Đánh giá kiến thức, thái độ về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Trung tâm Y tế Hòa Thành, Tây Ninh 2012

Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan trong phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca. Kết quả: Qua khảo sát có 215 bà mẹ có con bị tiêu chảy, ghi nhận: Nhóm bà mẹ có 01 con chiếm (58,23%) nhưng chưa hẳn các bà mẹ có đủ kiến thức và điều kiện chăm sóc tốt cho trẻ khi bị tiêu chảy do đa số là công nhân. Các bà mẹ tiếp nhận thông tin chủ yếu qua đài truyền thanh báo chí, tranh ảnh, áp phích (93,85%). Thông tin tiếp nhận từ nhân viên y tế còn thấp (33,02%). Tỉ lệ bà mẹ nhận biết đúng nguyên nhân gây tiêu chảy chiếm tỉ lệ (92,23%). Có kiến thức chung đúng về phòng bệnh tiêu chảy chiếm tỉ lệ (66,04%) cao. Bà mẹ có kiến thức xử lý phân đúng cách còn chưa cao (56,27%), chưa quan tâm đến việc xử lý phân, chưa nhận thức được phân là nguồn lây và truyền bệnh tiêu chảy. Kết luận: Tăng cường phổ biến kiến thức thông qua các phương tiện truyền thông báo đài, cán bộ y tế, ban ngành đoàn thể địa phương kiến thức cho bà mẹ hiểu về nguyên nhân, phòng bệnh, xử trí tiêu chảy tại nhà, giúp cho các bà mẹ có cách phòng và xử trí tốt khi trẻ bị tiêu chảy.

pdf5 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 11/06/2022 | Lượt xem: 163 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá kiến thức, thái độ về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Trung tâm Y tế Hòa Thành, Tây Ninh 2012, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013 Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa  66 ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VỀ PHÒNG   VÀ XỬ TRÍ BỆNH TIÊU CHẢY CỦA BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI   TẠI TRUNG TÂM Y TẾ HÒA THÀNH, TÂY NINH 2012  Bửu Hạnh*, Nguyễn Thị Thanh Tuyền,* Nguyễn Tuấn Khiêm**, Phạm Thị Hạnh*, Mai Chí Cường*  TÓM TẮT  Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ và các yếu tố liên quan trong phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở trẻ em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca. Kết quả: Qua khảo sát có 215 bà mẹ có con bị tiêu chảy, ghi nhận: Nhóm bà mẹ có 01 con chiếm (58,23%) nhưng chưa hẳn các bà mẹ có đủ kiến thức và điều kiện chăm sóc tốt cho trẻ khi bị tiêu chảy do đa số là công nhân. Các bà mẹ tiếp nhận thông tin chủ yếu qua đài truyền thanh báo chí, tranh ảnh, áp phích (93,85%). Thông tin tiếp nhận từ nhân viên y tế còn thấp (33,02%). Tỉ lệ bà mẹ nhận biết đúng nguyên nhân gây tiêu chảy chiếm tỉ lệ (92,23%). Có kiến thức chung đúng về phòng bệnh tiêu chảy chiếm tỉ lệ (66,04%) cao. Bà mẹ có kiến thức xử lý phân đúng cách còn chưa cao (56,27%), chưa quan tâm đến việc xử lý phân, chưa nhận thức được phân là nguồn lây và truyền bệnh tiêu chảy. Kết luận: Tăng cường phổ biến kiến thức thông qua các phương tiện truyền thông báo đài, cán bộ y tế, ban ngành đoàn thể địa phương kiến thức cho bà mẹ hiểu về nguyên nhân, phòng bệnh, xử trí tiêu chảy tại nhà, giúp cho các bà mẹ có cách phòng và xử trí tốt khi trẻ bị tiêu chảy. Từ khóa: Kiến thức, thái độ, tiêu chảy. ABSTRACT  ASSESSING KNOWLEDGE, ATTITUDES AND MANAGEMENT STYLE DIARRHEA MOTHERS WITH UNDER AGE 5 IN HOA THANH HEALTH CENTER IN 2012 Buu Hanh, Nguyen Thi Thanh Tuyen, Nguyen Tuan Khiem, Pham Thi Hanh, Mai Chi Cuong  * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 66 ‐ 70 Objectives: Assess knowledge, attitudes and factors involved in disease targets and management style flow levels in children of mothers with children under age 5 in the examination and treatment Hoa Thanh district health centers. Method: Case series. Results: The survey has 215 mothers of children with diarrhea noted: Group of mothers with children accounted for 01 (58.23%) but not necessarily the mothers with sufficient knowledge and better conditions for child care when diarrhea due mostly workers. The mothers receive information primarily through radio journalism, pictures, posters (93.85%). Information received from the medical staff was low (33.02%). Percentage of mothers who correctly identify the cause of the diarrhea percentage (92.23%). General knowledge about prevention of diarrhea correct proportion (66.04%) higher. Mother knowledge proper disposal is not high (56.27%) not interested in distributed processing, distribution is not aware of the source of infection and diarrheal disease. * Bệnh viện Đa khoa Hòa Thành, Tây Ninh.   ** Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch.  Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Tuấn Khiêm   ĐT: 066.3824645   Email: nguyentuankhiem71@yahoo.com.vn   Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa 67 Conclusion: Strengthening the dissemination of knowledge through the media the media, health professionals, local mass organizations is for mothers to understand the causes, prevention and management of diarrhea at home, help for mothers of prevention and better management of the child with diarrhea. Key words: Knowledge, attitudes, factors, diarrhea. ĐẶT VẤN ĐỀ  Tiêu chảy cấp là nguyên nhân hàng đầu  gây bệnh tật và tử vong cho trẻ em và là một  bệnh hay gặp nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi. Theo  WHO,  hàng  năm  trên  thế  giới  có  khoảng  750  triệu  trẻ mắc bệnh  tiêu  chảy,  trong  số  đó  có  5  triệu  trẻ  chết,  hầu  hết  số mắc  tập  trung  ở  các  nước  đang  phát  triển  trong  đó  có  Việt  Nam.  Theo giám sát của UNICEF  tại Việt Nam, hiện  58% người dân thiếu tiếp cận nguồn nước sạch,  40% người thiếu tiếp cận nhà vệ sinh tiêu chuẩn,  88% không rửa tay với xà phòng trước khi ăn và  84% không rửa tay sau khi đại tiện.  Tuy  nhiên, một  biện pháp  phòng  bệnh  rất  hữu ích chính là rửa tay với xà phòng. Biện pháp  được  coi  là  “Vaccin  tự  thân”  này  có  thể  làm  giảm 47% các bệnh  liên quan đến  tiêu chảy và  giảm 34% các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp. Tại  Tây Ninh, chương trình phòng chống tiêu chảy  đã được thực hiện tại các trạm y tế xã nhưng sự  hiểu  biết  về  kiến  thức  phòng  chống  tiêu  chảy  vẫn là ẩn số. Tại Hòa Thành chương trình phòng  chống  tiêu  chảy  đã  triển  khai  nhiều  năm  nay,  nhưng thời gian qua tình hình mắc tiêu chảy trẻ  em dưới 5  tuổi còn phổ biến,  trong cộng  đồng  do  có  nhiều  nguyên  nhân  nên  việc  thực  hiện  biện pháp phòng bệnh  chưa  thật kỹ  lưỡng, do  tập quán thói quen, sự hiểu biết, môi trường, các  yếu tố khách quan.   Thực tế cho thấy nhiều trường hợp tử vong  vì bệnh  tiêu chảy cấp ở  trẻ  là do sự  thiếu kiến  thức của bà mẹ trong việc phòng cũng như xử lý  khi trẻ bị bệnh, vì vậy việc đánh giá kiến thức,  thái  độ về phòng và  xử  trí bệnh  tiêu  chảy  của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi là cần thiết.  Mục tiêu nghiên cứu  Mục tiêu tổng quát  Đánh giá kiến thức, thái độ và các yếu tố liên  quan trong phòng và xử trí bệnh tiêu chảy cấp ở  trẻ em của bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám  và  điều  trị  tại  Trung  Tâm  Y  Tế  huyện  Hòa  Thành, Tỉnh Tây Ninh.  Mục tiêu cụ thể  Xác định  tỷ  lệ bà mẹ có con dưới 5  tuổi có  kiến  thức  đúng  về  phòng  và  xử  trí  bệnh  tiêu  chảy cấp.  Xác định  tỷ  lệ bà mẹ có con dưới 5  tuổi có  thái độ đúng về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy  cấp.  Nhận định các yếu tố có liên quan đến kiến  thức, thái độ về phòng và xử trí bệnh tiêu chảy  cấp.  ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Phương pháp nghiên cứu  Thiết kế nghiên cứu  Mô tả hàng loạt ca.   Đối tượng nghiên cứu  Bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều  trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành.   Tiêu chí chọn mẫu.  Bà mẹ có con dưới 5 tuổi đến khám và điều  trị tại Trung Tâm Y Tế huyện Hòa Thành.   Đồng ý tham gia nghiên cứu.  Tiêu chí loại ra.  Bà mẹ không đồng ý hợp  tác  trả  lời phỏng  vấn.   Bà mẹ không trực tiếp nuôi con.  Bà mẹ  không  thể  trả  lời  phỏng  vấn  (câm,  điếc, tâm thần, say rượu).  Xử lý số liệu  Theo phương pháp thông kê y học.  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013 Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa  68 KẾT QUẢ   Đặc điễm chung.  Bảng 1. Đặc tính chung.  Đặc tính n % Tuổi < 25 > 25 37 178 17,21 82,79 Nghề nghiệp Làm ruộng Công nhân Buôn bán Công bộ viên chức Nội trợ 16 109 42 17 31 7,44 50,69 19,53 7,90 14,41 Trình độ văn hóa </= Cấp I Cấp II Cấp III Cao đẳng, đại học 79 56 58 22 36,74 26,04 26,97 10,23 Hoàn cảnh kinh tế gia đình Thu nhập < 1,050,000/ người /tháng Thu nhập > 1,050,000/ người /tháng 49 166 22,79 77,21 Số con hiện có 1 con 2 con > 3con 125 78 12 58,23 36,27 5,58 Bảng 2. Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy.  Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy n % Tivi, báo chí, radio, áp phích Nhân viên y tế Người thân, hàng xóm 202 71 47 93,95 33 21,86 Bảng 3. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về phòng bệnh tiêu chảy. Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy n % Nguyên nhân gây ra tiêu chảy: Do ăn uống không hợp vệ sinh Do tay bẩn Cách phòng bệnh tiêu chảy: Bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu Rửa tay trước khi ăn, sau khi vs Ăn uống hợp vệ sinh Xử lý phân đúng cách 12 215 192 181 210 192 121 75,65 100 89,30 84,18 97,67 89,30 56,27 Bảng 4. Tỉ lệ bà mẹ có thái độ đúng về phòng bệnh tiêu chảy. Thái độ n % Thái độ về tính chất nguy hiểm: Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Thái độ về việc rửa tay thường xuyên 161 43 11 74,88 20 5,11 Thái độ n % cho trẻ: Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Thái độ về việc cho trẻ uống nước đun sôi để nguội: Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Thái độ chung đúng cho 3 nội dung trên: 201 06 08 189 21 05 157 93,48 2,79 3,72 87,90 9,76 2,32 73,02 Bảng 5. Tỷ lệ xử trí tiêu chảy cấp tại nhà của bà mẹ.  Thái độ n % Ăn kiêng khi tiêu chảy: Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Cho trẻ ăn nhiều lần với thức ăn dễ tiêu khi tiêu chảy: Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Thái độ chung đúng cho 3 nội dung trên: 123 85 47 156 20 72 87 57,20 39,53 21,86 72,55 9,30 33,48 40,47 Bảng 6. Tỉ lệ bà mẹ có thái độ đúng về xử trí bệnh tiêu chảy.   Thái độ n % Sử dụng ORS điều trị tiêu chảy: Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Dùng kháng sinh điều trị tiêu chảy: Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến Dùng thuốc cầm tiêu chảy: Đồng ý Không đồng ý Không ý kiến 151 62 03 129 28 58 83 85 47 69,76 28,83 1,39 60 13,02 26,97 38,60 39,53 21,86 BÀN LUẬN   Đặc tính chung của mẫu nghiên cứu  Bà mẹ ở nhóm tuổi >= 25 chiếm tỉ lệ cáo nhất  (82,79%), phần lớn là công nhân (50,69%) tương  đương với tác giả Trần Thị Thúy Hằng (50,48%).  Trình độ học vấn khá đồng đều ở 3 cấp bậc học.  Chiếm  ít  nhất  là  nhóm  cao  đẳng  và  đại  học  (10,23%). Nhóm bà mẹ có 01 con chiếm (58,23%)  nhưng chưa hẳn các bà mẹ có đủ kiến  thức và  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa 69 điều kiện chăm sóc tốt cho trẻ khi bị tiêu chảy do  đa số là công nhân.  Nguồn thông tin về bệnh tiêu chảy  Thông  tin người mẹ  tiếp nhận chủ yếu qua  đài  truyền  thanh  báo  chí,  tranh  ảnh,  áp  phích  (93,85%)  cao  hơn  nghiên  cứu  của  tác  giả Trần  Thị Thúy Hằng (76,14%). Thông tin tiếp nhận từ  nhân viên y  tế còn  thấp  (33,02%),  cho  thấy vai  trò chủ đạo trong truyền thông rộng rãi về mặt  sức khỏe cho người dân chưa đi vào chiều rộng  lẫn chiều sâu, do đó cần phải phát huy hơn nữa  vai  trò của cán bộ y  tế  trong  tuyên  truyền giáo  dục sức khỏe người dân.   Kiến  thức  đúng  của  các  bà mẹ  về  phòng  bệnh tiêu chảy  Tỉ  lệ  bà mẹ  nhận  biết  đúng,  nguyên  nhân  gây  tiêu  chảy  chiếm  tỉ  lệ  (92,23%).  Có  tỉ  lệ  (95,34%) bà mẹ biết nguyên nhân gây tiêu chảy  là do  ăn uống không hợp vệ  sinh  theo nghiên  cứu  của  Trần  Thị  Thúy  Hằng  chiếm  tỉ  lệ  (64,41%)  và  tỉ  lệ  (29%)  của  tác  giả  Nguyễn  Quang  Vinh  khảo  sát  tại  Kon  Tum. Như  vậy  chúng  ta nhận  thấy được nhận  thức của bà mẹ  tại Hòa Thành thời điểm khảo sát  là rất tốt. Có  kiến thức chung đúng về phòng bệnh tiêu chảy  chiếm  tỉ  lệ  (66,04%) cao hơn so với  tỉ  lệ nghiên  cứu của Trần Thị Thúy Hằng chiếm tỉ lệ (37,2%).  Bà mẹ cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu  chiếm  tỉ  lệ  (84,18%)  so  với  nghiên  cứu  của Tạ  Văn Trần chiếm tỉ lệ (36,92%). Các bà mẹ đã có  hiểu biết kiến thức cơ bản chung về phòng bệnh  tiêu chảy cũng như được tư vấn trước, trong, và  sau  khi  sanh  con  về  cho  trẻ  bú mẹ  hoàn  toàn  trong 6  tháng  đầu và  đã  thực hiện  rất  tốt  theo  kết quả khảo sát. Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức xử lý  phân đúng cách còn chưa cao (56,27%) thấp hơn  so với tỉ lệ mẹ có nhận thức là phải ăn uống hợp  vệ sinh bằng cách rữa  tay sạch  trước khi ăn và  sau khi đi vệ sinh có tỉ lệ (89,30%). Chứng tỏ mẹ  chưa quan tâm đến việc xử lý phân, chưa nhận  thức  được  phân  là  nguồn  lây,  và  truyền  bệnh  tiêu chảy quan trọng như thế nào. Tương đương  với nghiên cứu của tác giả Tạ Văn Trầm tại Tiền  Giang chiếm tỉ lệ (46,43%) bà mẹ cho con đi tiêu  trên nền đất.   Về việc xử lý phân trẻ đi tiêu, một số bà mẹ  nghĩ  rằng phân  trẻ  ít nguy hại  và  “Sạch” hơn  phân người  lớn. Đây  là một quan niệm sai  lầm  nguy  hiểm  của  người  dân,  vì  xử  lý  phân  trẻ  không đúng cách, không hợp  lý, không hợp vệ  sinh sạch sẽ dễ dàng làm lây lan bệnh tiêu chảy  cộng đồng dân cư sống xung quanh.  Thái  độ  chung  đúng  về  phòng  bệnh  tiêu  chảy (76,27%), xử lý phân đúng cách sau khi trẻ  đi  tiêu đạt  tỉ  lệ  thấp 56,27%  so với nghiên cứu  của  tác giả Trần Thị Thúy Hằng. Do  đó  tuyên  truyền giáo dục cho bà mẹ có nuôi trẻ hiểu biết  về cách xử lý phân đúng cách (nhà tiêu tự hoại,  cách xa nguồn phân với nguồn sinh hoat, cho trẻ  đi tiêu đúng chỗ) là một biện pháp hữu hiệu để  phòng chống bệnh  tiêu chảy cho  từng cá nhân  và cộng đồng dân cư.  Thái độ đúng của các bà mẹ về phòng bệnh  tiêu chảy  Tỉ lệ bà mẹ có thái độ chung đúng về phòng  bệnh tiêu chảy là chiếm tỉ lệ (73,02%) tương ứng  với nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thúy Hằng  tỉ  lệ  (77,03%). Tỉ  lệ bà mẹ có  thái độ xem bệnh  tiêu chảy cấp là nguy hiễm chiếm tỉ lệ (74,88%),  thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Lâm Bỉnh  Yên tỉ lệ (91,96%). Thái độ rữa tay thường xuyên  cho trẻ có tỉ lệ cao chiếm (93,48%) lớn hơn so với  tỉ lệ của tác giả Trần Thị Thúy Hằng tỉ lệ (86,6%).   Thái độ xử trí tiêu chảy cấp tại nhà của bà  mẹ  Bà mẹ hiểu biết nguyên nhân tiêu chảy là do  ăn uống không hợp vệ sinh, tay bẩn chiếm tỉ lệ  (89,32%)  nhưng  chỉ  có  tỉ  lệ  (56,27%)  bà mẹ  có  thái độ hiểu biết xử lý phân đúng cách, đạt tỉ lệ  thấp  so với kết quả  của  tác giả Trần Thị Thúy  Hằng tỉ lệ (99,04%). Cần nâng cao thái độ phòng  bệnh  tiêu chảy bằng cách hướng dẫn cách,  rửa  tay  sạch xử  lý phân  đúng  cách  để hạn  chế  lây  lan mầm bệnh. Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 4 * 2013 Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa  70 Thái độ đúng của các bà mẹ về xử trí bệnh  tiêu chảy  Tỉ  lệ  xử  trí  bệnh  tiêu  chảy  cấp  của  nhóm  nghiên cứu đạt tỉ lệ (40,77%), cao hơn so với tỉ lệ  (10,53%) của tác giả Trần Thị Thúy Hằng. Đây là  một yếu tố quan trọng, khi xử trí đúng về bệnh  tiêu  chảy  cấp  tại nhà  sẽ góp phần giãm  tải  tại  bệnh viện. Tỉ lệ (69,76%) các bà mẹ cho con uống  ORS khi  trẻ bị  tiêu chảy,  tương đương với  tỉ  lệ  của tác giả Trần Thị Thúy Hằng tỉ lệ (71,29%). Số  bà mẹ  cho  con  ăn kiêng khi  tiêu  chảy  đạt  tỉ  lệ  (57,20%)  thấp hơn  so với  tỉ  lệ  của  tác giả Trần  Thị Thúy Hằng tỉ  lệ (77,51%). Nhưng đây cũng  là điều đáng  lưu ý vì ăn kiêng ở trẻ đang bệnh  tiêu  chảy  là một yếu  tố nguy  cơ gây  suy dinh  dưỡng cho  trẻ. Thái độ đúng  trong xử  trí bệnh  tiêu  chảy  còn  thấp  của nhóm nghiên  cứu  tỉ  lệ  (40,77%),  dùng  kháng  sinh  khi  bị  tiêu  chảy  chiếm tỉ lệ (60%), cao hơn tác giả Trần Thị Thúy  Hằng tỉ lệ (33,97%), chỉ có (13,02%) bà mẹ không  đồng ý dùng kháng sinh trong điều trị bệnh tiêu  chảy xử  trí đúng  tiêu chảy  tại nhà sẽ giúp cho  cán bộ cơ sở y tế giảm tải trong xử trí và điều trị  bệnh tiêu chảy.  KẾT LUẬN  Qua khảo  sát  các bà mẹ  có  con nhỏ hơn  5  tuổi bị tiêu chảy tại TTY Tế Hòa Thành chúng tôi  ghi nhận.   Nhóm bà mẹ có 1 con chiếm (58,23%) nhưng  chưa hẳn các bà mẹ có đủ kiến thức và điều kiện  chăm sóc tốt cho trẻ khi bị tiêu chảy do đa số là  công nhân. Các bà mẹ  tiếp nhận  thông  tin chủ  yếu qua đài truyền thanh báo chí, tranh ảnh, áp  phích  (93,85%).  Tỉ  lệ  bà  mẹ  nhận  biết  đúng  nguyên nhân gây tiêu chảy chiếm tỉ lệ (92,23%).   Có  kiến  thức  chung  đúng  về  phòng  bệnh  tiêu chảy chiếm tỉ lệ (66,04%) cao. Bà mẹ có kiến  thức  xử  lý  phân  đúng  cách  còn  chưa  cao  (56,27%),  chưa  quan  tâm  đến  việc  xử  lý phân,  chưa  nhận  thức  được  phân  là  nguồn  lây  và  truyền bệnh tiêu chảy.  Thái  độ  cho  trẻ  ăn  kiêng  khi  trẻ  bệnh  tiêu  chảy chiếm tỉ lệ (57,20%).  KIẾN NGHỊ  Tăng  cường phổ  biến  kiến  thức  thông  qua  các phương tiện truyền thông báo đài, cán bộ y  tế,  ban  ngành  đoàn  thể  địa  phương  kiến  thức  cho bà mẹ hiểu về nguyên nhân, phòng bệnh, xử  trí tiêu chảy tại nhà, giúp cho các bà mẹ có cách  phòng và xử trí tốt khi trẻ bị tiêu chảy.  TÀI LIỆU THAM KHẢO  1. Bộ Y Tế (1992) ‐ Công trình phòng chống bệnh tiêu chảy quốc  gia. Những hiểu biết về bệnh tiêu chảy. Tài liệu dành cho sinh  viên Đại học Y khoa.  2. Lâm Bỉnh Yên (2007). Kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ  có con dưới 5 tuổi về phòng chống bệnh tiêu chảy ho trẻ tại cụm  dân cư quanh bãi rác Gò Cát, phường Bình Hưng Hòa, quận  Bình Tân, TPHCM năm 2007. Khóa tiểu luận tốt nghiệp cử nhân  y tế công cộng năm 2007.  3. Lê Hoàng Ninh  (1994). K.A.P của các bà mẹ  trong việc xử  lý  bệnh tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi tại TPHCM. Tạp chí y học Đại  học Y Dược TPHCM; 2 (2), tr. 124‐126.  4. Lê Hoàng Phong (2006). Kiến thức, thực hành về bệnh tiêu chảy  trẻ em dưới 5 tuổi của phụ nữ từ 15 ‐ 49 tuổi tại xã Nhơn Mỹ,  Kế  Sách,  Sóc Trăng. Luận văn  tốt nghiệp  chuyên khoa  cấp  I  chuyên ngành y tế công cộng năm 2006.  5. Lê Hồng Phúc, Lý Văn Xuân  (2014). Kiến  thức,  thái  độ,  thực  hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong xử lý bệnh tiêu chảy  cấp trẻ em tại nhà ở xã Vĩnh An, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre năm  2004. Tạp chí Y Học TPHCM; phụ bản của số 1, tr. 181‐184.  6. Lê Nguyễn Bảo Châu (2005). Kiến thức, thái độ, thực hành về  phòng chống bệnh tiêu chảy của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại  khu phố 3, phường 8, quận 8 năm 2005. Khóa luận tốt nghiệp  cử nhân y tế công cộng năm 2005.  Ngày nhận bài báo: 28‐10‐2013. Ngày phản biện nhận xét bài báo: 08‐11‐2013. Ngày bài báo được đăng: 16‐12‐2013.
Tài liệu liên quan