Tám nền kinh tế mà chúng ta nghiên cứu (HPAE)*là những nền kinh tế khác biệt nhau về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và thể chế chính trị. Nhật Bản, không giống như những nước khác, đã là một nền kinh tế công nghiệp khá trưởng thành ngay từ lúc bắt đầu của thời kỳ hậu chiến. Hơn nữa, tám nền kinh tế này còn khác biệt nhau về mức độ can thiệp của chính quyền vào nền kinh tế và cách thức mà những nhà lãnh đạo định hình và thực hiện chính sách của họ.
38 trang |
Chia sẻ: vietpd | Lượt xem: 1845 | Lượt tải: 1
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Bài giảng Ngân hàng thế giới - 1993 sự thần kỳ đông á tăng trưởng và chính sách công, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té
The World Bank 1 Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xuân Thành
NGÂN HÀNG THẾ GIỚI - 1993
SỰ THẦN KỲ ĐÔNG Á
TĂNG TRƯỞNG VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG
CHƯƠNG 1
TĂNG TRƯỞNG, CÔNG BẰNG
VÀ THAY ĐỔI VỀ KINH TẾ
Tám nền kinh tế mà chúng ta nghiên cứu (HPAE)* là những nền kinh tế khác biệt
nhau về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và thể chế chính trị. Nhật Bản, không giống như
những nước khác, đã là một nền kinh tế công nghiệp khá trưởng thành ngay từ lúc bắt đầu
của thời kỳ hậu chiến. Hơn nữa, tám nền kinh tế này còn khác biệt nhau về mức độ can
thiệp của chính quyền vào nền kinh tế và cách thức mà những nhà lãnh đạo định hình và
thực hiện chính sách của họ. Ví dụ, những nhà làm chính sách ở Hàn Quốc đã can thiệp
khá sâu vào thị trường công nghiệp, lao động, và tín dụng; trong khi đó những nhà lập
chính sách ở Hồng Kông thì luôn khoanh tay không can thiệp.
Tuy nhiên, bất kể nhiều khác biệt, tám nền kinh tế này có khá nhiều điểm tương
đồng. Xét theo nhiều mặt, ta có thể xếp các nền kinh tế này vào cùng một nhóm dựa vào
quá trình phát triển của họ sau chiến tranh. Đặc tính chung rõ nhất của họ là tốc độ tăng
trưởng kinh tế trung bình khá cao. Trong cùng một thời gian, bất bình đẳng về thu nhập
giảm bớt, đôi khi giảm rất nhiều. Hai kết quả này - tăng trưởng nhanh và bất bình đẳng
giảm - là các đặc tính cơ bản của điều được xem là sự thần kỳ về kinh tế ở Đông Á.
Tám nền kinh tế còn có chung sáu đặc trưng phân biệt nữa. Khi so với hầu hết các
nền kinh tế đang phát triển khác, tất cả tám nền kinh tế đều có:
• Tổng sản phẩm quốc dân và năng suất trong khu vực nông nghiệp tăng nhanh hơn
• Tốc độ tăng trưởng cao hơn trong xuất khẩu công nghệ phẩm.
• Tỷ lệ sinh sản giảm sớm hơn và nhanh hơn.
• Tốc độ tăng trưởng vốn vật chất cao hơn, hỗ trợ bởi tỷ lệ tiết kiệm nội địa cao hơn.
• Mức độ khởi đầu và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn con người cao hơn.
• Tốc độ tăng trưởng năng suất nhìn chung cao hơn.
Tất cả những đặc tính này đều liên quan đến tăng trưởng nhanh và công bằng hơn
của họ. Một số đặc tính là nguồn gốc của tăng trưởng, một số là kết quả của tăng trưởng,
và một số khác lại là đặc tính duy nhất của sự tăng trưởng của nhóm nước HPAE, tuy
nhiên, hầu hết đều rơi vào từ hai phân loại trở lên của cách phân loại này.
* Tám nền kinh tế bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Indonesia và
Thái Lan. Trong báo cáo, các nước này được gọi là các nền kinh tế châu Á có thành tự kinh tế cao, viết tắt là
HPAE (high-performing Asian econonomies).
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té
The World Bank 2 Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xuân Thành
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NHANH VÀ BỀN VỮNG
Tám nền kinh tế HPAE này tăng trưởng nhanh hơn và nhất quán hơn so với bất kỳ
các nhóm nước khác trên thế giới từ 1960 đến 1990. Họ đạt được tốc độ tăng trưởng trung
bình hàng năm về thu nhập thực bình quân đầu người là 5,5%, hơn hẳn các nền kinh tế tại
châu Mỹ La tinh và các nước châu Phi hạ Sahara (ngoại trừ Botswana giàu có kim cương).
Trung Quốc, một nền kinh tế khác ở Đông Á, đã tăng trưởng 5,8%/năm kể từ năm 1965 và
có thể đòi hỏi được xếp vào hàng ngũ các nước HPAE.1
Hình 1.1 cho thấy mối quan hệ giữa mức thu nhập so với Mỹ trong năm 1960 và tốc
độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của 119 nền kinh tế trong giai đoạn 1960-
1985. Các nền kinh tế đang phát triển đã không bắt kịp các nền kinh tế đã phát triển; hơn
70% các nền kinh tế đang phát triển đã tăng trưởng chậm hơn so với mức trung bình của
các nền kinh tế có thu nhập cao.2 Rắc rối hơn nữa là, trong mười ba nền kinh tế đang phát
triển, thu nhập bình quân đầu người đã sụt giảm thực sự. Tăng trưởng của tám nước HPAE
thì hoàn toàn khác. Tốc độ tăng trưởng của họ cao hơn đáng kể so với mức trung bình của
các nền kinh tế có thu nhập cao. Không giống như hầu hết phần còn lại của thế giới đang
phát triển, các nền kinh tế HPAE đã bắt kịp các nền kinh tế công nghiệp. Hồng Kông,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan là những trường hợp đáng chú ý.
Hình 1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP thời gian 1960-85, và GDP bình quân đầu người 1960
Ghi chú: Trên hình có biểu diễn hàm hồi quy: GDPG = 0,013 + 0,062RGDP60 - 0,061RGDP602. N = 119; 2R = 0,036
(0,004) (0,027) (0,033)
Nguồn: Summers and Heston (1991); Barro (1989); số liệu của Ngân hàng Thế giới.
Những nền kinh tế đang phát triển khác đã tăng trưởng nhanh trong một số năm,
đặc biệt là trước thập niên 80, nhưng rất ít trong số đó đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền
vững trong vòng ba thập niên liền.3 Hình 1.2 cho thấy tốc độ tăng trưởng về thu nhập bình
quân đầu người của 119 nền kinh tế trong hai thời kỳ, 1960-1970 và 1970-1985. 11 nền
kinh tế đã đạt được tăng trưởng nhanh trong cả hai thời kỳ là những nền kinh tế ở góc đông
Tốc độ tăng trưởng GDP (%, bình quân, 1960-85)
GDP b/q đầu người so sánh (tính theo tỷ lệ % GDP b/q đầu người của Mỹ, 1960)
Các nến kinh tế thu nhập cao
Tám nền kinh tế HPAE
Các nến kinh tế đang phát triển khác
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té
The World Bank 3 Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xuân Thành
bắc (của Hình 1.2). Trong số đó, có năm nước là gương thành công điển hình ở khu vực
Đông Á: Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan. Rõ ràng là Nhật bản
đã chuyển từ nước có tốc độ tăng trưởng vô cùng cao trong thập niên 60 thành nước có tốc
độ tăng trưởng đặc trưng hơn của các nước có thu nhập cao trong thập niên 70. Ba nền
kinh tế HPAE khác - Indonesia, Malaysia và Thái Lan - đều cho thấy sự tăng trưởng gia
tốc, với tốc độ tăng trưởng cao hơn trong thời kỳ thứ hai so với thời kỳ đầu. Indonesia là
một trong ba nền kinh tế duy nhất di chuyển từ vị trí cuối lên vị trí hàng đầu trong bảng
xếp hạng tốc độ tăng trưởng giữa hai thời kỳ.
Hình 1.2 Tốc độ tăng trưởng được duy trì
Ghi chú: Các ô là vùng 75% của tốc độ tăng trưởng trong từng thời kỳ
Nguồn: Summers and Heston (1991); Barro (1989); số liệu của Ngân hàng Thế giới.
BẤT BÌNH ĐẲNG VỀ THU NHẬP ĐANG GIẢM và NGHÈO ĐÓI ĐƯỢC THU HẸP
Các nước HPAE cũng có mức độ bất bình đẳng về thu nhập thấp lạ thường và ngày
càng giảm. Điều này trái lại với các kinh nghiệm trong lịch sử và các bằng chứng hiện
hữu ở những khu vực khác (Kuznets 1955). Quan hệ đồng biến giữa sự tăng trưởng và mức
độ bất bình đẳng thấp về thu nhập ở các nước HPAE, và sự tương phản với các nền kinh tế
khác, được minh họa ở Hình 1.3. Bốn mươi nền kinh tế được xếp hạng dựa vào tỷ số giữa
phần thu nhập của một phần năm dân số giàu nhất với phần thu nhập của một phần năm
dân số nghèo nhất, và sự tăng trưởng thực GDP bình quân đầu người trong thời gian 1965-
89. Góc tây bắc của Hình 1.2 cho thấy các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao (GDP
bình quân đầu người tăng cao hơn 4,0%) và độ bất bình đẳng về thu nhập khá thấp (tỷ số
của phần thu nhập của nhóm một phần năm đầu với phần thu nhập của nhóm một phần
năm cuối là nhỏ hơn 10). Có bảy nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao và mức độ bất
Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 1970-85
Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 1960-70
Các nến kinh tế thu nhập cao
Tám nền kinh tế HPAE
Các nến kinh tế đang phát triển khác
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té
The World Bank 4 Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xuân Thành
bình đẳng về thu nhập thấp. Tất cả đều là các nước Đông Á; chỉ có Malaysia có chỉ số
chênh lệch thu nhập trên 15, được loại ra.
Khi các nền kinh tế Đông Á được phân chia nhóm theo tốc độ tăng trưởng, thì phân
phối thu nhập tại các nước tăng trưởng nhanh có mức quân bình cao hơn nhiều (Birdsall
and Sabot 1993b). Đối với tám nước HPAE, tăng trưởng nhanh và mức độ bất bình đẳng
về thu nhập giảm là những ưu điểm chung, như minh họa bởi so sánh về bình đẳng và tăng
trưởng theo thời gian bằng cách sử dụng hệ số Gini (xem Hình 3 trong phần tổng quan của
cuốn sách). Các nước đang phát triển HPAE rõ ràng hơn hẳn các nền kinh tế có thu nhập
trung bình khác ở điểm họ có mức độ bất bình đẳng về thu nhập thấp hơn và mức tăng
trưởng cao hơn. Hơn thế nữa, như ở các hình A1.7-A1.9 ở cuối chương cho thấy, những
tiến bộ trong phân phối thu nhập thường trùng khớp với thời kỳ tăng trưởng nhanh.
Hình 1.3 Bất bình đẳng về thu nhập và tăng trưởng GDP, 1965-89
Ghi chú: Sự chênh lệch thu nhập được đo bằng tỷ phần thu nhập của 20% dân số giàu nhất với tỷ phần thu nhập của 20%
dân số nghèo nhất.
Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới.
Tốc độ tăng trưởng GDP b/q đầu người (%) 1970-85
Bất bình đẳng về thu nhập
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té
The World Bank 5 Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xuân Thành
Ở đây, cần lưu ý hai điểm. Trước hết, một vài nghiên cứu về Hàn Quốc cho thấy sự
bất bình đẳng gia tăng trong những năm gần đây; tuy nhiên, hầu hết là do giá trị tài sản
tăng lên, đặc biệt là đất đai, chứ không phải mức chênh lệch thu nhập gia tăng. Thứ hai,
mức độ giảm thiểu bất bình đẳng ở Thái Lan tương đối không đáng kể so với các nước
khác trong HPAE, mặc dù thành tựu của Thái Lan vẫn tốt hơn hầu hết các nước đang phát
triển khác.
Với tăng trưởng nhanh và bất bình đẳng giảm, những nền kinh tế này tất nhiên đã
thành công vượt bậc trong xóa đói giảm nghèo. Bảng 1.1 so sánh các mức giảm thiểu
nghèo đói trong một vài nước HPAE và các nền kinh tế khác được chọn (thời gian thay đổi
tùy theo số liệu sẵn có). (Nghèo đói được định nghĩa là không có khả năng đạt được mức
sống tối thiểu - Ngân hàng Thế giới 1990b). Mức gia tăng tuổi thọ cũng lớn hơn so với bất
kỳ khu vực nào khác (xem Bảng 1.2).
Bảng 1.1: Những Thay Đổi trong các Chỉ Số về Nghèo Đói
Phần trăm dân số Số lượng người nghèo
sống dưới mức nghèo đói (triệu)
_________________________________________________________________________ __________________________________________________________________________
Năm Năm Thay đổi Năm Năm Phần trăm
Nền kinh tế Năm đầu cuối đầu cuối thay đổi
__________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________
Nhóm HPAE
Indonesia 1972-82 58 17 -41 67,9 30,0 -56
Malaysiaa 1973-87 37 14 -23 4,1 2,2 -46
Singapore 1972-82 31 10 -21 0,7 0,2 -71
Thái Lana,b 1962-86 59 26 -30 16,7 13,6 -18
Các nước khác
Brazila,b 1960-80 50 21 -29 36,1 25,4 29,6
Colombia 1971-88 41 25 -16 8,9 7,5 -15,7
Costa Ricaa 1971-86 45 24 -19 0,8 0,6 -25
Bờ Biển Ngà 1985-86 30 31 1 3,1 3,3 6,4
Ấn Độ 1972-83 54 43 -9 311,4 315,0 1
Morocco 1970-84 43 34 -9 6,6 7,4 12
Pakistan 1962-84 54 23 -31 26,5 21,3 -19
Sri Lankaa 1963-82 37 27 -10 3,9 4,1 5
________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________
Ghi chú: Bảng này sử dụng mức nghèo đói cụ thể cho từng nền kinh tế. Khi có số liệu, mức nghèo đói chính thức hay
thường dùng được sử dụng. Trong các trường hợp khác, mức nghèo đói được định ở mức 30% thu nhập hoặc chi tiêu
tối thiểu. Mức nghèo đói, được tính theo mức chi tiêu của thành viên trong gia đình và dưới tính theo dollar ngang giá
sức mua (PPP), xê dịch trong khoảng $300-$700/năm trong 1985 ngoại trừ Costa Rica ($960), Malaysia ($1,420),
Singapore ($860). Trừ khi được chỉ định khác đi, bảng này dựa trên cơ sở chi tiêu của từng thành viên hộ gia đình.
a. Số liệu của các nước này sử dụng thu nhập hơn là chi tiêu
b. Số liệu của các mục này dựa vào hộ gia đình hơn là thành viên hộ.
Nguồn: Ngân hàng Thế giới (1990b, bảng 3.2 và 3.3)
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té
The World Bank 6 Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xuân Thành
Bảng 1.2 Tuổi thọ bình quân 1960 và 1990
Tuổi thọ bình quân (năm) _____________________________________________________________
Nền kinh tế/Khu vực 1960 1990
___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________
Các nước HPAE
Hồng Kông 64 78
Indonesia 46 59
Hàn Quốc 53 72
Malaysia 58 71
Singapore 65 74
Thái Lan 52 68
Các nước Châu Á kháca 50 62
Trung Quốc 43 69
Ấn Độ 47 58
Châu Phi hạ Sahara 43 52
Châu Mỹ La tinh và Caribbean 54 70
Các nền kinh tế thu nhập thấp 36 62
Các nền kinh tế thu nhập trung bình 49 66
Các nền kinh tế công nghiệp phát triển 70 77
___________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________
Ghi chú: Trị số trung bình của khu vực được tính theo tỷ trọng.
a. Không kể Trung Quốc và Ấn Độ
Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới.
CÁC KHU VỰC NÔNG NGHIỆP NĂNG ĐỘNG
Nhìn chung, khi nền kinh tế phát triển, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế suy
giảm. Sáu nước HPAE với khu vực nông nghiệp đáng kể - Indonesia, Nhật Bản, Hàn
Quốc, Malaysia, Thái Lan, và Đài Loan - đã thực hiện sự chuyển đổi này nhanh hơn so với
các nền kinh tế đang phát triển khác.4 Tuy nhiên việc giảm tầm quan trọng tương đối của
nông nghiệp trong các nước HPAE không phải là do khu vực nông nghiệp kém năng động.
Ở khắp các khu vực đang phát triển, tỷ trọng sản lượng và lao động nông nghiệp trong nền
kinh tế đã giảm nhiều nhất và nhanh nhất tại nơi mà sản lượng và năng suất nông nghiệp
gia tăng nhiều nhất (xem Bảng 1.3). Từ 1965 đến 1988, tăng trưởng cả về sản lượng lẫn
năng suất nông nghiệp ở khu vực Đông Á cao hơn so với các khu vực khác. Nhiều yếu tố
góp phần vào sự thành công trong nông nghiệp tại các nước này. Cải cách ruộng đất (rõ
ràng nhất là ở Hàn Quốc và Đài Loan), dịch vụ khuyến nông, hạ tầng cơ sở tương đối tốt
(đặc biệt tại các nước thuộc địa cũ của Nhật Bản) và việc đầu tư mạnh vào khu vực nông
thôn (rõ nhất ở Indonesia) tất cả đã giúp tạo kết quả này.
Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright
Niên khoá 2004-2005
Kinh tế phát triển
Bài đọc
Sự thần kỳ Đông Á
Ch. 1 Tăng trưởng, công bằng và
Thay đổi về kinh té
The World Bank 7 Dịch: Lửa Hạ/Xinh Xinh
H.Đính: Xuân Thành
Bảng 1.3 Tốùc độ tăng thu nhập, lao động và tỷ trọng sản lượng nông nghiệp, 1965-1988 (%)
Tỷ phần nông nghiệp Tốùc độ tăng trưởng
trong tổng sản lượng trung bình hàng năm
______________________________________________________________________ ____________________________________________________________________________________
Giảm sút, Thu nhập Lao động Năng
Khu vực 1965 1988 1965-88 (%) nông nghiệp nông nghiệp suấùt
_____________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________
Châu Á
Nam Á 44 33 25 2,4 1,7 0,6
Đông Á 41 22 46 3,2 1,0 2,2
Châu Phi hạ Sahara 43 34 21 1,9 1,6 0,3
Châu Mỹ La tinh 16 10 37 2,3 1,7 1,5
_____________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________________
Nguồn: Turnham (1993). Về các số liệu tỷ trọng sản lượng nông nghiệp: số liệu của Ngân hàng Thế giới.
Chính quyền các nước Đông Á đã hỗ trợ tích cực cho hoạt động nghiên cứu và các
dịch vụ khuyến nông để thúc đẩy sự phổ biến các công nghệ của cuộc Cách mạng Xanh.
Đầu tư đáng kể của các nước ngày về thủy lợi và các hạ tầng cơ sở khác ở nông thôn đã
đẩy nhanh việc áp dụng các giống cây có năng suất cao, vụ mới, và việc sử dụng các
nguyên liệu nhập lượng như phân bón, và thiết bị máy móc, để trồng trọt. Tại Đài Loan,
trong thập niên 50, 45% mức tăng trưởng nông nghiệp là do gia tăng năng suất, mà phần
lớn là kết quả của các chương trình nhà nước (xem Ranis 1993).
Có rất ít thông tin về việc phân bổ đầu tư nhà nước giữa khu vực nông thôn và đô
thị và cũng khó có được so sánh đúng giữa các nền kinh tế, tuy nhiên những số liệu sẵn có
cho thấy rằng các nước HPAE đã phân bổ phần đầu tư nhà nước của mình vào khu vực
nông thôn lớn hơn so với các nền kinh tế thu nhập thấp và trung bình. Về khía cạnh này,
việc xây dựng cơ sở hạ tầng – cầu, đường, vận tải, điện, nước và vệ sinh - mang ý nghĩa
rất lớn. Bảng 1.4 cho thấy có sự cân bằng giữa đầu tư nhà nước ở nông thôn và đô thị trong
hệ thống cấp nước và vệ sinh ở Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan hơn so với các nền kinh
tế đang phát triển khác. Số liệu về điện khí hoá nông thôn cũng cho thấy rằng, tính trung
bình, các nước HPAE đã cung cấp điện năng một cách hiệu quả hơn cho khu vực nông
thôn. Từ đầu thập niên 80, điện đã phổ biến trong khu vực nông thôn tại Hàn Quốc và Đài
Loan. Malaysia và Thái Lan đã có bước tiến đáng kể trong việc điện khí hóa nông thôn.
Indonesia tu