Đặc điểm viêm phổi có suy hô hấp ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi nhập khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi đồng 1

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm viêm phổi (VP) có suy hô hấp (SHH) ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi nhập Khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi đồng 1. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả 130 ca VP có SHH ở trẻ từ 2 tháng ‐ 5 tuổi tại Khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 9/2011‐ 3/2012. Kết quả: có 130 ca VP có SHH từ 2 tháng ‐ 5 tuổi, tỷ lệ nam/nữ: 1,5/1. Tuổi trung bình 8 tháng, nhóm tuổi 2 – 12 tháng 78,5%. Lâm sàng chủ yếu thở nhanh và rút lõm lồng ngực 98,4%, Sp02 < 90% chiếm 64,6%. Trẻ có bệnh lý đi kèm chủ yếu suy dinh dưỡng 54,6%, trào ngược dạ dày thực quản 12,3%, nhiễm trùng huyết 9,2%. Tổn thương X Quang phổi dạng phế quản phế viêm 52,3%. Khí máu dạng rối loạn hỗn hợp 33,3%. Điều trị hỗ trợ hô hấp: 56,9% thở oxy cannula, 17,7% thở NCPAP, 25,4% đặt nội khí quản giúp thở. Có 100% ca dùng kháng sinh, chủ yếu Cephalosporin thế hệ 3 (CPS‐III) 40%, CPS‐III phối hợp Aminoglycoside 27,8%. Trong đó 63,1% đổi kháng sinh ≥ 2 lần. Thời gian nằm viện trung bình 22 ngày. Kết quả: 70,8% xuất viện, tử vong 16,2%. Trẻ tử vong chủ yếu ở nhóm 2 – 12 tháng, tất cả đều có 1 hoặc nhiều bệnh lý đi kèm. Kết luận: Nhóm tuổi nhũ nhi, có bệnh lý đi kèm như suy dinh dưỡng, trào ngược dạ dày thực quản, nhiễm trùng huyết thường làm nặng thêm tình trạng VP có SHH

pdf6 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 11/06/2022 | Lượt xem: 319 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đặc điểm viêm phổi có suy hô hấp ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi nhập khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi đồng 1, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013 Hội nghị Khoa Học Kỹ thuật Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch  40 ĐẶC ĐIỂM VIÊM PHỔI CÓ SUY HÔ HẤP Ở TRẺ TỪ 2 THÁNG ĐẾN 5 TUỔI  NHẬP KHOA HÔ HẤP BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1  Huỳnh Tiểu Niệm*, Phan Hữu Nguyệt Diễm**  TÓM TẮT  Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát đặc điểm viêm phổi (VP) có suy hô hấp (SHH) ở trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi  nhập Khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi đồng 1.  Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả 130 ca VP có SHH ở trẻ từ 2 tháng ‐ 5 tuổi tại  Khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ tháng 9/2011‐ 3/2012.  Kết quả: có 130 ca VP có SHH từ 2 tháng ‐ 5 tuổi, tỷ lệ nam/nữ: 1,5/1. Tuổi trung bình 8 tháng, nhóm tuổi  2 – 12 tháng 78,5%. Lâm sàng chủ yếu thở nhanh và rút lõm lồng ngực 98,4%, Sp02 < 90% chiếm 64,6%. Trẻ  có bệnh  lý đi kèm chủ yếu suy dinh dưỡng 54,6%,  trào ngược dạ dày  thực quản 12,3%, nhiễm  trùng huyết  9,2%. Tổn thương X Quang phổi dạng phế quản phế viêm 52,3%. Khí máu dạng rối loạn hỗn hợp 33,3%. Điều  trị hỗ trợ hô hấp: 56,9% thở oxy cannula, 17,7% thở NCPAP, 25,4% đặt nội khí quản giúp thở. Có 100% ca  dùng kháng  sinh,  chủ yếu Cephalosporin  thế hệ 3  (CPS‐III) 40%, CPS‐III phối hợp Aminoglycoside 27,8%.  Trong đó 63,1% đổi kháng sinh ≥ 2 lần. Thời gian nằm viện trung bình 22 ngày. Kết quả: 70,8% xuất viện, tử  vong 16,2%. Trẻ tử vong chủ yếu ở nhóm 2 – 12 tháng, tất cả đều có 1 hoặc nhiều bệnh lý đi kèm.  Kết luận: Nhóm tuổi nhũ nhi, có bệnh lý đi kèm như suy dinh dưỡng, trào ngược dạ dày thực quản, nhiễm  trùng huyết thường làm nặng thêm tình trạng VP có SHH.  Từ khoá: viêm phổi, suy hô hấp.  ABSTRACT  CHARACTERISTICS OF RESPIRATORY‐DISTRESS PNEUMONIA AGED 2 MONTHS TO 5 YEARS  IN CHILDREN HOSPITAL NO 1  Huynh Tieu Niem, Phan Huu Nguyet Diem  * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 40 ‐ 45  Goal: Characteristics of respiratory‐distress pneumonia of children aged 2 months to 5 years at Respiratory  Department in the Children Hospital Nº 1.  Methods: A cross‐sectional study of 130 pneumonia patients aged 2 months  to 5 years with  respiratory  distress at Respiratory Department in the Children Hospital Nº 1 from 9/2011 – 3/2012.  Results:  There  were  130  cases  of  respiratory‐distress  pneumonia  children  aged  2  months  to  5  years,  male:female ratio was 1.5. Mean age was 8 months with 78.5% from 2 – 12 months. Majority of clinical signs  were  tachypnea  and  chest  wall  in  drawing  (98.4%),  SpO2  <  90%  (64.6%).  Comorbidities  consisted  of  malnutrition  (54.6%), GERD  (12.3%),  sepsis  (9.2%). Chest X‐ray  lesions were bronchopneumonia  (52.3%).  Mixed  derangements  in  arterial  gas  analysis were 33.3%. Respiratory  supports  included  canullation  oxygen  (56.9%), NCPAP (17.7%), invasive ventilation (25.4%). 100% of cases were administered antibiotics such as 3rd  generation CPS (40%), combination of 3rd generation CPS and Aminoglycoside (27.8%). There were 63.1% of  cases requiring change of antibiotics at least twice. Mean time of hospital stay was 22 days. Rate of discharge was  70.8%, mortality was 16.2%. Majority of deaths were aged‐2‐to‐12‐month child having at least one comorbidity.  * Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch ;   ** Trường Đại học Y Dược TP.HCM  Tác giả liên lạc: BS. Huỳnh Tiểu Niệm  ĐT: 0988367069    Email: bstieuniem@pnt.edu.vn   Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ thuật Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch  41 Conclusions: Infants, with comorbidities such as malnutrition, GERD and sepsis seemed to aggravate the  pneumonia with respiratory distress.  Key words: pneumonia, respiratory‐distress.  ĐẶT VẤN ĐỀ  Viêm phổi là bệnh lý thường gặp ở trẻ, ước  tính mỗi năm trên Thế giới có khoảng 155 triệu  trẻ em dưới 5 tuổi được chẩn đoán viêm phổi(9).  Năm 2006, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính có 20%  số  trẻ  tử vong  là do nhiễm  trùng hô hấp dưới  cấp tính, trong đó 90% do viêm phổi(11). Tại Việt  Nam viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong cao  nhất (2,8%), chiếm 33% tổng số tử vong do mọi  nguyên  nhân  ở  nước  ta(7).  Tại  Bệnh  viện Nhi  đồng 1, viêm phổi có tỷ  lệ nhập viện cao đứng  thứ 2 sau tiêu chảy. Năm 2004, viêm phổi chiếm  tỷ  lệ  cao nhất  (45%)  trong  tổng  số  bệnh  lý  hô  hấp(7). Chúng tôi thực hiện nghiên cứu khảo sát  đặc  điểm  viêm phổi  có  suy  hô  hấp  ở  trẻ  từ  2  tháng đến 5 tuổi nhẳm mục đích có thể cung cấp  số liệu ban đầu về đặc điểm dịch tễ, tỷ lệ các dấu  hiệu  lâm sàng, cận  lâm  sàng viêm phổi có  suy  hô hấp, ảnh hưởng của các yếu tố này đến việc  lựa  chọn  phương  pháp  hỗ  trợ  hô  hấp,  kháng  sinh và hiệu quả điều trị. Qua đó, góp phần giúp  chẩn đoán và xử trí kịp thời viêm phổi có suy hô  hấp nhằm hạn chế tỷ lệ tử vong.  ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu  Nghiên cứu cắt ngang mô tả  Đối tượng nghiên cứu  Trẻ 2 tháng đến 5 tuổi viêm phổi có suy hô  hấp nhập Khoa Hô hấp Bệnh viện Nhi Đồng I từ  9/2011 đến 3/2012  Tiêu chuẩn chọn mẫu  Lâm sàng: Sốt, ho, thở nhanh, khó thở và có  1 trong các dấu hiệu sau:    ‐ Rút lõm lồng ngực nặng    ‐ Tím tái với khí trời    ‐ Đầu gật gù    ‐ Bỏ bú, không uống được    ‐ Rối loạn tri giác: kích thích, li bì, lơ mơ    ‐ Ran phổi  Cận lâm sàng:     ‐ SpO2 < 90% và/ hoặc    ‐  Khí  máu  PaO2  <  60mmHg  và/  hoặc  PaCO2 > 50mmHg với FiO2 = 21%    ‐ Xquang phổi: tổn thương nhu mô phổi.  Tiêu chuẩn loại trừ  Có bệnh tim bẩm sinh   Suy  hô  hấp  do  nguyên  nhân  khác  không  phải viêm phổi: dị vật đường thở, chấn thương  ngực, suyễn  KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 9/2011  đến  tháng  3/2012  tại Khoa Hô Hấp Bệnh  viện  Nhi  đồng 1, có 130  trẻ bị viêm phổi có  suy hô  hấp  từ  2  tháng  đến  5  tuổi  được  chọn  vào  lô  nghiên cứu với những đặc điểm như sau:  Đặc điểm dịch tễ học  Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ học VP có SHH  Đặc điểm dịch tễ Tần số (n=130) Tỷ lệ (%) Nhóm tuổi 2 – 12 tháng >12 tháng – 5 tuổi 102 28 78,5 21,5 Giới tính Nam Nữ 79 51 60,8 39,2 CNLS < 2500gam 57 43,8 Không bú sữa mẹ 88 67,7 Đặc điểm lâm sàng  Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng VP có SHH  Triệu chứng lâm sàng Tần số (n =130) Tỷ lệ (%) Tri giác Tỉnh 101 77,7 Kích thích 17 13,1 Li bì, lơ mơ 12 9,2 Màu sắc da niêm Hồng 75 57,7 Xanh tái 47 36,2 Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013 Hội nghị Khoa Học Kỹ thuật Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch  42 Triệu chứng lâm sàng Tần số (n =130) Tỷ lệ (%) Tím 8 6,2 Thở nhanh theo tuổi 128 98,4 Ngưng thở 1 0,8 Thở không đều 1 0,8 Rút lõm ngực 128 98,4 Phập phồng cách mũi 56 43,4 Co kéo cơ hô hấp phụ 92 71,3 Đầu gật gù 11 8,5 Phổi có ran 116 89,2 Mạch nhanh theo tuổi 45 34,6 Sốt ≥ 37,50C 71 54,6 Sp02 khí trời < 90% 84 64,6 Bảng 3: Bệnh lý đi kèm  Bệnh đi kèm Tần số (n=130) Tỷ lệ (%) Suy dinh dưỡng Nhẹ Trung bình Nặng 70 30 16 24 53,8 23,1 12,3 18,5 Trào ngược dạ dày thực quản 16 12,3 Nhiễm trùng huyết 12 9,2 Đặc điểm cận lâm sàng  Bảng 4: Đặc diểm cận lâm sàng VP có SHH  Xét nghiệm Tần số Tỷ lệ Bạch cầu máu < 5000/mm3 ≥ 5000 - < 10000/ mm3 ≥ 10000/ mm3 130 2 33 95 1,5 25,4 73,1 CRP <10 ≥ 10 130 52 78 40 60 KMĐM Toan hô hấp RL hỗn hợp 60 16 20 26,7 33,3 Tổn thương trên XQ phổi Phế quản phế viêm Viêm phổi thuỳ Xẹp phổi Kết hợp 130 68 35 4 23 52,3 26,9 3,1 17,7 Cấy NTA Âm tính Dương tính 77 64 13 83,1 16,9 Cấy máu Âm tính Dương tính 88 84 4 95,5 4,5 Phương pháp điều trị  Hỗ trợ hô hấp  Liệu pháp oxy  tích cực nhất sử dụng nhiều  nhất là oxy cannula 56,9%, kế đến là đặt nội khí  quản bóp bóng hoặc thở máy 25,4%, sau cùng là  thở NCPAP 17,7%.  Kháng sinh lần 1  Bảng 5: Kháng sinh trong điều trị viêm phổi  Kháng sinh Tần số (n=130) Tỷ lệ % Cephalosporin thế hệ 3 (C3) 52 40 C3 + Aminoglycoside(AGs) 36 27,8 Quinolone 18 13,8 Quinolone + AGs 10 7,6 Quinolone + Vancomycin 10 7,6 C3 + Macrolide 1 0,8 C3 + Oxacilline 1 0,8 C3 + AGs + Oxacilline 1 0,8 Quinolone + Oxacilline 1 0,8 Đa số bệnh nhân phài đổi kháng sinh lần 2:  63,1%  (82  trẻ),  nhiều  nhất  là  7  lần  đổi  kháng  sinh.  Kết quả điều trị  Thời  gian  điều  trị  trung  bình  là  22  ngày  (±21,5 ngày)  Kết quả Tần số (n=130) Tỷ lệ (%) Xuất viện 92 70,8 Chuyển BV PNT 7 5,4 Xin về (thở oxy/ NCPAP) 10 7,6 Tử vong 21 16,2 BÀN LUẬN  Về đặc điểm dịch tễ học: tuổi trung bình của  dân số nghiên cứu là 8 tháng, nhóm tuổi từ 2 ‐ ≤  12  tháng  chiếm  đa  số  78,5%,  tỷ  lệ  nam/nữ  là  1,5/1.  Kết  quả  tương  đồng  với  nghiên  cứu  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ thuật Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch  43 Karalanglin(2) ở Ấn Độ về yếu tố tiên lượng viêm  phổi nặng ở trẻ từ 2 – 60 tháng, tuổi trung bình  11,74 tháng, nhóm tuổi dưới 12 tháng 71,5%, tỷ  lệ nam/nữ là 1,7/1. Nhóm tuổi dưới 12 tháng có  cấu  trúc đường  thở hẹp ngắn, dễ viêm  lan  toả,  hệ hô hấp chưa hoàn chỉnh nên dễ viêm phổi và  dẫn đến suy hô hấp. Trong 130 bệnh nhi, trẻ có  CNLS  thấp  dưới  2500  gram  chiếm  43,8%,  cao  hơn so với nghiên cứu Nguyễn Thể Tần về đặc  điểm viêm phổi nằm viện trên 2 tuần(5) gấp 2 lần  (26,8%).  Về  nuôi  dưỡng,  có  67,7 %  trẻ  không  được nuôi dưỡng hoàn toàn bằng sữa mẹ. Theo  Tổ Chức  Y  Tế  Thế Giới  năm  2012(15),  tỷ  lệ  trẻ  dưới 6 tháng được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ  dưới 40%. Sữa mẹ bao gồm các kháng thể và các  hoạt  chất  sinh  học  khác  chính  là  yếu  tố miễn  dịch đầu tiên giúp trẻ chống lại bệnh tật. Những  trẻ được bú mẹ ít phải đến bệnh viện hơn hoặc ít  phải  uống  thuốc,  giảm  nguy  cơ  lây  nhiễm  và  mắc  các  bệnh  như  tiêu  chảy,  viêm  phổi,  hen,  nhiễm  trùng  tai,  nhiễm  khuẩn  đường  hô  hấp(14).  Đặc điểm lâm sàng  Thở nhanh là triệu chứng có độ nhạy và độ  đặc hiệu  cao  trong  chẩn  đoán viêm phổi  ở  trẻ  em. Theo Shamo’on(10) nghiên cứu trên trẻ dưới 6  tuổi cho thấy thở nhanh có độ nhạy 99% và độ  đặc  hiệu  88,8%  trong  chẩn  đoán  viêm  phổi.  Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 128 trường  hợp  (98,4%)  thở  nhanh  theo  tuổi,  trong  đó  2  trường hợp không ghi nhận thở nhanh là do trẻ  ngưng thở và thở không đều. Kết quả này tương  đồng với nghiên cứu của Aamir J. Khan(3) trẻ thở  nhanh chiếm 99%. Ở  trẻ dấu hiệu rút  lõm  lồng  ngực xuất hiện khi trẻ phải gắng sức nhiều hơn  bình thường để hít vào, làm cho phía dưới lồng  ngực lõm vào khi trẻ hít vào. Trong nghiên cứu  của  chúng  tôi  có  98,4%  có  rút  lõm  lồng  ngực,  0,8% không  có  rút  lõm ngực,  0,8% ngưng  thở.  Sp02 dưới 90% là một trong những chỉ định thở  oxy. Trong 130  trẻ, có 64,6%  trẻ Sp02 dưới 90%  tương tự nghiên cứu của Karalanglin(2) 62%.  Có 50% trẻ có bệnh lý đi kèm. Tỷ lệ trẻ suy  dinh dưỡng theo cân nặng chiếm 53,9%, với suy  dinh dưỡng nhẹ 23,1%, trung bình 12,3%, nặng  18,5%. Theo nghiên cứu của Viện Dinh Dưỡng  Việt  Nam  năm  2010  và  2011,  tỷ  lệ  suy  dinh  dưỡng  trẻ  em  nước  ta  lần  lượt  là  17,5%  và  16,8%(12).  Nghiên  cứu  của  Đặng  Thị  Phương  Trang(1) về khảo sát các bệnh lý hô hấp gây suy  hô hấp cấp ở trẻ em, số trẻ viêm phổi kèm suy  dinh  dưỡng  chiếm  45,4%,  trong  đó  suy  dinh  dưỡng nhẹ là 23,7%, suy dinh dưỡng trung bình  là 13,4%, suy dinh dưỡng nặng là 8,3%. Kết quả  nghiên cứu của chúng tôi cao hơn có thể là do cơ  địa lúc sanh non tháng và nhẹ cân cao cũng như  tình  trạng được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ  thấp  nên trẻ dễ bị suy dinh dưỡng và là yếu tố thuận  lợi mắc  bệnh  viêm  phổi  nặng.  Trào  ngược  dạ  dảy thực quản chiếm 12,3%, nhiễm trùng huyết  9,2%, tương tự nghiên cứu Nguyễn Thể Tần với  tỷ lệ lần lượt là 22,7% và 8,2%.  Đặc điểm cận lâm sàng  46,2% trường hợp làm khí máu động mạch.  Rối loạn hỗn hợp toan kiềm chiếm tỷ lệ cao nhất  33,3%, kế đến  là toan hô hấp 26,7%. Tình trạng  rối loạn hỗn hợp chiếm đa số có thể là do ngoài  viêm phổi trẻ còn mắc các bệnh đi kèm như tiêu  chảy, nhiễm trùng huyết.... Tổn thương trên XQ  phổi  chủ yếu dạng phế quản phế viêm  52,3%,  viêm phổi  thuỳ  26,9%. Theo  tác  giả Phạm Thị  Minh Hồng(7), viêm phế quản phổi thường do tụ  cầu hay các vi khuẩn khác,  là kiểu  tổn  thương  phổ  biến  nhất  chiếm  trên  80%  tổng  số  viêm  phổi,  thường gặp ở  trẻ dưới 3  tuổi,  trẻ dưới 12  tháng  chiếm  đến  65%.  Theo  nghiên  cứu  của  Virkki(13) về sự khác biệt viêm phổi do vi khuẩn  và virus ở  trẻ em,  tổn  thương  thâm nhiễm phế  nang chiếm tỷ lệ cao nhất 64%, trong đó do tác  nhân vi khuẩn chiếm 71%. Cấy NTA được thực  hiện  ở  trẻ  kém  đáp  ứng  kháng  sinh,  trong  nghiên cứu này, chúng tôi chỉ ghi nhận kết quả  cấy  NTA  lần  1.  Có  13  trường  hợp  cấy  NTA  dương  tính  (16,9%),  các  vi  khuẩn  là  tác  nhân  nhiễm trùng bệnh viện với vi khuẩn Klebsiella có  7 trường hợp (9,1%), kế đến là Acinetobacter có 3  trường  hợp  (3,9%).  Tương  tự  nghiên  cứu  của  Nguyễn Thể Tần(5),  tỷ  lệ  cấy NTA dương  tính  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013 Hội nghị Khoa Học Kỹ thuật Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch  44 cũng chủ yếu  tác nhân nhiễm  trùng bệnh viện.  Cấy máu là phương pháp có giá trị đặc hiệu để  xác định tác nhân gây bệnh, nhưng không nhạy  vì tỷ lệ dương tính thấp chỉ từ 3 – 30%. Có 4 ca  (4,5%) dương  tính,  trong đó 3 ca  (3,4%) dương  tính  với  Staphylococus  coagulase negative và  1  ca  (1,1%) dương tính với Acinetobacter. Đây là các vi  trùng gợi ý nhiễm trùng bệnh viện.  Đặc điểm điều trị  Trong 130 bệnh nhi, hơn phân nửa 56,9% trẻ  cần hỗ trợ cannula, 17,7% phải chuyển sang thở  NCPAP, 25,4% suy hô hấp không cải thiện phải  đặt nội khí quản giúp thở. 100% trường hợp đều  được  điều  trị  kháng  sinh  ngay  lúc  nhập  viện.  Kháng  sinh  được  lựa  chọn  hàng  đầu  điều  trị  viêm  phổi  chủ  yếu  là Cephalosporin  thế  hệ  3  (40%)  có  thể  kết  hợp  thêm  Aminoglycoside  (27,8%). Do Bệnh viện Nhi Đồng 1 là bệnh viện  tuyến  cuối,  tiếp  nhận  bệnh  nhi  chuyển  từ  các  bệnh  viện  trực  thuộc,  đã  được  điều  trị  kháng  sinh trước đó nhưng kém đáp ứng điều trị, nên  lựa  chọn  kháng  sinh  lần  1  trong  nghiên  cứu  chúng  tôi có nhóm Quinolone  (13,8%). Sau khi  sử  dụng  kháng  sinh  lần  1,  có  82  bệnh  nhân  (63,1%) kém đáp ứng điều trị và được đổi nhóm  kháng  sinh  khác.  Trong  nghiên  cứu  có  nhịều  nhất  7  lần  đổi  kháng  sinh.  Thời  gian  đìều  trị  trung  bình  là  22  ngày.  Tỷ  lệ  này  cũng  tương  đương  với  nghiên  cứu  của  Phạm  Thu Hiền(8)  thực hiện trên bệnh nhi viêm phổi nặng dưới 5  tuổi,  thời  gian  điều  trị  trung  bình  là  18  ngày.  Thời gian điều trị của nghiên cứu chúng tôi dài  hơn  của  tác giả Nguyễn Thị Vân Anh(6)  (trung  bình  8  ngày)  trên  bệnh  nhi  viêm  phổi  chung.  Điều này phản ánh  sự kéo dài  điều  trị  đối với  trường hợp viêm phổi nặng có suy hô hấp.  Kết quả  điều  trị  có  70,8%  (92  trẻ)  trẻ  được  xuất  viện,  trẻ  xin  về  7,6%  (10  trẻ)  trong  đó  5  trường hợp thở NCPAP xin về, 5 trường hợp thở  oxy cannula xin về bệnh viện  tỉnh điều  trị  tiếp.  Các trường hợp xin về kèm bóp bóng được xếp  vào nhóm  tử vong. Có 21  trường hợp  tử vong  chiếm  tỷ  lệ  16,2%.  Theo  nghiên  cứu  của  Nantanda và cộng sự(4) trên trẻ viêm phổi nặng  từ 2 tháng đến 59 tháng, tỷ lệ trẻ tử vong tương  đương với nghiên cứu của chúng tôi với 15,3%,  các yếu tố liên quan đến tử vong là tím, thở rên,  Sp02 < 92%,  suy dinh dưỡng nặng, nhiễm HIV  và  viêm  phổi  rất  nặng. Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  trẻ  tử vong  đa  số  ở nhóm  tuổi  từ 2  đến 12 tháng (95,2%), tất cả trẻ đều có thở nhanh  và rút lõm ngực, Sp02 < 90% chiếm 95,2%, tím tái  52,4%,  tổn  thương  phổi  dạng  phế  quản  phế  viêm  57,1%. Các  trẻ  này  đều  có  1  hoặc  nhiều  bệnh lý đi kèm như suy dinh dưỡng 81%, nhiễm  trùng huyết 38,1%, nhiễm HIV 19%, trào ngược  dạ dày thực quản 9,5%.  KẾT LUẬN  Tử vong ở trẻ viêm phổi có suy hô hấp còn  cao, chủ yếu ở nhóm  tuổi nhũ nhi và có nhiều  bệnh lý đi kèm. Cần nhận biết sớm các dấu hiệu  suy hô hấp để lựa chọn biện pháp hỗ trợ hô hấp  và kháng sinh thích hợp.  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Đặng Thị Phương Trang (2011). Khảo sát các bệnh lý hô hấp  gây suy hô hấp cấp ở trẻ em và các đặc tính liên quan. Luận  văn Thạc sỹ Y học, Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh.  2. Karalanglin T., Rakesh L., Ravindra M.P., et al (2009). ʺFactors  determining the outcome of children hospitalized with severe  pneumoniaʺ. BMC Pediatrics, 9, pp. 15‐22.  3. Khan A.J., Hussain H.. Omer S.B., et al (2009). ʺHigh incidence  of  childhood  pneumonia  at  high  altitudes  in  Pakistan:  a  longitudinal cohort studyʺ. Bull World Health Organ. 87(3),  pp. 193‐199.  4. Nantanda  R.,  Hildenwall  H.,  Peterson  S.,  et  al  (2008).  ʺBacterial  aetiology  and  outcome  in  children  with  severe  pneumonia in Ugandaʺ. Ann Trop Paediatr, 28(4), pp. 253‐60.  5. Nguyễn Thể Tần (2009). Đặc điểm viêm phổi nằm viện trên 2  tuần tại Khoa Hô Hấp Bệnh viện Nhi Đồng 1. Luận văn Thạc  Sỹ y học, Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh.  6. Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Văn Bàng  (2007).  ʺKhảo  sát  tình hình sử dụng kháng sinh trong điều trị viêm phổi ở trẻ  em tại Khoa Nhi Bệnh viện Bạch Maiʺ. Y Học Thành phố Hồ  Chí Minh, 11(4), tr. 94‐99.  7. Phạm Thị Minh Hồng (2007). “Viêm phổi”. Nhi khoa tập I, Bộ  môn Nhi Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, Nhà xuất  bản y học, tr. 150‐157.  8. Phạm Thu Hiền (2009). ʺNghiên cứu nguyên nhân, lâm sàng,  dịch tễ học viêm phổi nặng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Khoa Hô  Hấp Bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2008ʺ. Tạp Chí Y học  Thực hành, 6, tr.102‐103.  9. Principi N.  and Esposito  S.  (2010).  “Management  of  severe  community‐acquired  pneumonia  of  children  in  developing  and  developed  countries”,  Thorax,  doi:10.1136/thx.2010.142604.  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ thuật Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch  45 10. Shamo’on H., Haddadin R., Jmeian S., et al (2004). ʺDetection  of  pneumonia  among  children  under  six  years  by  clinical  evaluationʺ. Eastern Mediterranean Health Journal, 10(4), pp.  482‐487.  11. UNICEF/WHO  (2006).  “Pneumonia  the  forgotten  killer  of  children”.  12. Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia (2012). “Số liệu thống kê về tình  trạng  dinh  dưỡng  trẻ  em  qua  các  năm”.  Web:  ‐lieu‐thong‐ke‐ ve‐tinh‐trang‐dinh‐duong‐tre‐em‐qua‐cac‐nam.aspx  13. Virkki R., Juven T., Mertsola J., et al (2002). ʺDifferentiation of  bacterial  and viral pneumonia  in  childrenʺ. Thorax,  57, pp.  438‐441.  14. Wester RA. Naylor AJ.  (2009).  ʺLactation Management Self‐ Study  Modules  Third  Edition,  Level  Iʺ.  Wellstart  International.  15. World  Health  Organization  (2012).  ʺ10  facts  on  breastfeedingʺ.  Web: ndex.html  Ngày nhận bài báo              05‐06‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  25‐07‐2013  Ngày bài báo được đăng:   25–09‐2013 
Tài liệu liên quan