6. Kiểm soát phân vùng phát triển của đô thị
TTồn tại
Mục đích kiểm soát phân vùng là cơ sở để định hướng và chia nhỏ
các khu vực kiểm soát phù hợp với quy mô quản lý và điều kiện
phát triển từng khu vực, những vẫn đảm bảo tính thống nhất trong
cấu trúc toàn đô thị.
(1) Quy hoạch phân khu được quy định trong Luật Quy hoạch đô
thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014 theo hướng chuyển đổi
đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 trước đây thành sản phẩm đồ
án quy hoạch phân khu với tỷ lệ bản đồ 1/2000-1/5000. Tuy nhiên
trong thực tế triển khai từ năm 2012 các đồ án quy hoạch phân khu
mới bắt đầu được nghiên cứu lập và phê duyệt tại các đô thị.
Đối với các đô thị lớn như thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh, các
đồ án quy hoạch phân khu được quy định cụ thể về chức năng sử
dụng đất từng lô đất quy hoạch (Luật QHĐT 2009) trên nền tảng
hiện trạng và dự án đã có, thiết kế tương đối cụ thể hệ thống hạ
tầng cấp khu vực. Kết quả đạt được cho thấy quy định về sử dụng
đất không đảm bảo tính hệ thống, được điều chỉnh cục bộ khi có
nhu cầu đầu tư mới phát sinh, do đó hệ thống hạ tầng xã hội, không
gian cảnh quan, công viên vườn hoa rất thiếu do khống chế quy mô
dân số thấp trong quy hoạch chung so với thực tế phát triển, công
trình cao tầng phát triển khá tùy tiện trong đô thị. Đối với TP.HCM,
việc thực hiện chuyển đổi các quy hoạch chung quận huyện trước
đây thành các quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/5000 (chỉ bao gồm quy
hoạch sử dụng đất và giao thông theo ô quy hoạch lưới đường trung
bình 400-600 m) để giảm thủ tục triển khai lập quy hoạch, kết quả
khi quy hoạch thực hiện theo quy hoạch chi tiết của các dự án cụ
thể, sẽ hạn chế các QHPK được duyệt, hạn chế rất nhiều tác dụng
điều tiết quản lý phát triển đô thị. Phát sinh những vấn đề hạ tầng
kỹ thuật đô thị trong giai đoạn vừa qua như ách tắc giao thông,
ngập lụt, ô nhiễm môi trường do không có hướng xử lý từ hệ thống
hạ tầng khung.
10 trang |
Chia sẻ: hadohap | Lượt xem: 462 | Lượt tải: 1
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đổi mới phương pháp luận quy hoạch và quản lý phát triển đô thị từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới (Phần II), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
SË 100 . 201964
& TÁC GIẢ
QUY HOẠCH
PGS.TS.KTS. LưU ĐưÙC CườnG* - TS.KTS. nGUYễn TrUnG dUõnG**
và các đồng nghiệp
Từ THưÏC TIễn Đến YêU CAàU ĐOåI mơÙI
Đổi mới phương pháp luận
quy hoạch và quản lý phát triển Đô thị
6. Kiểm soát phân vùng phát triển của đô thị
TTồn tại
Mục đích kiểm soát phân vùng là cơ sở để định hướng và chia nhỏ
các khu vực kiểm soát phù hợp với quy mô quản lý và điều kiện
phát triển từng khu vực, những vẫn đảm bảo tính thống nhất trong
cấu trúc toàn đô thị.
(1) Quy hoạch phân khu được quy định trong Luật Quy hoạch đô
thị năm 2009 và Luật Xây dựng năm 2014 theo hướng chuyển đổi
đồ án quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 trước đây thành sản phẩm đồ
án quy hoạch phân khu với tỷ lệ bản đồ 1/2000-1/5000. Tuy nhiên
trong thực tế triển khai từ năm 2012 các đồ án quy hoạch phân khu
mới bắt đầu được nghiên cứu lập và phê duyệt tại các đô thị.
Đối với các đô thị lớn như thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh, các
đồ án quy hoạch phân khu được quy định cụ thể về chức năng sử
dụng đất từng lô đất quy hoạch (Luật QHĐT 2009) trên nền tảng
hiện trạng và dự án đã có, thiết kế tương đối cụ thể hệ thống hạ
tầng cấp khu vực. Kết quả đạt được cho thấy quy định về sử dụng
đất không đảm bảo tính hệ thống, được điều chỉnh cục bộ khi có
nhu cầu đầu tư mới phát sinh, do đó hệ thống hạ tầng xã hội, không
gian cảnh quan, công viên vườn hoa rất thiếu do khống chế quy mô
dân số thấp trong quy hoạch chung so với thực tế phát triển, công
trình cao tầng phát triển khá tùy tiện trong đô thị. Đối với TP.HCM,
việc thực hiện chuyển đổi các quy hoạch chung quận huyện trước
đây thành các quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/5000 (chỉ bao gồm quy
hoạch sử dụng đất và giao thông theo ô quy hoạch lưới đường trung
bình 400-600 m) để giảm thủ tục triển khai lập quy hoạch, kết quả
khi quy hoạch thực hiện theo quy hoạch chi tiết của các dự án cụ
thể, sẽ hạn chế các QHPK được duyệt, hạn chế rất nhiều tác dụng
điều tiết quản lý phát triển đô thị. Phát sinh những vấn đề hạ tầng
kỹ thuật đô thị trong giai đoạn vừa qua như ách tắc giao thông,
ngập lụt, ô nhiễm môi trường do không có hướng xử lý từ hệ thống
hạ tầng khung.
Đối với các đô thị tỉnh ly, thuộc tỉnh, quy hoạch phân khu đã xác
định chức năng, theo phân vùng cấu trúc đô thị, theo mô hình đơn
vị ở với quy mô lập quy hoạch khác nhau, đưa ra các quy định khá
cụ thể về tầng cao, về mật độ xây dựng. Do áp dụng cùng hệ thống
chỉ tiêu và phương pháp phân vùng (thực chất là quy định chỉ tiêu
sử dụng đất cho từng lô đất quy hoạch). Thực tế sau quy hoạch
phân khu được phê duyệt, các dự án triển khai do các nhà đầu tư
thực hiện có những cách thức và nhu cầu đầu tư khác nhau cũng đã
làm thay đổi các định hướng của quy hoạch phân khu.
(2) Quy định về an toàn, VSMT và phòng chống thiên tai đã được
quy định. Do đó việc xác định khu vực nào áp dụng hệ thống quy
chuẩn, tiêu chuẩn chung, khu vực nào không áp dụng là hết sức
cần thiết và cần bổ sung các công cụ kiểm soát khác ngoài quy
chuẩn, tiêu chuẩn. Các khu vực cần bổ sung hệ thống quy chuẩn,
tiêu chuẩn là:
TCác khu vực không phù hợp cho đô thị hóa
TCác khu vực gặp nhiều rủi ro thiên tai
TCác khu vực phải bảo tồn nông nghiệp
(3) Quy định về phân vùng trong hệ thống quy hoạch đô thị hiện
nay được triển khai qua 03 cấp đồ án QHC, QHPK và QHCT và
mỗi một loại đồ án có hệ thống các quy định quản lý theo đồ án quy
hoạch được phê duyệt. Các nội dung về phân vùng kiểm soát cũng
được triển khai theo hệ thống đó từ tổng thể cho tới chi tiết, từ toàn
(phần ii)
65SË 100 . 2019
đô thị tới từng lô đất phát triển trong đô thị. Theo quy định của hệ
thống pháp luật Quy hoạch đô thị, quy chuẩn, tiêu chuẩn các quy
định về phân vùng được cụ thể hóa trong các lô quy hoạch, phụ
thuộc cấu trúc quy hoạch giao thông đô thị, bình quân diện tích các
ô quy hoạch từ 50-100ha đối với đồ án QHC, 5-15ha đối với QHPK
và 1-5ha đối với QHCT 1/500.
(4) Cơ chế kiểm soát phân vùng thực chất là dựa trên các quy định
về sử dụng đất theo các lô quy hoạch, chỉ có quy định trong đồ án
QHCT 1/500 là sát với thực tế triển khai dự án đầu tư phát triển
hoặc các hoạt động xây dựng tư nhân khác (loại đất sử dụng, chỉ
tiêu diện tích...). Do đó mục tiêu đảm bảo các dự án phát triển tuân
thủ các dự báo phát triển của đô thị trong đồ án QHC là rất khó
khăn, do quy trình quy hoạch qua 03 bước nêu trên, tạo ra những
khó khăn trong công tác giám sát thực hiện, kéo dài thời gian, hệ
thống chỉ tiêu tầng bậc, qua nhiều bước trung gian, phương pháp
triển khai lập quy hoạch và quản lý khác nhau.
Đối với một số các đồ án hiện nay có áp dụng phần nào công cụ
phân vùng trong đồ án quy hoạch chung, nhưng khi triển khai cụ
thể hóa thành quy hoạch phân khu, hoặc quy hoạch chi tiết không
tuân thủ ranh giới phân vùng trong quy hoạch chung và các nội
dung quản lý sử dụng đất theo phân vùng đã được xác định.
(5) Một vấn đề khác nữa là ranh giới lập đồ án quy hoạch phân khu
thường khác biệt so với quy định ‘phân vùng’ trong đồ án quy hoạch
chung (một phần do nhu cầu thực tế quản lý). Điều này càng làm
cho công tác quản lý giám sát tuân thủ quy hoạch chung lại thêm
một bước trung gian nữa, và dễ dẫn tới những sai lệch so với định
hướng của phân vùng quy hoạch chung.
Thực tiễn quản lý theo các chỉ tiêu quy hoạch dẫn tới thực tế chưa
đáp ứng yêu cầu quản lý phát triển tại các khu vực có giá trị cảnh
quan, yếu tố bảo tồn văn hóa... Do các đồ án quy hoạch, quy định
quản lý, quy chế quản lý đô thị mới chỉ dựa trên hệ thống quy chuẩn,
tiêu chuẩn để xác định yêu cầu kiểm soát phát triển. Đây mới chỉ là
điều kiện cần và chỉ áp dụng đối với những khu vực phát triển mới
hoàn toàn và không có yêu cầu quản lý riêng như đã đề cập ở trên.
Vì các quy định quy chuẩn, tiêu chuẩn chỉ áp dụng phù hợp đối với
những khu vực có điều kiện chung đồng nhất, như khu đô thị mới,
phát triển tại vùng đất trống, đất nông nghiệp, đồng bằng... không có
yếu tố thiên tai, vùng không có dân cư truyền thống, trung tâm đô thị
lịch sử... Điều này dẫn tới thực tế mâu thuẫn, một là các khu vực cần
bảo tồn sẽ được xây dựng như một khu vực mới và không có sự khác
biệt, hai là khu vực đó sẽ không thể thực hiện công tác kiểm soát phát
triển (nếu hoạt động đô thị ở đó diễn ra sôi động).
Do đó việc xác định khu vực nào áp dụng hệ thống quy chuẩn,
tiêu chuẩn chung, khu vực nào không áp dụng là hết sức cần
thiết và cần bổ sung các công cụ kiểm soát khác ngoài quy
chuẩn, tiêu chuẩn.
(6) Các yếu tố thiên tai chưa được lồng ghép trong quy trình quy
hoạch và phân vùng, hạn chế những giải pháp quy hoạch sử dụng
đất thích ứng thiên tai, biến đổi khí hậu. Các khu vực cần bổ sung
quy định trong phân vùng là:
OCác khu vực không phù hợp cho đô thị hóa.
OCác khu vực gặp nhiều rủi ro thiên tai.
OCác khu vực phải bảo tồn nông nghiệp.
OCác khu vực giàu môi trường tự nhiên, nguồn nước, kiểm soát
xói lở.
TĐịnh hướng đổi mới
Đổi mới kiểm soát phát triển đô thị theo phân vùng đô thị cũ và
mới. Định hướng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng thuộc mọi đối
tượng, người dân đô thị có thể biết để thực hiện trong từng đô thị.
TMục tiêu
OĐổi mới phương pháp, quy trình tích hợp phân vùng và quản lý
phát triển đô thị gắn với sử dụng đất và giao thông đô thị.
OXây dựng công cụ kiểm soát và giám sát thực hiện quy hoạch về
các chỉ tiêu sử dụng đất (hệ số sử dụng đất, chức năng sử dụng
đất) và hạ tầng xã hội.
OXây dựng công cụ dự báo nhu cầu sử dụng đất và quản lý khả
năng dung nạp hạ tầng kỹ thuật và HTXH cho các dự án đô thị.
OXây dựng cơ chế chuyển nhượng về chỉ tiêu sử dụng đất trong
từng phân vùng và giữa vùng khuyến khích đô thị hóa và vùng hạn
chế đô thị hóa.
TNhiệm vụ
OĐổi mới quy trình tích hợp nội dung phân vùng trong QHĐT đổi
mới.
OXây dựng hướng dẫn về phương pháp và nội dung phân vùng.
OXây dựng khung cơ sở dữ liệu về về sử dụng đất, giao thông đô
thị phục vụ mục tiêu dự báo và định hướng phân vùng.
OXây dựng khung quản lý phát triển đô thị về sử dụng đất, cấp
phép phát triển dự án đầu tư phát triển đô thị, dự án đầu tư công...
OXây dựng đề án về các quy định địa phương về bảo tồn, cảnh
quan và kiến trúc, bảo vệ môi trường, giảm nhẹ rủi ro thiên tai.
7. Kiểm soát phát triển không gian cao tầng
TTồn tại
Công tác quản lý chiều cao và khối tích xây dựng tại các đô thị Việt
Nam hiện nay đang tồn tại nhiều bất cập. Ở các đô thị trẻ, ngưỡng
giới hạn tầng cao tối đa trong quy hoạch chung thành phố có phần
khó hiểu đối với người dân, giới đầu tư và cả giới chuyên môn.
Thậm chí có nhiều ý kiến cho rằng những giới hạn còn thiếu lý luận
này đang phần nào cản trở những phát triển cần thiết của đô thị. Ở
các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, nhiều dự án phát triển
mật độ cao và cao tầng vượt quá ngưỡng cung ứng hạ tầng đang
đe dọa nghiêm trọng cân bằng đô thị, gây nhiều bất đồng trong dư
luận. Trong khi đó, tại hầu hết các thành phố, những khu phố lịch
sử hay khu vực có di tích danh thắng cần bảo tồn đang thiếu vắng
những công cụ khống chế cần thiết đối với các công trình xây mới
- cải tạo nhằm bảo tồn cấu trúc thiên nhiên - đô thị. Chính bởi thiếu
công cụ phù hợp, các nhà quản lý đã vô tình để cho những công
trình mới tự do chen vai thích cánh mọc lên một cách không phù
hợp, khiến chúng phá vỡ cấu trúc cảnh quan, làm lu mờ tính nhân
văn của đô thị.
Hiện nay phương pháp quy hoạch và quản lý xây dựng ở nước ta
còn dựa nhiều vào cảm tính, thiếu cơ sở lý luận. Điều này đang
Quy hoπch & t∏c gi∂
SË 100 . 201966
phần nào khiến lung lay niềm tin của người
dân về sự công bằng, hợp lý trong phân bổ
quyền phát triển trong đô thị, nhất là trong
thời kỳ đô thị hóa mạnh mẽ hiện nay. Đây
chính là lúc cần có những hướng dẫn cụ thể
đối với nguyên tắc quản lý của cả Trung
ương và địa phương, không chỉ về kiểm
soát chiều cao mà toàn diện khối tích xây
dựng công trình, thông qua sử dụng hiệu
quả công cụ quy hoạch và thiết kế đô thị,
nhằm đạt được sự cân bằng, mỹ quan, bảo
tồn, và bền vững trong phát triển đô thị.
Thiếu lý luận về giới hạn tầng cao tối đa trong
quy hoạch chung thành phố, giới hạn tầng
cao có phần khó hiểu cho các chủ thể liên
quan (người dân, giới đầu tư và cả giới chuyên
môn); nhiều dự án phát triển mật độ cao và
cao tầng vượt quá ngưỡng cung ứng hạ tầng
đang đe dọa nghiêm trọng cân bằng đô thị,
gây nhiều bất đồng trong dư luận. Hiện nay,
thực tế cho thấy hiện tượng “bùng nổ” xây
dựng các tổ hợp cao tầng hỗn hợp tại khu vực
trung tâm nội đô lịch sử các đô thị. Tuy vậy,
đây là loại hình công trình quy mô lớn có mức
độ tập trung người sử dụng cao (đặc biệt là tại
các giờ cao điểm), là một trong những nguyên
nhân gia tăng áp lực lên hệ thống hạ tầng giao
thông đô thị. Hệ thống văn bản pháp luật, quy
chuẩn – tiêu chuẩn còn chưa đề cập rõ các
vấn đề trên. Do vậy cần có thêm các nghiên
cứu tính toán quy định rõ các chỉ tiêu – tiêu chí
với loại hình công trình cao tầng này.
Bên cạnh đó, do bộ môn thiết kế đô thị ở
nhiều nơi còn chưa được áp dụng đúng
đắn, nên chưa phát huy được tác dụng đích
thực của nó. Thiếu vắng những công cụ
khống chế cần thiết đối với các công trình
xây mới - cải tạo nhằm bảo tồn cấu trúc
thiên nhiên - đô thị.
Tóm lại, công tác quản lý chiều cao và khối
tích xây dựng tại các đô thị Việt Nam hiện
nay chưa thực sự tạo ra sự công bằng, hợp lý
trong phân bổ quyền phát triển trong đô thị.
TĐịnh hướng đổi mới
Quản lý theo hệ số sử dụng đất
Quy định quyền và nghĩa vụ phát triển
theo chức năng sử dụng đất vốn đã là một
khái niệm quen thuộc và cơ bản trong quy
hoạch. Với nhiều loại hình sử dụng đất,
các khống chế kèm theo đã bao gồm đầy
đủ thông tin đối với giới hạn khối tích công
trình. Chẳng hạn đất nhà ở mật độ thấp có
thể được quy hoạch xác định chỉ cho phép
xây dựng công trình không quá 5 tầng, mật
độ không quá 60%.
Hầu hết các thành phố hiện đại đều không
sử dụng thông số ngưỡng tầng cao tối đa
trong toàn thành phố, bởi không có lý do
đủ mạnh để đưa ra sự cấm cản như vậy
trên phạm vi địa lý rộng. Thay vào đó, người
ta dựa trên lý luận rằng khối tích phát triển
không được vượt quá sức dung nạp hạ tầng
đô thị. Bởi về lý thuyết, đô thị được thiết kế
với hạ tầng đủ sức tải với một lượng dân số
nhất định, phản ánh bởi khối tích xây dựng,
nên nếu việc xây dựng vượt quá ngưỡng
này, sẽ đe dọa cân bằng với hạ tầng đô thị.
Cho nên Hệ số sử dụng đất tối đa (Floor
Area Ratio) mới là công cụ quan trọng và
hữu lý nhất để khống chế xây dựng.
Đây là một khái niệm cũng không hề mới với
nền quy hoạch Việt Nam. Tuy nhiên một lần
nữa, hệ thống quy hoạch đô thị lại khá mơ hồ
trong cách quản lý này. Hệ số sử dụng đất
thường không được quy định trong quy hoạch
chung. Hệ số sử dụng đất trong quy hoạch
chung và phân khu là hệ số gộp (brutto).
Cho đến quy hoạch dự án (tỉ lệ 1/500) hệ số
này mới là hệ số thuần (netto). Vì vậy để có
thể kiểm chứng được rằng xem quy hoạch
chi tiết và các dự án có đảm bảo đúng phát
triển trong ngưỡng dung nạp của hạ tầng đô
thị hay không là điều khó khăn, nếu không
muốn nói rằng không thể kiểm chứng.
Quản lý thông qua chỉ dẫn Thiết kế đô thị -
cảnh quan
Kể từ thập niên 60, Mỹ và Châu Âu đã bổ
sung thiết kế đô thị như một công cụ mạnh
mẽ nhằm kết nối giữa quy hoạch và kiến
trúc công trình. Nghiên cứu không gian ba
chiều của thiết kế đô thị giúp giảm đáng kể
các quyết định quan liêu của quy hoạch,
và làm rõ được những yêu cầu mà công
trình cần đóng góp vào không gian đô thị.
Kể từ năm 2013, bộ môn này cũng đã được
chính thức đưa vào Việt Nam, qua thông tư
06/2013/TT-BXD.
Đặc điểm chủ đạo của bộ môn thiết kế đô
thị là dùng các phương tiện 3 chiều để xác
định lý do và phương pháp khống chế đối
với khối tích xây dựng nhằm truyền đạt cụ
thể hơn, hiệu quả hơn những chính sách
quản trị xây dựng của thành phố.
Chẳng hạn, để bảo vệ cảnh quan văn hóa
trong đô thị cổ, thiết kế đô thị đưa ra những
nguyên tắc trong bảo tồn cấu trúc đô thị và
các đường giới hạn để khống chế xây dựng
công trình mới, công trình cải tạo, nhằm
đảm bảo sự hiện diện của chúng không làm
thay đổi cấu trúc cần bảo tồn. Tương tự như
vậy đối với các khu vực cảnh quan thiên
nhiên đáng kể.
Việt Nam vẫn cần tiếp tục hoàn thiện hệ
thống pháp lý đối với thiết kế đô thị để bộ
môn này đem đến hiệu quả tích cực hơn
Hình 4: Kiểm soát khối tích xây dựng thông qua các thuộc tính hình học của khối bao
67SË 100 . 2019
nữa. Hiện nay, khái niệm “đồ án thiết kế đô thị riêng” đang khiến
nhiều địa phương nhầm lẫn về vai trò của nó như một quy trình
pháp lý tương đương quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500. Bản chất của
Thiết kế đô thị là một bộ môn chuyên ngành, không hơn kém so với
một chuyên ngành hạ tầng kỹ thuật đô thị. Không thể xem Thiết kế
đô thị như một quy trình pháp lý. Cần hiểu đúng nó như là một bộ
môn chuyên ngành cần có để hỗ trợ khi ra quyết định. Thiết kế đô
thị có thể đi cùng quy hoạch các cấp, đi cùng dự án chỉnh trang đô
thị, đi cùng dự án công trình có quy mô hoặc vai trò đáng kể trong
đô thị, đi cùng các nghiên cứu khoa học về đô thị, hoặc đi cùng xây
dựng chính sách quản lý đô thị. Trong mọi trường hợp, nó là một
“tập con” dựa vào tính chất pháp lý của quy trình “mẹ” mà vận hành
để hỗ trợ quyết định.
Quản lý quyền và nghĩa vụ trong phát triển công trình đô thị
Khi một dự án được cấp phép xây dựng trong đô thị, luôn phải gắn
với các quyền và nghĩa vụ cụ thể. Điều này không xa lạ đối với Việt
Nam. Song các nghĩa vụ mà công trình cần đáp ứng thì còn thiếu
nhiều, nếu so sánh với phương Tây.
Chẳng hạn, công trình phải đáp ứng đủ chỗ đỗ xe cho người sử
dụng nó, nội trong khuôn viên lô đất, thay vì chất tải lên hạ tầng đô
thị. Mỗi thành phố có hệ thống quy chuẩn riêng để đo đếm, đối với
loại sàn sử dụng đất nào thì cần bao nhiêu chỗ đỗ xe. Các chủ dự
án không thể tránh né giải trình về cung cấp không gian này. Nhiều
khi, do phải xây nhà chứa, hầm chứa xe nhiều tầng, khiến đội giá
dự án, chủ đầu tư đã phải chọn điểm rơi phù hợp hơn đối với khối
tích xây dựng tối đa. Như vậy, bằng công cụ kiểm soát minh bạch
về cung ứng chỗ đỗ xe đảm bảo quy chuẩn địa phương, rất nhiều
công trình không thể xây dựng quá cao lớn.
Tương tự như vậy, các công trình có mật độ người sử dụng lớn
như bệnh viện, trường học, trung tâm thương mại, phải có thiết kế
đường gom riêng, hoặc sân trước rộng, để đảm bảo lượng người
dừng đỗ tạm thời không ảnh hưởng đến giao thông chung của đô
thị. Điều này, chính quyền hoàn toàn có thể kiểm soát được thông
qua quy chuẩn, quy định địa phương.
Bên cạnh đó, người ta còn xác định ngưỡng giới hạn cho hạ tầng
công trình. Chẳng hạn, áp lực nước mưa, nước thải từ công trình
chảy vào hệ thống chung, không được vượt quá các ngưỡng nhất
định. Điều này khiến các kiến trúc sư thiết kế công trình phải vắt óc
tìm ra các giải pháp xanh hơn, nhằm giảm tốc độ và tần suất chảy
thải vào hệ thống chung.
Giao dịch quyền phát triển đô thị
Các nước phát triển cũng khá quen thuộc với công cụ trao đổi
quyền phát triển