển khai mà còn qua các sự liên kết hàng dọc, các nguồn lực này có thể chuyển sang các ngành khác, làm cho các doanh nghiệp ở các ngành đó phát triển có hiệu suất hơn. Công nghệ là một nguồn lực phải được xây dựng lâu dài, nếu chỉ dựa vào nội lực thì quá trình phát triển quá chậm. Trong lịch sử kinh tế, trừ Anh là nước công nghiệp hiện đại đầu tiên, hầu như nước nào cũng tìm cách du nhập công nghệ từ những nước tiên tiến hơn mình để phát triển nhanh. Để hiểu rõ được vấn đề về đầu tư quốc tế có vai trò thế nào thì ta hãy nhìn sang các nước Châu Á lân cận để thấy rằng họ ngày càng nhận thức vai trò quan trọng của FDI trong xu thế toàn cầu hóa. Có thể nói trình độ kỹ thuật, công nghệ, bề dày của tri thức quản lý kinh doanh tại các nước này đã tăng nhanh và phụ thuộc nhiều vào độ lớn của FDI được tích lũy (FDI stock). Tại các nước Châu Á khác, FDI qua mấy chục năm không những tích lũy về lượng mà còn về chất, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu và tạo dựng một nền tảng công nghiệp ngày càng vững chắc. Ví dụ như Malaysia sau nhiều năm thu hút các nhà đầu tư FDI, hiện nay đã trở thành một trong những trung tâm lớn của thế giới sản xuất ti-vi màu, máy quay video và nhiều sản phẩm điện tử khác. Singapore, HongKong, Thái Lan hay Trung Quốc cũng có những động thái ngày càng tích cực nhằm thu hút các nhà đầu tư từ nước ngoài nhằm mục đích gây dựng nền kinh tế tăng trưởng cao. Nhìn chung dễ dàng có thể nhận thấy lợi ích của việc đầu tư quốc tế đối với một quốc gia đó là: giúp cho một đất nước có nền kinh tế yếu kém trở thành nước có tiềm năng kinh tế dồi dào, tăng GDP cho quốc gia, nâng cao được kỹ thuật công nghệ trong sản xuất, nâng cao trình độ tay nghề cho các công nhân, kỹ sư. Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam và đầu tư quốc tế ở Việt Nam qua các giai đoạn phát triển Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam nói chung: Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế từ những năm 1986. Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế. Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội.  Cùng với việc xây dựng luật, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng từng bước được hình thành. Chính phủ đã chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp, nhấn mạnh quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tập trung vào các biện pháp quản lý kinh tế, thành lập hàng loạt các tổ chức tài chính, ngân hàng, hình thành các thị trường cơ bản như thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường hàng hóa,  thị trường đất đai… Cải cách hành chính được thúc đẩy nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế, tạo môi trường thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh doanh, phát huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế. Trong 20 năm đổi mới, GDP của Việt Nam đã tăng lên liên tục. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990), GDP chỉ tăng trưởng bình quân 3,9%/năm, thì trong 5 năm tiếp theo (1991-1995) đã nâng lên đạt mức tăng bình quân 8,2%. Trong giai đoạn 1996-2000 tốc độ tăng GDP của Việt Nam là 7,5%, thấp hơn nửa đầu thập niên 1990 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á. Từ năm 2001 đến nay, tốc độ tăng GDP của Việt Nam đã phục hồi, hàng năm đều tăng ở mức năm sau cao hơn năm trước (năm 2001 tăng 6,9%, năm 2002 tăng 7%, năm 2003 tăng 7,3%, năm 2004 tăng 7,7%, năm 2005 tăng 8,4%. Việt Nam đã dần thay thế được cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp, bằng cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng năng động, đạt tốc độ tăng trưởng GDP tương đối cao từ 7% đến 8%/năm, tăng nhanh tốc độ công nghiệp hóa, mở rộng hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, tăng nhanh giá trị ngoại thương, nhất là xuất khẩu, tăng thu hút đầu tư nước ngoài và các khoản thu ngoại tệ khác. Tổng quan về đầu tư quốc tế ở Việt Nam nói riêng: Ở nước ta, bên cạnh nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, vốn đầu tư nước ngoài là một trong những nguồn vốn quan trọng. Trong nguồn vốn nước ngoài, FDI được coi là nguồn vốn thích hợp đối với nước ta. Vai trò của FDI được coi là nguồn vốn thích hợp đối với nước ta. Vai trò của FDI trong những năm qua đã được khẳng định, đóng góp tích cực vào tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Đầu tư nước ngoài hiện chiếm khoảng trên 13% GDP cả nước. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được ban hành tháng 12 năm 1987 đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cơ bản cho các hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp tại Việt Nam. Trước đòi hỏi của thực tế và sự góp ý của các nhà đầu tư nước ngoài, Luật đã có một số lần được sửa đổi, bổ sung, nổi bật là các lần sửa đổi vào những năm 1996 và năm 2002 nhằm tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn hơn để khuyến khích các nhà đầu tư nuớc ngoài đầu tư vào những mục tiêu trọng điểm và những lĩnh vực ưu tiên, nhất là trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hướng vào xuất khẩu và các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước. Bằng việc cho ra đời Luật đầu tư 2005 và Luật Doanh nghiệp 2005 (cùng có hiệu lực từ 1/7/2006) Chính phủ Việt Nam đã tạo ra bước tiến dài trong việc điều chỉnh, cải tiến để tạo thêm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài như được quyền đầu tư kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm, thay vì chỉ được làm những việc cơ quan Nhà nước cho phép. Nguyên tắc này được áp dụng cho khu vực kinh tế tư nhân trong nước từ năm 2000, nay được áp dụng chung cho khu vực nước ngoài.  Ngoài ra việc đẩy mạnh tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư nước ngoài, chỉnh sửa thuế thu nhập cá nhân theo hướng hạ thấp mức thuế, đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế một cửa, giảm giá dịch vụ viễn thông xuống ngang bằng mức giá tại các nước trong khu vực, nâng cấp cơ sở hạ tầng, mở rộng lĩnh vực đầu tư, cho phép các doanh nghiệp nước ngoài được đầu tư vào một số lĩnh vực trước đây chưa cho phép như viễn thông, bảo hiểm, kinh doanh siêu thị… do vậy đã tạo nên một môi trường đầu tư hấp dẫn hơn.  Những biện pháp cải cách trên đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng góp phần khôi phục và tăng nhanh nguồn vốn FDI đầu tư vào Việt Nam trong năm 2005. FDI tăng nhanh trở lại còn do các nguyên nhân quan trọng khác như sự ổn định về chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng; nền kinh tế tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao; công cuộc đổi mới kinh tế theo cơ chế thị trường tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh; mức sống của người dân được nâng cao góp phần làm tăng mức cầu nội địa; tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, uy tín và thương hiệu của các loại hàng hóa sản xuất tại Việt Nam trên các thị trường thế giới ngày càng được nâng cao.  Hình 1: Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 1988 - 2002 Hình 1 cho thấy Việt Nam đã thu hút FDI ngày càng lớn, từ gần như mức đầu tư không có gì vào năm 1988 đến những giai đoạn phát triển vượt bậc vào khoảng năm 1996-1997. Sau đó, cuộc khủng hoảng tiền tệ lan ra cả châu Á, FDI Việt Nam giảm mạnh trong những năm tiếp theo và gần đây mới được dần dần hồi phục và tăng nhẹ. Lý do lựa chọn đề tài: Là một người chủ tương lai của đất nước không chỉ nên nhìn nhận một phía từ phía người được nhận sự đầu tư tức là không chỉ biết đưa ra giải pháp nào thu hút được các nhà đầu tư mà phải đứng trên phương diện nhà đầu tư để biết được những thách thức mà nhà đầu tư gặp phải và giải pháp của các nhà đầu tư trong việc vượt qua thách thức này. Có thể nói đề tài : “Những thách thức của các nhà đầu tư Việt Nam và giải pháp vượt qua” là cơ sở, tiền đề cho giải pháp thu hút các nhà đầu tư nhằm đem lại kết quả tốt đẹp nhất cho nền kinh tế Việt Nam. CHƯƠNG II THÁCH THỨC CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM Về pháp luật và chính sách cho các nhà đầu tư quốc tế Về các chính sách thu hút các nhà đầu tư quốc tế: FDI đưa vào cùng một lúc ba nguồn lực nên hiệu quả phát triển lớn hơn các hình thái khác như hợp đồng công nghệ hay vay vốn thương mại. Dù biết vậy, nhiều nước đang phát triển trong thập niên 1960 và 1970 đã lo ngại bị các công ty đa quốc gia (MNC, multinational corporations) chi phối kinh tế. Chủ nghĩa dân tộc và phong trào xã hội chủ nghĩa vào thời đó rất mạnh nên MNCs bị phê phán nặng và FDI được chấp nhận nhưng thường xuyên bị cảnh giác và bị hạn chế bằng nhiều chính sách đòi hỏi phải đáp ứng nhiều yêu cầu của nước tiếp nhận. Việt Nam cũng là một trong những nước vẫn còn thái độ cảnh giác đối với MNC, xem việc du nhập FDI là bất đắc dĩ. Tại Việt Nam, trong các văn kiện chính thức của chính phủ và của Đảng Cộng Sản Việt Nam, FDI được xem là một bộ phận của nền kinh tế giống như các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên trên thực tế FDI vẫn còn bị xem là lực lượng đối lập với các thành phần khác Điều này phản ảnh trong các chính sách hạn chế hoạt động của MNC và áp dụng chính sách hai giá, ép buộc người nước ngoài và doanh nghiệp FDI phải trả giá cao cho nhiều sản phẩm và dịch vụ như điện, nước, bưu chính viễn thông. Ngoài ra, những chính sách của Việt Nam còn hạn chế các nhà đầu tư nước ngoài trong các ngành nghề và tỷ lệ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam. Một ví dụ điển hình cho việc hạn chế nhà đầu tư trong các ngành nghề đó là trong lĩnh vực bưu chính viễn thông – một ngành xưa nay vốn là độc quyền của Nhà Nước Việt Nam thì những chính sách trước khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào lĩnh vực viễn thông dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) với một đối tác Việt Nam đang vận hành mạng lưới viễn thông. Còn khi Việt Nam đã gia nhập WTO thì những ngôn từ trong chính sách mới khiến các nhà đầu tư khó hiểu, vẫn còn đang rất băn khoăn, thắc mắc. Với những chính sách kiểu như vậy, liệu các nhà đầu tư nước ngoài có còn muốn tham gia thị trường Việt Nam? Trong những năm gần đây, chính sách của nhà nước đã có phần giảm bớt những đánh giá tiêu cực về FDI tuy nhiên thì những chính sách đề ra chỉ tập trung ở những mục tiêu trong ngắn hạn và trung hạn. Những mục tiêu trong dài hạn thì không được đề cập tới trong những văn bản chính của Nhà nước Việt Nam. Hơn nữa, mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam là hạn chế sự mất cân đối giữa các vùng miền. Chính vì thế, trong công tác đầu tư thu hút vốn FDI, Chính phủ có chủ trương hướng các nhà đầu tư quốc tế vào lĩnh vực nông nghiệp, vào nông thôn, vùng sâu, vùng xa nhưng các chính sách ưu đãi của Chính Phủ chưa phát huy được những tính năng như mong muốn. Vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ bé, chưa đầy 8% tổng vốn FDI. Tuy nhiên, đầu tư vào các ngành, lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp thì hiệu quả đầu tư vốn thấp, doanh nghiệp lâu mới lấy lại vốn, vốn đầu tư khó có thể xoay vòng. Tóm lại, với những chính sách và cách thu hút đầu tư của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài là yếu kém, không rõ ràng và kém hiệu quả. Về hệ thống khung pháp luật: Các doanh nghiệp lo ngại cùng với việc gia nhập WTO sẽ có nhiều luật lệ mới được ban hành nhưng việc thực thi chúng có thể bị chậm trễ. Chẳng hạn như Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp có hiệu lực từ tháng 7 năm nay luật Đầu tư dựa trên cơ sở thống nhất Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và Luật Đầu tư trong nước; còn Luật Doanh nghiệp thì thống nhất đối tượng áp dụng chung cho tất cả mọi loại hình doanh nghiệp, không phân biệt đối xử theo thành phần kinh tế như các luật riêng như trước đây, nhưng đến nay các nghị định hướng dẫn của hai luật này vẫn chưa được ban hành và vẫn còn nhiều tranh cãi. Điều đó có nghĩa là có một khoảng trống khi mà các luật cũ đã hết hiệu lực, nhưng luật mới lại chưa có nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện. Một số quan chức cấp cao nước ngoài cũng cho rằng một trong những hạn chế chủ yếu trong quy trình làm luật ở Việt Nam là việc thiếu các quy định hướng dẫn thực hiện khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài không thể tận dụng được cơ hội do luật mới được ban hành tạo ra. Chẳng hạn như việc thành lập các chi nhánh thương mại (CNTM). Tuy Nghị định số 72 được ban hành thảng bảy vừa qua cho phép thành lập các CNTM nhưng đến nay vẫn chưa có hướng dẫn cụ thể cho việc thực hiện, phạm vi hoạt động của CNTM đến đâu hoàn toàn là điều chưa chắc chắn. Mặc dù chính phủ Việt Nam đã cố gắng thay đổi những bộ luật cũ bằng những bộ luật mới song thiết nghĩ đề ra luật nhưng lại chưa có khả năng thực thi cao, chưa đồng bộ khiến nhiều người quan tâm và băn khoăn thì liệu các nhà đầu tư sẽ nghĩ gì? Về môi trường cạnh tranh ở Việt Nam Khi một nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam, trước hết họ phải tìm hiểu và đánh giá môi trường cạnh tranh như thế nào, liệu Việt Nam có là nước tạo thuận lợi đầu tư cho người nước ngoài so với những nước trong cùng khu vực không? Thì câu trả lời của những nhà đầu tư nước ngoài đó là môi trường cạnh tranh của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập và yếu kém. Theo như những báo cáo của một số tổ chức thì Việt Nam là một trong những nước có giá cả so với thu nhập bình quân đầu người cao, đặc biệt là giá nhà đất. Các chi phí của nhà đầu tư cao bao gồm chi phí vận tải, thuê văn phòng, đóng góp an sinh xã hội và thiết bị sản xuất khiến các nhà đầu tư lo ngại. Bảng dưới đây là về so sánh giá cả với một số nước trong khu vực Đông Nam Á  Hà Nội  BangKok  Manila  Jakarta  Kuala Lampur   Thuê văn phòng (US$/m2/ tháng)  25  11  7  18  14   Chi phí giao thông (US$/ công-ten-nơ 40 feet tới t/p Yokohama, Nhật Bản)  1300  1200  850  990  575   Chi phí đóng góp của chủ doanh nghiệp tính trên lương tháng (lương hưu, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp... - % lương tháng)  17  4  6.21  7.24  12   Các chi phí và lệ phí liên quan đến giao nhận tại các cảng biển và sân bay quá cao. Có 12 loại phí và lệ phí bất hợp lý mà doanh nghiệp phải nộp như phí lưu kho sân bay 1.200đ/kg, phí an ninh 230đ/kg, phí lao vụ 0,06 USD/kg, phụ phí xăng dầu 30USD/container 20 feet, 60USD/container 40 feet, hàng lẻ 2,5USD/m3, phí nâng hạ 300.000 -360.00đ/container 20 feet, thu phí đường bộ 80.000đ/lượt đối với xe tải 18 tấn trở lên. Giá điện cao hơn 50%, giá nước cao hơn 71% so với ASEAN, Trung Quốc.Do chi phí tăng quá cao so với các nước cùng khu vực nên khiến nhiều nhà đầu tư tại Việt Nam mất lợi thế so với những nhà đầu tư đang hoạt động tại các quốc gia ở Châu Á. Một nguyên nhân nữa khiến các chi phí đầu vào cao là do Việt Nam chưa có các ngành công nghiệp phụ trợ. Số liệu thống kê từ chương trình hợp tác giữa Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản và Trường đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội còn cho thấy, đến thời điểm này, chỉ có ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất, lắp ráp xe gắn máy là có thể đáp ứng đến 75% nhu cầu về phụ tùng, còn những ngành khác như dệt may, sản xuất xe hơi, điện tử gia dụng, da giày… đều phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nguyên liệu nhập khẩu. Chẳng hạn như ngành dệt may hiện nhập khẩu tới 80% nguyên phụ liệu từ nước ngoài. Chính vì ngành công nghiệp hỗ trợ chưa thực sự phát triển nên ngành công nghiệp ở một số thành phố nơi có tỷ lệ đầu tư FDI cao tuy đạt tốc độ tăng trưởng cao, nhưng lại có ít ngành, sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Sản phẩm có hàm lượng chất xám, hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng còn thấp, một số ngành chủ yếu là gia công lắp ráp với phần lớn nguyên phụ liệu nhập khẩu. Về sở hữu trí tuệ, bản quyền sản phẩm Sức mạnh của thương hiệu và bản quyền tác giả, sản phẩm là cái mà không thể bàn cãi, bất cứ một doanh nghiệp, một nhà đầu tư nào muốn đầu tư vào Việt Nam cũng muốn thương hiệu được phát triển một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nước ngoài thực tế đã và đang gặp rất nhiề
Tài liệu liên quan