Bội chi ngân sách nhà nước và cách giải quyết bội chi ngân sách nhà nước

Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước.

doc23 trang | Chia sẻ: vietpd | Ngày: 15/03/2013 | Lượt xem: 6284 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bội chi ngân sách nhà nước và cách giải quyết bội chi ngân sách nhà nước, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 3 1.Những vấn đề chung về các khoản chi NSNN: 3 1.1. Khái niệm chi ngân sách nhà nước…………………………………… 3 1.2. Quá trình của chi ngân sách nhà nước……………………………….. 3 1.3. Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước………………………………… 3 1.4. Nội dung của chi ngân sách nhà nước………………………………… 3 1.5. Phân loại chi ngân sách nhà nước……………………………………… 4 1.6. Yếu tố ảnh hưởng đến chi ngân sách nhà nước…………………….. 5 2. Quan điểm về bội chi ngân sách Nhà nước 5 3. Những nhân tố ảnh hưởng đến bội chi ngân sách Nhà nước 5 4. Nguyên nhân gây ra bội chi ngân sách nhà nước 6 5. Ảnh hưởng của bội chi ngân sách Nhà nước 6 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 7 1. Thực trạng bội chi ngân sách Nhà nước………………………………………. 7 2. Những ưu điểm và hạn chế trong quản lí bội chi ngân sách Nhà nước….. 8 2.1. Ưu điểm và kết quả………………………………………………………… 8 2.2. Hạn chế và thách thức…………………………………………………….. 9 CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ BỘI CHI NSNN – ĐỊNH HƯỚNG KIỂM SOÁT BỘI CHI NSNN. 12 1. Giải pháp xử lý bội chi ngân sách nhà nước: 12 1.1. Phát hành thêm tiền: 12 1.2. Vay nợ cả trong và ngoài nước: 13 1.3. Bù đắp thâm hụt ngân sách: 14 1.4. Cắt giảm chi tiêu đi liền với tiết kiệm ngân sách nhà nước: 15 2. Định hướng kiểm soát tình hình bội chi ngân sách trong tương lai 16 2.1. Kiểm soát bội chi do tác động từ khách quan: 16 2.2. Kiểm soát bội chi do những tác động chủ quan: 17 Danh mục tài liệu tham khảo 21  Giáo trình và bài viết học thuật: 21  Văn bản pháp luật: 21  Đường link trang web: 21 CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Những vấn đề chung về các khoản chi NSNN: Khái niệm chi ngân sách nhà nước : Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định. Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng. Do đó, Chi ngân sách nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của nhà nước. Quá trình của chi ngân sách nhà nước : - Quá trình phân phối: là quá trình cấp phát kinh phí từ ngân sách nhà nước để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. - Quá trình sử dụng: là trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách nhà nước mà không phải trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng. Đặc điểm của chi ngân sách nhà nước - Chi ngân sách nhà nước gắn với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà nhà nước đảm đương trong từng thời kỳ - Chi ngân sách nhà nước gắn với quyền lực nhà nước - Các khoản chi của ngân sách nhà nước được xem xét hiệu quả trên tầm vĩ mô - Các khoản chi của ngân sách nhà nước mang tính chất không hoàn trả trực tiếp - Các khoản chi của ngân sách nhà nước gắn chặt với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tiền lương, tín dụng, v.v... (các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ). Nội dung của chi ngân sách nhà nước * Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nước gồm: Chi đầu tư phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản, khấu hao tài sản xã hội . Chi bảo đảm nhu cầu xã hội . * Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước chia ra: Tiêu dùng cuối cùng (của Nhà nước): các khoản chi thường xuyên cho mua sắm của các cơ quan Nhà nước. Đầu tư kết cấu hạ tầng: xây dựng cơ bản và khấu hao tài sản. Phân phối và tái phân phối xã hội: lương công nhân viên chức và các khoản trợ cấp xã hội, hưu trí. Phân loại chi ngân sách nhà nước * Căn cứ vào mục đích, nội dung: Nhóm 1: Chi tích lũy của ngân sách nhà nước là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là những khoản chi đầu tư phát triển và các khoản tích lũy khác. Nhóm 2: Chi tiêu dùng của ngân sách nhà nước là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai; bao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh... * Căn cứ theo yếu tố thời hạn và phương thức quản lý: Nhóm chi thường xuyên bao gồm các khoản chi nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của nhà nước. Nhóm chi đầu tư phát triển nhằm làm tăng cơ sở vật chất của đất nước và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nhóm chi trả nợ và viện trợ bao gồm các khoản chi để nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế. Nhóm chi dự trữ là những khoản chi ngân sách nhà nước để bổ sung quỹ dự trữ nhà nước và quỹ dự trữ tài chính. Yếu tố ảnh hưởng đến chi ngân sách nhà nước - Chế độ xã hội là nhân tố cơ bản; - Sự phát triển của lực lượng sản xuất; - Khả năng tích lũy của nền kinh tế; - Mô hình tổ chức bộ máy của nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ. Quan điểm về bội chi ngân sách Nhà nước Bội chi NSNN trong một thời kỳ (1 năm, 1 chu kỳ kinh tế) là số chênh lệch giữa chi lớn hơn thu của thời kỳ đó. Nhưng thu gồm những khoản nào, chi gồm những khoản gì? Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau: Bảng : Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm Thu  Chi     A. Thu thường xuyên (thuế, phí, lệ phí).   B. Thu về vốn (bán tài sản nhà nước).   C. Bù đắp thâm hụt.    - Viện trợ.   - Lấy từ nguồn dự trữ.   Vay thuần (= vay mới - trả nợ gốc).    D. Chi thường xuyên.   E. Chi đầu tư.   F. Cho vay thuần   (= cho vay mới - thu nợ gốc).   A + B +C = D + E + F Công thức tính bội chi NSNN của một năm sẽ như sau: Bội chi NSNN = Tổng chi - Tổng thu = (D + E + F) - (A + B) = C Những nhân tố ảnh hưởng đến bội chi ngân sách Nhà nước - Bản chất, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của Nhà nước - Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội - Mục tiêu, quan điểm chiến lược tài chính tiền tệ - Xu hướng diễn biến tình hình kinh tế - Những nhân tố kĩ thuật, chuyên môn ảnh hưởng đến cách xác định mức bội chi ngân sách Nhà nước. Nguyên nhân gây ra bội chi ngân sách nhà nước Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi ngân sách nhà nước: - Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi ngân sách nhà nước tăng lên. Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi ngân sách nhà nước. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ. - Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của nhà nước. Khi nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi ngân sách nhà nước. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của nhà nước thì mức bội chi ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu. Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,...), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi ngân sách nhà nước. Ảnh hưởng của bội chi ngân sách Nhà nước Ở bất kỳ quốc gia nào, từ các nước có nền kinh tế chưa phát triển đến những quốc gia phát triển nhu cầu chi tiêu và thực tế chi của nhà nước đều không thể cắt giảm mà ngày càng tăng lên, trong khi đó việc tăng thu ngân sách bằng công cụ thuế sẽ dẫn đến sự phản đối từ phía người dân, các tổ chức kinh tế xã hội và hậu quả sẽ nhận được là sự kìm hãm tốc độ tích tụ vốn cho sản xuất,hạn chế tiêu dùng dẫn đến khả năng suy thoái kinh tế tăng cao Thực tế cho thấy, bội chi NSNN không có nguồn bù đắp hợp lý sẽ dẫn tới lạm phát, gây tác hại xấu đối với nền kinh tế cũng như đời sống xã hội Tuy nhiên, bội chi ngan sách không phải lúc nào cũng ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Nếu bội chi ngân sách vào khoảng 5 % thì lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển.Vì vậy, các quôc gia có nền kinh tế phát triển cũng chỉ cố gắng thu hẹp bội chi ngân sách chứ không loại trừ hoàn toàn.Còn các nước đang phát triển thì luôn luôn muốn giữ bội chi ngân sách ở một mức độ phù hợp để khuyến khích sản xuất và tiêu dùng. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Thực trạng bội chi ngân sách Nhà nước: Giai đoạn từ năm 1991-1995 bội chi ngân sách nhà nước trong những năm 1991-1995 là rất thấp (2,63%). Giai đoạn năm 1996-2000, tình hình thu chi ngân sách nhà nước đã có nhiều chuyển biến tích cực, thu không những đủ chi thường xuyên mà còn cho đầu tư phát triển, thâm hụt ngân sách nhà nước được khống chế ở mức thấp. Trong những năm này, tỷ lệ bội chi bình quân 5 năm là 3,87% GDP, cao hơn mức bình quân năm 1991-1995 (2,63%). Năm 2000 có mức bội chi cao nhất là 4,95% GDP. Đây là thời kỳ suy thoái và thiểu phát, nên mức bội chi ngân sách nhà nước như trên không tác động gây ra lạm phát mà có tác động làm cho nền kinh tế chuyển sang giai đoạn đi lên. Giai đoạn từ năm 2001-2007 bội chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn này về cơ bản được cân đối ở mức 5% GDP, tăng cao hơn các năm trước đó khá nhiều (bình quân khoảng 4,95% GDP) vì giai đoạn năm 1991-1995, mức bội chi chỉ ở mức 2,63% GDP và giai đoạn 1996-2000 ở mức 3,87%GDP. Thực tế trong những năm gần đây, mặc dù chúng ta đã kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước từ hai nguồn là vay nước ngoài và vay trong nước nên sức ép tăng tiền cung ứng thêm ra thị trường là không có, nhưng sức ép tăng chi tiêu của chính phủ cho tiêu dùng thường xuyên và cho đầu tư là tăng lên. Bội chi ngân sách nhà nước tăng cao thể hiện chính sách tài khoá lỏng lẻo, nói lên sự chi tiêu của chính phủ cho đầu tư và thường xuyên vượt quá mức có thể của nền kinh tế. Ngày 10/11/2010, Quốc hội thông qua nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2011 với mức bội chi bằng 5,3% GDP. Theo nghị quyết, tổng thu ngân sách nhà nước là 595.000 tỷ đồng, tương đương 26,2% tổng sản phẩm trong nước (GDP), nếu tính cả 10.000 tỷ đồng thu chuyển nguồn năm 2010 sang năm 2011 thì tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 605.000 tỷ đồng. Tổng số chi ngân sách nhà nước là 725.600 tỷ đồng, mức bội chi 120.600 tỷ đồng, tương đương 5,3% GDP. Nghị quyết cũng tán thành các nhóm giải pháp của chính phủ về thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, trong đó tập trung thực hiện chính sách tài khóa thận trọng, kiểm soát chặt chẽ thu, chi ngân sách nhà nước. Rà soát sắp xếp thứ tự ưu tiên đầu tư, đầu tư đồng bộ, tập trung bố trí vốn cho các dự án công trình trọng điểm, cấp bách, hoàn thành trong năm 2011-2012, nhất là tại các địa phương nghèo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giảm dần tỷ trọng vốn đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước đi đôi với đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác có thể tham gia. Những ưu điểm và hạn chế trong quản lí bội chi ngân sách Nhà nước: Ưu điểm và kết quả Trong những năm qua, chúng ta đã kiểm soát được mức bội chi ngân sách nhà nước ở giới hạn cho phép (không quá 5% GDP/năm). Ngoài ra, chúng ta cũng tích lũy được một phần từ nguồn thu thuế, phí, lệ phí chi đầu tư phát triển. Từ năm 2001 trở lại đây, mức bội chi ngân sách nhà nước đã có những biến chuyển tích cực do sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Tốc độ tăng thu hằng năm bình quân khoảng 19%. Trong đó, thu từ dầu thô chiếm tỷ trọng gần một phần tư tổng thu ngân sách nhà nước, chủ yếu do những năm vừa qua giá dầu thô tăng mạnh. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đưa vào cân đối ngân sách tăng bình quân khoảng 15%/năm và chiếm tỷ trọng khoảng 30%. Thuế đã được xem xét đúng với vai trò cơ bản của nó trong cơ chế thị trường là tạo nguồn thu cho ngân sách, kích thích tăng trưởng, điều chỉnh và phân phối lại thu nhập. Hệ thống thuế được cải cách theo hướng mở rộng cơ sở thu thuế, tăng tỉ lệ động viên từ thuế so với GDP, đảm bảo công bằng, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, các sắc thuế có nội dung rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, dễ làm, dễ kiểm tra và không trùng lắp, nhiều sắc lệnh thuế ban hành phù hợp với điều kiện nước ta và thông lệ quốc tế (thuế thu nhập, thuế đất đai, thuế tài nguyên). Chi tiêu ngân sách hàng năm được quốc hội thảo luận và thông qua trong các phiên họp của mình, thể hiện rõ định hướng của nhà nước trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Chi ngân sách thực hiện theo nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả nhằm nâng dần phần tích lũy của ngân sách cho đầu tư phát triển. Khoản chi thường xuyên của ngân sách thường được khống chế tối đa trong khuôn khổ khả năng thu ngân sách. Mỗi khoản chi được xác định trên cơ sở phân định rõ đối tượng và mục đích cụ thể. Tốc độ tăng chi thường xuyên được khống chế thấp hơn tốc độ tăng chi cho phát triển.... Trong đó, tỷ trọng chi cho đầu tư phát triển; chi ngân sách cho giáo dục - đào tạo; chi khoa học - công nghệ; chi cho y tế và kinh phí thực hiện chính sách đối với người có công, gia đình chính sách, thực hiện nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo tăng lên… Do đó bội chi ngân sách nhà nước trong giai đoạn này về cơ bản được cân đối ở mức 5% GDP. Như vậy, sự ra đời của Luật ngân sách nhà nước năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 1998, sau đó ban hành Luật ngân sách nhà nước năm 2002 thay thế Luật 1996, và được sửa đổi bổ sung năm 2008 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong phương pháp điều hành tài khóa, giúp cải thiện rất lớn tình hình ngân sách những năm qua. Do đối mặt với những khó khăn về nguồn thu, tiềm lực tài chính, tâm lý lo ngại nguy cơ giá cả tăng vọt không kiểm soát được, tình trạng lãng phí, chính sách tài khóa đã được điều hành theo hướng giảm áp lực lạm phát, ngân sách được điều hành theo chủ trương thắt chặt chi tiêu tiến hành tiết kiệm, cắt giảm chi thường xuyên. Việc duy trì được mức bội chi ngân sách 5% so với GDP trong thời gian vừa qua có thể coi là thành tựu lớn trong điều hành kinh tế vĩ mô vì đã thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng tương đối ổn định. 2.2. Hạn chế và thách thức Nhu cầu vốn tài trợ cho sự phát triển nền kinh tế quá lớn đòi hỏi phải đi vay để bù đắp, chúng ta phải vay để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Nhưng, trên thực tế số tiền vay, đặc biệt của nước ngoài, chưa được quản lý chặt chẽ. Tình trạng đầu tư dàn trải ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả. Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách, để công trình vận hành và phát huy tác dụng, luôn phải đòi hỏi nhu cầu kinh phí cho hoạt động. Để có nguồn kinh phí này hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi ngân sách nhà nước. Luật ngân sách nhà nước sửa đổi năm 2002 mở rộng thêm quyền chủ động trong việc huy động vốn của ngân sách địa phương. Vay vốn đầu tư thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định (không phải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định như trước đây). Như vậy, mặc dù chúng ta chấp nhận về nguyên tắc là không có việc bội chi ngân sách địa phương nhưng thực tế lại vẫn cho phép địa phương vay để đầu tư.   Vấn đề là ở chỗ, hiện nay, các địa phương vay vốn để đầu tư theo quy định tại khoản 3 điều 8 của Luật ngân sách nhà nước tương đối lớn và chưa được quản lý một cách chặt chẽ. Với nhiều địa phương đây là điều kiện để tăng cường cơ sở vật chất, tạo điều kiện phát triển kinh tế. Điều đáng lưu ý là trong khi nguồn vốn ngân sách hiện có chưa tận dụng hết, các địa phương vẫn tiến hành vay vốn; tỷ lệ vốn vay chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi đầu tư phát triển. Trong khi phải đi vay thì ngân sách địa phương lại để kết dư lớn. Mặt khác, còn một số khoản vay không cân đối vào ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tạo nên khoản thu chi ngoài ngân sách và khi đến hạn, ngân sách địa phương không có nguồn để thanh toán gốc và lãi. Một trong những nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam là tuân theo theo nguyên tắc thống nhất, điều đó đòi hỏi các khoản bội chi của ngân sách địa phương phải được tổng hợp để tính bội chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên khi vay, các địa phương phải cân đối ngân sách nên không thể hiện đầy đủ bội chi khi quyết toán ngân sách nhà nước. Mức bội chi ngân sách nhà nước hằng năm trình quốc hội mới chỉ phản ánh được mức bội chi của ngân sách trung ương. Đây là một trong những mắt xích cần phải được giải quyết trong việc xử lý bội chi ngân sách nhà nước. Việc thu chi NSNN vẫn còn không ít tồn tại, cần có những thay đổi cơ bản: Tình trạng thất thu còn khá phổ biến, hiệu quả kiểm soát nguồn thu ngân sách còn hạn chế. Thu NSNN vẫn còn phụ thuộc nhiều vào các biến động theo thị trường thế giới như dầu thô và hoạt động xuất nhập khẩu. Theo những đánh giá của IMF, hoạt động ngân sách trong một số năm gần đây là tích cực, ngoài ra, do có nguồn thu lớn từ dầu thô cho nên vị thế về trung hạn của ngân sách là có thể kiểm soát được, miễn là hoạt động cho vay lại và các khoản nợ nằm ngoài ngân sách được kiểm soát chặt chẽ.Tuy nhiên trong năm gần đây cũng ghi nhận những chuyển biến, theo đó cơ chế quản lý tài chính được sửa đổi theo hướng minh bạch và tăng cường tự chủ tài chính, gắn trách nhiệm của đơn vị sử dụng ngân sách, tạo cơ sở cho việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính công trong những năm tới. Luật NSNN sửa đổi từ năm ngân sách 2004 đã được hoàn thiện dần và đến nay cơ bản đã hoàn tất cùng với việc hoàn tất 3 luật thuế GTGT, thuế TTĐB, thuế TNDN mới sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2004 chắc chắn sẽ có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh và dẫn đến kết quả tích cực hơn cho thu chi NSNN năm 2004 và những năm sau.  Việc hoàn thuế và kiểm tra hoàn thuế còn nhiều bất cập. Vấn đề không hoàn thành các mục tiêu đề ra là cần phải xem xét. Như vậy, trong bối cảnh tiến hành hội nhập với những biến động phức tạp của thị trường thế giới thì đây là dấu hiệu cảnh báo về quản lý NSNN. Nguồn thu ngân sách qua các năm không ổn định và Thực hiện công khai, minh bạch toàn bộ hoạt động đầu tư từ nguồn vốn NSNN là một giải pháp cấp bách trong quá trình hội nhập. Nhất là khi đường lối chủ động hội nhập quốc tế và lộ trình cắt giảm thuế quan được công khai.  Bên cạnh những nhiệm vụ chi thực hiện sát với dự toán, một số nhiệm vụ chi tăng so với dự toán là cần thiết như tăng chi sự nghiệp kinh tế để khắc phục hậu quả thiên tai; hỗ trợ nông dân khắc phục hậu quả của dịch bệnh cúm gia cầm và khôi phục sản xuất chăn nuôi; tăng chi đầu tư phát triển; một số địa phưng đã chủ động bố trí vốn trong dự toán ngân sách năm 2004 để thanh toán nợ xây dựng cơ bản… Tuy nhiên, những tồn tại trong quản lý ngân sách còn lớn như nhiều địa phương bố trí vốn còn phân tán; sử dụng ngân sách lãng phí; việc sử dụng vốn trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng trường, lớp học chưa hiệu quả, vốn huy động phi lãi suất chưa được sử dụng kịp thời, thường xuyên bị tồn đọng ở mức lớn.  Chi đầu tư xây dựng cơ bản còn dàn trải, sử dụng vốn đầu tư kém hiệu quả, tỷ lệ thất thoát lớn khi mà nợ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN cao là vấn đề ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế – xã hội và kết quả cân đối ngân sách nhưng vẫn chậm được xử lý.  Trong khi đó, đội ngũ cán bộ, công chức không được đánh giá đúng, bố trí con người không phù hợp với chức vụ. Đáng lưu ý, tính chiến đấu và nhiệt huyết
Tài liệu liên quan