Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, giáo dục và đào tạo của mỗi quốc gia đóng vai trò then chốt, trọng yếu trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Trải qua gần 30 năm đổi mới, Đảng sớm thấy được vai trò to lớn của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội và việc phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo. Đảng ta giáo dục và đào tạo coi cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của CNH, HĐH. Cương lĩnh chính trị xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 2011 (tại Đại hội XI) xác định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược”. Đặc biệt, tháng 11 năm 2013, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”. Trong đó, “phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”. Giáo dục Đại học có một sứ mệnh rất to lớn là đào tạo nguồn nhân lực để phát triển đất nước theo yêu cầu của Đảng. Giáo dục Đại học không chỉ nghiêng về đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp mà phải hết sức chú ý đến giáo dục đạo đức, lý tưởng làm người. Muốn vậy Nhà trường Đại học phải coi trọng quản lý công tác sinh viên, đây là một nhiệm vụ quan trọng, phức tạp, nặng nề có tác dụng mạnh mẽ đối với chất lượng đào tạo của các Trường đại học.

doc119 trang | Chia sẻ: hongden | Ngày: 01/10/2015 | Lượt xem: 1731 | Lượt tải: 18download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, giáo dục và đào tạo của mỗi quốc gia đóng vai trò then chốt, trọng yếu trong việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Trải qua gần 30 năm đổi mới, Đảng sớm thấy được vai trò to lớn của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế - xã hội và việc phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo. Đảng ta giáo dục và đào tạo coi cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của CNH, HĐH. Cương lĩnh chính trị xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 2011 (tại Đại hội XI) xác định: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược”. Đặc biệt, tháng 11 năm 2013, tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”. Trong đó, “phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực”. Giáo dục Đại học có một sứ mệnh rất to lớn là đào tạo nguồn nhân lực để phát triển đất nước theo yêu cầu của Đảng. Giáo dục Đại học không chỉ nghiêng về đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp mà phải hết sức chú ý đến giáo dục đạo đức, lý tưởng làm người. Muốn vậy Nhà trường Đại học phải coi trọng quản lý công tác sinh viên, đây là một nhiệm vụ quan trọng, phức tạp, nặng nề có tác dụng mạnh mẽ đối với chất lượng đào tạo của các Trường đại học. Trường Đại học Hàng hải được thành lập theo Quyết định số 2624/QĐ-TC ngày 7 tháng 7 năm 1976 của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải. Ngày 03 tháng 7 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1056/QĐ-TTg về việc đổi tên Trường Đại học Hàng hải thành Trường Đại học Hàng hải Việt Nam. Là một Trường công lập, tọa lạc tại Thành phố Hải Phòng, một thành phố đang ra sức hội nhập, phát triển, một thành phố năng động nhưng cũng bị tác động thường xuyên của mặt trái cơ chế thị Trường. Một Nhà trường có tính chất quản lý theo phương thức bán quân sự, có 2 khu KTX để sinh viên ở nội trú, gần 20% SV của Nhà trường ở trong KTX, do vậy, Trường ĐHHHVN luôn coi CTSV là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Nhà trường chăm lo, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho SV trong học tập, nghiên cứu và sinh hoạt, nhằm thực hiện mục tiêu là đào tạo con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe và ý thức nghề nghiệp cao, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, sớm có khả năng đáp ứng thích nghi với yêu cầu và thực tiễn của ngành Hàng hải. Quản lý CTSV được xây dựng trên cở sở cụ thể hóa Thông tư, Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và bổ sung thêm một số điều khoản để phù hợp với những đặc điểm của Nhà trường bán quân sự. Từ năm 2010, Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) triển khai kiểm tra việc thực hiện các công ước quốc tế quy định về vấn đề đào tạo thuyền viên, việc cấp các chứng chỉ có liên quan cho thuyền viên tại các cơ sở đào tạo có đáp ứng các yêu cầu đề ra trong công ước quốc tế không?. Như vậy, việc rèn luyện SV có tác phong quân sự của Trường ĐHHHVN ngày càng trở nên cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu công việc trên các tàu trong khu vực và trên thế giới. Đã có các công trình nghiên cứu về việc nâng cao công tác QLSV nhằm theo dõi, đánh giá ý thức học tập, rèn luyện của SV, tuy nhiên việc phân tích, đánh giá hiện trạng và đề ra giải pháp nhằm QLSV nội trú tại Trường ĐHHHVN thì chưa có công trình nào được công bố. Là một người trực tiếp làm công tác quản lý sinh viên, với mong muốn ứng dụng những kiến thức đã học cao học cũng như với kinh nghiệm của bản thân, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và hiệu quả quản lý của Nhà trường, vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý CTSV ở Trường ĐHHHVN, nghiên cứu đề xuất các biện pháp QLSV nội trú tại Trường ĐH nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác QLSV, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu - Xác định cơ sở lý luận về QLSV nội trú tại các Trường ĐH. - Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác QLSV nội trú ở Trường ĐHHHVN. - Đề xuất các biện pháp QLSV nội trú tại Trường ĐHHHVN. - Thăm dò tính khả thi của biện pháp QLSV nội trú. 4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: CTSV ở Trường ĐH. - Đối tượng nghiên cứu: QLSV nội trú tại Trường ĐHHHVN. 5. Vấn đề nghiên cứu Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau: - QLSV gồm những nội dung nào?. Nói cách khác đề tài phải làm rõ các nội dung trong QLSV nội trú. - Để đảm bảo hiệu quả trong quản lý CTSV nội trú có cần thiết phải có các biện pháp quản lý phù hợp hay không và biện pháp như thế nào thì hợp lý và có tính khoa học?. 6. Giả thuyết khoa học Hiện nay, nếu có các biện pháp quản lý CTSV nội trú phù hợp với quy luật khách quan, xây dựng và triển khai đồng bộ thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý CTSV nội trú ở Trường ĐHHHVN. 7. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu - Đề tài giới hạn ở phạm vi học tập và rèn luyện tại KTX của SV nội trú. - Khảo sát và sử dụng số liệu từ năm 2009 trở lại đây. 8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa lý luận: Hệ thống hóa các lý luận QLSV nội trú, chỉ ra những bài học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để có đề xuất các biện pháp QLSV. - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các Trường ĐH khác đang quản lý sinh viên. Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà quản lý giáo dục. 9. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: - Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích tổ hợp các công trình khoa học về QLSV và biện pháp quản lý CTSV; các văn kiện của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, Quy chế, Quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Giao thông vận tải. - Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi; quan sát, khảo sát thực tế; phương pháp tham vấn chuyên gia; phương pháp phỏng vấn, trao đổi giữa cán bộ quản lý và SV. - Nhóm phương pháp xử lý thông tin nghiên cứu: Phương pháp sử dụng các ứng dụng tin học, toán thống kê; phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp. 10. Cấu trúc luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý sinh viên ở các Trường Đại học Chương 2: Thực trạng công tác quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam Chương 3: Các biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người, được thực hiện một cách tự giác, vượt qua ngưỡng “tập tính” của các giống loài động vật bậc thấp khác. Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục và từ đó cũng xuất hiện khoa học về QLGD. Người học vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo ngoài việc xem xét các yếu tố người dạy, nội dung, chương trình, cơ sở vật chất... thì không thể không nghiên cứu trực tiếp là đối tượng người học. Xung quanh vấn đề người học có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu trong đó có vấn đề người học trong quá trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục ở trong KNT. Năm 1997, Bộ GD&ĐT ban hành “Quy chế học sinh, SV nội trú trong các Trường ĐH, cao đẳng, TCCN” nhằm quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các Trường trong việc tổ chức quản lý KNT, quyền và nghĩa vụ của học sinh, SV trong các khâu liên quan đến việc ăn, ở, học tập, sinh hoạt... trong khuôn viên nội trú của các trường đào tạo. Để phù hợp với mục tiêu đào tạo trong tình hình mới, ngày 18 tháng 10 năm 2002, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký Quyết định số 41/2002/QĐ-BGD&ĐT về việc sửa đổi bổ xung công tác HSSV nội trú. Trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước, quy chế về công tác HSSV của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, các quy chế về QLSV nội trú, ngoại trú; Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của SV, các văn bản về việc thực hiện chế độ ưu đãi trong giáo dục đối với SV diện đối tượng chính sách, chế độ miễn giảm học phí... Ngày 26/7/2011 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ký Thông tư số 27/2011/TT-BGD&ĐT về việc Ban hành Quy chế công tác HSSV nội trú tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Thông tư này có hiệu lực thi hành ngày 10 tháng 8 năm 2011 và thay thế Quyết định số 2137/GD-ĐT ngày 29/6/1997 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế công tác HSSV nội trú trong các Trường ĐH, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; Quyết định số 41/2002/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 10 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trước đây, phần lớn SV đến học tại các Trường ĐH, Cao đẳng hầu hết đều được ở trong KTX nhưng hiện nay nhu cầu ở KTX của SV tại các cơ sở GDĐH không đáp ứng được vì quy mô đào tạo của các Trường ĐH, Cao đẳng trong những năm gần đây phát triển không ngừng. Vấn đề nghiên cứu về quản lý SV nội trú ít được đề cập; có chăng cũng chỉ là những nghiên cứu liên quan đến việc tổ chức giáo dục ngoài giờ lên lớp ở các bậc học khác nhau như: Nguyễn Hữu Hợp (chủ biên), Nguyễn Dục Quang - “Công tác giáo dục ngoài giờ lên lớp ở Trường tiểu học” (Giáo trình dành cho hệ tại chức đào tạo giáo viên tiểu học) - Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, Hà Nội, 1995. Quản lý SV nội trú là vấn đề mới chưa được nghiên cứu nhiều tuy nhiên có một số tác giả nghiên cứu đề cập đến những khía cạnh khác nhau về quản lý người học. Có thể kể đến các công trình sau: Đề tài luận văn thạc sỹ QLGD: “Biện pháp quản lý học sinh nội trú ở Trường trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ Hải Phòng” của Nguyễn Thị Xuân năm 2011 đã đánh giá thực trạng công tác quản lý học sinh nội trú tại Trường Trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ Hải Phòng và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao công tác quản lý đối với SV nội trú; Đối với đề tài nghiên cứu việc QLSV nội trú vùng miền núi phía bắc có công trình nghiên cứu của Nguyễn Thanh Bình: “Biện pháp QLSV nội trú ở Trường CĐSP Yên Bái” năm 2012 đã đánh giá thực trạng công tác quản lý SV nội trú của Trường CĐSP Hòa Bình và đề xuất một số giải pháp thích hợp nâng cao biện pháp quản lý SV nội trú; luận văn thạc sĩ QLGD: “Biện pháp quản lý CTSV tại Trường Cao đẳng du lịch Hà Nội” của tác giả Nguyễn Huyền Trang năm 2012 đề cập đến một số biện pháp hoàn thiện công tác QLSV tại Trường Cao đẳng du lịch Hà Nội. Một số nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác QLSV trên nhiều lĩnh vực của các Nhà trường và đề xuất các biện pháp quản lý, góp phần vận dụng những hiểu biết về quản lý, quản lý giáo dục vào công tác QLSV trong các Trường ĐH, cao đẳng để từng bước nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo theo yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Công tác học sinh, SV là một trong những nội dung quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Nhà trường Muốn phát triển kinh tế - xã hội thì trước hết phải xây dựng và thực hiện tốt chiến lược phát triển toàn diện con người. Ở Việt Nam hiện nay, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, đời sống vật chất của dân ta được cải thiện và ngày càng được nâng cao, nhân cách của con người đã có những biến đổi, bên cạnh mặt tích cực cũng có những mặt tiêu cực, có ảnh hưởng đến công tác giáo dục trong Nhà trường. Tình trạng suy thoái về lối sống, đạo đức của một bộ phận SV, ảnh hưởng của lối sống thực dụng, chán học, hay bỏ học, động cơ học tập chưa rõ ràng, các tệ nạn xã hội len lỏi vào Nhà trường, đây cũng là một trong những vấn đề xã hội trong thời gian gần đây. Những nghiên cứu trên đã tìm hiểu thực trạng công tác QLSV trong đó có QLSV nội trú và từ đó đề xuất các biện pháp quản lý. Tuy nhiên những nghiên cứu cụ thể áp dụng trong những môi trường cụ thể, của từng Trường trong khi đó công tác quản lý SV nội trú lại phụ thuộc vào đặc thù của từng Nhà trường Trường ĐHHHVN cũng gặp phải vấn đề trong công tác quản lý SV như các Trường khác nói chung nhưng xuất phát từ đặc điểm riêng của Trường nên không thể áp dụng biện pháp quản lý của một Trường khác. Do vậy, vấn đề “Biện pháp quản lý sinh viên nội trú tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam” là vấn đề cần được nghiên cứu. 1.2. Một số khái niệm cơ bản 1.2.1. Quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và hoạt động ngày càng phát triển trong xã hội. Trong quá trình lãnh đạo, đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, con người cần phải hợp sức nhau lại để tự bảo vệ và kiếm kế sinh sống. Những hoạt động tổ chức, chỉ đạo, điều khiển... các hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu chung là những dấu hiệu đầu tiên của quản lý. Như vậy, hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm và trải qua tiến trình phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, thì hoạt động quản lý cũng ngày càng phát triển, hoàn thiện và trở thành một hoạt động phổ biến. F.W. Taylor và Henri Fayol thường được xem là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học. Các ông đã khẳng định hoạt động quản lý ở bất kỳ tổ chức nào cũng đều có các hoạt động cơ bản liên quan đến các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đọa và kiểm tra trên cơ sở thu thập và xử lý thông tin. Khoa học quản lý phát triển khá mạnh trong giai đoạn cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI và nhiều quan điểm mới đã xuất hiện. Còn nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về nội dung, thuật ngữ “quản lý”, có thể nêu một số định nghĩa như sau: - Theo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về quản lý: Quản lý xã hội một cách khoa học là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với toàn bộ hay những hệ thống khác nhau của hệ thống xã hội trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng đắn những quy luật khách quan vốn có của nó nhằm đảm bảo cho nó hoạt động và phát triển tối ưu theo mục đích đặt ra. - Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất (William - Tay Lor). - Chủ tịch Hồ Chí Minh không để lại một tác phẩm riêng nào về quản lý, nhưng bằng những lời dạy của Người, đặc biệt qua tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, viết tại chiến khu Việt Bắc năm 1947, “Ngục trung nhật ký” viết năm 1942 - 1943, và một số bài nói; Đặc biệt là tấm gương đạo đức ứng xửu của Người trong suốt cuộc đời, Người đã tạo nên một tập “Đại thành” về quản lý. Với Hồ Chí Minh: Quản lý là sự đi thức tỉnh tâm hồn con người (mỗi con người đều có cái thiện, cái ác trong người, ta phải làm thế nào cho phần thiện tốt tươi như hoa mùa xuân và phần xấu mát dần đi); Quản lý phải đúng và khéo; Quản lý phải cần song phải cẩn (Cần là siêng năng, cẩn là cẩn thận). - Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [3, tr. 1]. - Tác giả Đặng Xuân Hải - Nguyễn Sỹ Thư: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. - Quản lý là dạng dao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết các bộ máy thành chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu, các cấp quản lý, hoạt động nhịp nhàng đểtạo hiệu quả quản lý (Mai Hữu Khuê - Học viện Hành chính quốc gia). - Quản lý là một hệ thống xã hội mang tính khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đã đề ra (Nguyễn Văn Lê - ĐH Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh). - Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý), trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Cũng theo đó các tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý: là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [10, tr. 1]. - Trong cuốn: “Khoa học tổ chức và quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí, cho rằng: “Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra tính đến trạng thái có chất lượng mới” [3, tr. 176]. Mặc dù có nhiều cách hiểu khác nhau, cách diễn đạt khác nhau về quản lý, song một cách tổng quát nhất có thể khái quát: Quản lý là cách thức tác động (sự tác động có tổ chức, có mục đích...) của chủ thể quản lý lên chủ thể bị quản lý bằng các chế định xã hội, bằng tổ chức nguồn nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất, uy tín của cơ quan quản lý hoặc người quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục đích trong điều kiện môi trường luôn biến động. * Chức năng quản lý: - Lập kế hoạch (thiết kế mục tiêu, chương trình hành động). - Tổ chức thực hiện (phân công công việc, sắp xếp con người). - Chỉ đạo điều hành. - Kiểm tra (giám sát hoạt động của bộ máy nhằm kịp thời điều chỉnh sai sót, đưa bộ máy đạt mục tiêu đã xác định). - Thông tin (là công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản lý, cần thiết cho tất cả các chức năng quản lý. Đây là quá trình hai chiều, trong đó mỗi người vừa là nguồn phát vừa là nguồn thu nhận) [26, tr. 2]. Có bốn chức năng cơ bản của quản lý liên quan mật thiết với nhau, đó là: lập kế hoạch; tổ chức, chỉ đạo thực hiện; kiểm tra đánh giá, trong đó thông tin là trung tâm của quản lý. Bốn chức năng trên quan hệ với nhau tạo thành một chu trình quản lý, được biểu diễn bằng sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Chu trình quản lý Kế hoạch Thông tin quản lý Kiểm tra Tổ chức Chỉ đạo - Lập kế hoạch: Bao gồm việc xác định sứ mệnh, nhiệm vụ, dự báo xu hướng trong tương lai của tổ chức trên cơ sở thu thập và phân tích các thông tin và điều kiện thực tế của tổ chức. Từ đó, xác định các mục tiêu, các kế hoạch mang tính chiến lược, chiến thuật dựa trên việc tính toán về điều kiện thực tế các nguồn lực của tổ chức và xây dựng các giải pháp thực hiện. Thực chất của việc lập kế hoạch là xác định mục tiêu của tổ chức và cách thức hoạt động, thực hiện của tổ chức để đặt được mục tiêu đó trong điều kiện nhất định. - Tổ chức: Chức năng này được xem như là công cụ của quản lý và có ý nghĩa quan trọng nhất trong hoạt động quản lý. Hoạt động quản lý có đạt được mục tiêu hay không, có thực hiện được kế hoạch hoặc không thì công tác tổ chức giữ vai trò quyết định, đó chính là việc sắp xếp, lựa chọn các nguồn lực và xây dựng một cơ cấu hợp lý dựa trên việc phân tích các nhiệm vụ nhằm thực hiện được kế hoạch mục tiêu đã đề ra. - Lãnh đạo: Việc thống nhất một đường lối hành động mà mọi bộ phận của tổ chức phải tuân theo nhằm hoàn thành các mục tiêu cần thiết. Tuy nhiên, để thực hiện được mục tiêu này thì chức năng lãnh đạo của nhà quản lý phải được thực hiện một cách có hiệu quả. Đó là quá trình điều hành, điều khiển người bị lãnh đạo hoạt động theo sự lãnh đạo thống nhất thông qua việc hướng dẫn, động viên giúp cho họ nhiệt tình, hăng say và có ý thức tự giác sáng tạo, hoàn thành các công việc được giao. - Kiểm tra: Đối với hoạt động quản lý thì kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng, then chốt giúp nhà quản lý đánh giá được kết quả thực hiện mục tiêu kế hoạch trên cơ sở so sánh với các tiêu chuẩn theo quy định. Mặt khác, kiểm tra đánh giá cũng giúp cho các nhà quản lý phát hiện được những hạn chế của hệ thống để kịp thời điều chỉnh hoạt động và trong những Trường hợp cần thiết có thể phải điều chỉnh cả mục tiêu để thông qua việc điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo để hoạt động quản lý đạt được mục tiêu quản lý. Bên cạnh 4 chức năng cơ bản của quản lý, còn rất nhiều vấn đề l
Tài liệu liên quan