Itềm năng và định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến Tre

Hiện nay, đời sống của người dân Bến Tre nói riêng, cảnước nói chung không ngừng được cải thiện. Tuy nhiên, trong xu thếphát triển, hòa nhập với các vùng miền trong cảnước và thếgiới; nông nghiệp, nông thôn trong tỉnh vẫn còn lắm khó khăn. Sản xuất bấp bênh, luẩn quẩn cái vòng được mùa mất giá, được giá mất mùa, nhiều hộnông dân ởvùng sâu, vùng xa thiếu vốn sản xuất, phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn; đời sống vật chất, tinh thần của nhiều bà con nông dân vùng sâu vùng xa chậm được cải thiện. Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) được ban tặng khá nhiều từthiên nhiên, vùng đất mà người ta quen gọi với cái tên rất thân mật “đất lành”. Quảthật không phải hữu danh, đây là vùng đồng bằng châu thổmàu mỡ được bồi đấp phù sa bởi các nhánh sông Tiền, sông Hàm Luông và sông CổChiên trước khi nó lặng lẽ đổvào biển lớn, đây là một vựa trái cây lớn, vùng tiềm năng nuôi trồng thủy sản (NTTS) của khu vực. Thếnhưng trong nhịp sống hối hảcủa cuộc sống hiện đại, người dân Bến Tre vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, luôn trăn trởvới chính sản phẩm của họlàm ra mà chủyếu là mặt hàng nông sản. Thủy sản là một trong những thếmạnh lớn của tỉnh trong quá trình hội nhập hiện nay. Toàn tỉnh hiện có khoảng 42.089 ha diện tích mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng nuôi trồng năm 2008 lên đến hơn 157.018 tấn, chiếm khoảng 65,7% tổng sản lượng thủy sản của tỉnh. Nhưng hiện nay nghềNTTS của tỉnh được đánh giá là phát triển không bền vững, hầu hết các hộnuôi thủy sản của tỉnh vẫn đang loay hoay tựbươn chải đểphát triển mà chưa có những quy hoạch cụthểnào cho sựphát triển bền vững trong điều kiện đất nước đang trên đà hội nhập kinh tếquốc tế. Hiện nay việc qui hoạch vùng nuôi thủy sản của tỉnh còn khá nhiều bất cập, tỉnh có qui hoạch nhưng lại không công bốrộng rãi cho dân biết đểcho người nông dân thực hiện theo đúng qui hoạch, dẫn đến tình trạng nông dân mạnh ai nấy đầu tưNNTS theo hình thức tựphát, đến khi có thông báo vi phạm qui hoạch thì chuyện đã rồi, tỉnh đành phải điều chỉnh theo người dân. Trong lúc các địa phương đang loay hoay qui hoạch vùng nuôi thủy sản thì giữa người nuôi thủy sản và các nhà máy chếbiến cũng nẩy sinh rất nhiều mâu thuẩn, trên lý thuyết giữa người nuôi thủy sản và nhà máy chếbiến phải luôn luôn cùng nhau nhìn vềmột hướng đểphát triển nhưng thực tếkhông nhưvậy, người thu mua và người nuôi luôn vì cái lợi của bản thân mà không hề đểý tới sựphát triển trong tương lai. Trong khi bài toán “phát triển thủy sản của tỉnh nhưthếnào là bền vững?” vẫn chưa có lời giải thì những ngày gần đây người nuôi và doanh nghiệp chếbiến thủy sản lại đối mặt với một vấn nạn: giá thức ăn chăn nuôi tăng lên từng ngày, chất lượng thủy sản và môi trường nuôi ngày càng suy thoái dần, khiến cho giá cảnhiều mặt hàng thủy sản của tỉnh giảm sút rất mạnh trên thịtrường.

pdf147 trang | Chia sẻ: vietpd | Lượt xem: 1357 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Itềm năng và định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến Tre, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH ---------------------------------- Lê Xinh Nhân TIỀM NĂNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG THỦY SẢN BẾN TRE Chuyên ngành: Địa Lý Học Mã số: 60 31 95 LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÝ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. TRẦN VĂN THÔNG Thành phố Hồ Chí Minh – 2010 LỜI CẢM ƠN Được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các Thầy Cô giáo, sự hổ trợ của các bạn bè, đồng nghiệp và sự động viên của gia đình. Sau ba năm học tập và nghiên cứu đến nay tác giả đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình. Để có được thành công này, tác giả luận văn xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Thầy TS. Trần Văn Thông – người đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo tận tình trong suốt quá trình nghiên cứu luận văn. Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu nhà trường, Phòng Khoa Học – Công Nghệ Sau Đại Học và Khoa Địa Lý trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, trang bị kiến thức để hoàn thành luận văn. Đồng thời, xin chân thành cảm ơn Sở Giáo Dục và Đào Tạo tỉnh Bến Tre, trường THPT CheGuevara, trường THPT Chuyên Bến Tre, các thầy cô cùng các bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả thực hiện công việc học tập và nghiên cứu của mình. Bên cạnh đó, tác giả luận văn cũng chân thành cảm ơn tới các Cơ Quan, Ban Ngành như: Cục Thống Kê Bến Tre, UBND tỉnh Bến Tre, Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Bến Tre,… đã nhiệt tình giúp đỡ, cung cấp các tư liệu, số liệu tham khảo quý báu, hữu ích để tác giả hoàn thành tốt luận văn. Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và những người thân đã động viên, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành luận văn này. Tác giả luận văn Lê Xinh Nhân DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BTC Bán thâm canh BTS Bộ thủy sản CoC Bộ Quy tắc ứng xử của FAO (Code of Conduct) CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long EU Liên minh châu Âu (European Union) FAO Tổ chức lương thực thế giới (Food anh Argiculture Organization of the united nation) GAP Thực hành nuôi tốt (Good Aquaculture Practice) GDP Tổng thu nhập quốc nội (Gross Domestic Product) HACCP Hệ thống phân tích mối nguy hiểm và kiểm soát điểm tới hạn (Hazard Analysis Crititical Control Point) HTX Hợp tác xã KT – XH Kinh tế – xã hội NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn NTTS Nuôi trồng thủy sản RAP Thực hành nuôi có trách nhiệm (Responsible Aquaculture Practice) TACN Thức ăn công nghiệp UBND Ủy ban nhân dân TP Thành phố TX Thị xã VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm WTO Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization) MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, đời sống của người dân Bến Tre nói riêng, cả nước nói chung không ngừng được cải thiện. Tuy nhiên, trong xu thế phát triển, hòa nhập với các vùng miền trong cả nước và thế giới; nông nghiệp, nông thôn trong tỉnh vẫn còn lắm khó khăn. Sản xuất bấp bênh, luẩn quẩn cái vòng được mùa mất giá, được giá mất mùa, nhiều hộ nông dân ở vùng sâu, vùng xa thiếu vốn sản xuất, phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn; đời sống vật chất, tinh thần của nhiều bà con nông dân vùng sâu vùng xa chậm được cải thiện. Bến Tre là một tỉnh thuộc đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) được ban tặng khá nhiều từ thiên nhiên, vùng đất mà người ta quen gọi với cái tên rất thân mật “đất lành”. Quả thật không phải hữu danh, đây là vùng đồng bằng châu thổ màu mỡ được bồi đấp phù sa bởi các nhánh sông Tiền, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên trước khi nó lặng lẽ đổ vào biển lớn, đây là một vựa trái cây lớn, vùng tiềm năng nuôi trồng thủy sản (NTTS) của khu vực. Thế nhưng trong nhịp sống hối hả của cuộc sống hiện đại, người dân Bến Tre vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, luôn trăn trở với chính sản phẩm của họ làm ra mà chủ yếu là mặt hàng nông sản. Thủy sản là một trong những thế mạnh lớn của tỉnh trong quá trình hội nhập hiện nay. Toàn tỉnh hiện có khoảng 42.089 ha diện tích mặt nước nuôi thủy sản với tổng sản lượng nuôi trồng năm 2008 lên đến hơn 157.018 tấn, chiếm khoảng 65,7% tổng sản lượng thủy sản của tỉnh. Nhưng hiện nay nghề NTTS của tỉnh được đánh giá là phát triển không bền vững, hầu hết các hộ nuôi thủy sản của tỉnh vẫn đang loay hoay tự bươn chải để phát triển mà chưa có những quy hoạch cụ thể nào cho sự phát triển bền vững trong điều kiện đất nước đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế. Hiện nay việc qui hoạch vùng nuôi thủy sản của tỉnh còn khá nhiều bất cập, tỉnh có qui hoạch nhưng lại không công bố rộng rãi cho dân biết để cho người nông dân thực hiện theo đúng qui hoạch, dẫn đến tình trạng nông dân mạnh ai nấy đầu tư NNTS theo hình thức tự phát, đến khi có thông báo vi phạm qui hoạch thì chuyện đã rồi, tỉnh đành phải điều chỉnh theo người dân. Trong lúc các địa phương đang loay hoay qui hoạch vùng nuôi thủy sản thì giữa người nuôi thủy sản và các nhà máy chế biến cũng nẩy sinh rất nhiều mâu thuẩn, trên lý thuyết giữa người nuôi thủy sản và nhà máy chế biến phải luôn luôn cùng nhau nhìn về một hướng để phát triển nhưng thực tế không như vậy, người thu mua và người nuôi luôn vì cái lợi của bản thân mà không hề để ý tới sự phát triển trong tương lai. Trong khi bài toán “phát triển thủy sản của tỉnh như thế nào là bền vững?” vẫn chưa có lời giải thì những ngày gần đây người nuôi và doanh nghiệp chế biến thủy sản lại đối mặt với một vấn nạn: giá thức ăn chăn nuôi tăng lên từng ngày, chất lượng thủy sản và môi trường nuôi ngày càng suy thoái dần, khiến cho giá cả nhiều mặt hàng thủy sản của tỉnh giảm sút rất mạnh trên thị trường. Hằng ngày trên các phương tiện truyền thông đại chúng như: báo chí, đài phát thanh truyền hình cũng đã đề cập rất nhiều về vấn đề này thế nhưng vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học thật sự nào đi sâu vào việc nghiên cứu làm sao để ngành hàng thủy sản Bến Tre thực sự có một chổ đứng vững chắc trên thị trường trong thời kỳ hội nhập hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề phát triển thủy sản Bến Tre hiện nay là rất cần thiết và thiết thực. Kết quả những nghiên cứu mang tính định hướng này sẽ là cơ sở để xác định giá trị thực sự của mặt hàng thủy sản ĐBSCL nói chung và của Bến Tre nói riêng. Nếu điều này được thực thi sẽ là một động lực rất lớn cho vấn đề qui hoạch phát triển thủy sản tỉnh trong tương lai, đồng thời nó sẽ góp phần tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo cho người dân Bến Tre. Trong thực tế đó, các vấn đề nghiên cứu được đặt ra như sau: - Đánh giá các tiềm năng và thực trạng phát triển thủy sản của tỉnh. - Phân tích các mặt đã đạt được cũng như các mặt còn hạn chế. - Giải thích nguyên nhân dẫn tới những yếu kém trong năng lực cạnh tranh mặt hàng thủy sản như hiện nay. - Đề xuất các định hướng và giải pháp cần thiết nhằm nâng cao giá trị mặt hàng thủy sản đồng thời đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường sinh thái tự nhiên đa dạng của tỉnh trong tương lai. Để giải quyết các vấn đề nêu trên, tác giả luận văn đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tiềm năng và định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến Tre”. 2. Mục đích nghiên cứu Tổng quan có chọn lọc các cơ sở lý luận về những thời cơ và thách thức của ngành thủy sản nước ta trong thời kỳ hội nhập mà cụ thể hơn là ngành thủy sản tỉnh Bến Tre. Khái quát có hệ thống về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của tỉnh và đồng thời đưa ra những nhận xét, đánh giá chung. Tổng hợp và đánh giá các tiềm năng, thành tựu cũng như các yếu kém của ngành thủy sản Bến Tre trong giai đoạn gần đây. Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và thực trạng phát triển của ngành thủy sản hiện nay trên địa bàn tỉnh. Hướng vào phân tích, đánh giá thực trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh so với tiềm năng hiện có và đồng thời nêu lên một số giải pháp mang tính định hướng nhằm phát triển ngành thủy sản Bến Tre phát huy lợi thế là một trong những ngành kinh tế thế mạnh của tỉnh, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao về mặt kinh tế xã hội và môi trường sinh thái trong tương lai. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu và vận dụng lý thuyết phát triển bền vững để phân tích thực trạng phát triển ngành thủy sản tỉnh Bến Tre (khai thác, nuôi trồng và chế biến tiêu thụ sản phẩm thủy sản) những năm qua theo quan điểm phát triển bền vững. Tìm hiểu vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế xã hội và môi trường sinh thái của Việt Nam nói chung và Bến Tre nói riêng. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành thủy sản của tỉnh đồng thời nêu lên các mâu thuẫn phát sinh giữa phát triển kinh tế thủy sản với bảo vệ môi trường, cũng như các vấn đề thủy sản đang bức xúc hiện nay. Nghiên cứu hiện trạng phát triển ngành thủy sản Bến Tre. Đưa ra một số giải pháp mang tính định hướng cho việc phát triển bền vững ngành thủy sản Bến Tre đến năm 2020. 4. Giới hạn nghiên cứu của đề tài Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các loại thủy sản đặc trưng có thế mạnh của tỉnh, hiện nay mang lại giá trị xuất khẩu cao chủ yếu là tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tôm càng xanh, cá da trơn (tra, basa). Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong giới hạn các huyện có tiềm năng và thế mạnh cho việc phát triển thủy sản, phân tích các tiềm năng về tài nguyên tự nhiên – kinh tế xã hội (KT – XH) để phát triển ngành thủy sản, đánh giá thực trạng phát triển của ngành trong thời gian gần đây. Trên cơ sở phân tích tiềm năng, đánh giá thực trạng phát triển. Đề xuất các giải pháp, phương hướng phát triển cho ngành thủy sản của tỉnh trong thời gian tới, phát triển nhưng đảm bảo không gây tác hại đến môi trường, làm hủy hoại tính đa dạng sinh học của các giống loài, cũng như sự đa dạng của môi trường sinh thái của tỉnh. Về không gian, đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi các huyện trong tỉnh có tiềm năng và thế mạnh cho việc phát triển thủy sản như: Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú, Chợ Lách, Mỏ Cày Nam,… Về thời gian, đề tài tập trung, điều tra, thu thập số liệu, nghiên cứu và phân tích trong giai đoạn từ năm 2000 trở lại đây. 5. Lịch sử nghiên cứu ĐBSCL nói chung và tỉnh Bến Tre nói riêng có rất nhiều lợi thế và tiềm năng cho việc phát triển ngành thủy sản. Trong những năm gần đây, thủy sản của vùng đã khẳng định là một trong những những ngành sản xuất hàng hóa xuất khẩu thế mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội rất cao, góp phần tích cực vào công cuộc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế ở các vùng ven biển, tạo ra nhiều việc làm, góp phần giải quyết được nguồn lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tăng nguồn thu nhập cho người dân, đồng thời tạo điều kiện cho việc phát triển một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. Cùng với nhiều tỉnh thành khác trong khu vực như An Giang, Cà Mau, Kiên Giang, Đồng Tháp,… Bến Tre là một tỉnh cuối nguồn sông Cửu Long, với rất nhiều tiềm năng cho việc phát triển ngành thủy sản đặc biệt là ngành NTTS với cả 3 hệ sinh thái ngọt, lợ, mặn. Hiện nay, sản phẩm thủy sản của tỉnh đã từng bước khẳng định trên thị trường không những trong nước mà còn cả các thị trường khó tính như Tây Âu, Hoa Kỳ,… Nhưng chính vì do sự phát triển phần nhiều còn mang tính tự phát, nên ngành thủy sản sự phát triển thủy sản của tỉnh chưa mang lai hiệu quả kinh tế đúng với tiềm năng, chưa đảm bảo được tính bền vững trong tương lai. Tiềm năng phát triển thủy sản là rất lớn, song về lâu dài cũng cần tính đến hiệu quả kinh tế với sự phát triển bền vững. Sự phát triển bền vững cần phải thể hiệu đầy đủ cả 3 mặt: hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Trên cơ sở đó, chúng ta cần phải có những giải pháp mang tính khả thi cho ngành thủy sản trong tương lai. Do đó, những năm gần đây đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề thủy sản Việt Nam, ĐBSCL.  “Chương trình phát triển nuôi trồng thủy sản Việt Nam thời kỳ 1999 – 2010” do thủ tướng chính phủ phê duyệt Quyết định số 224/1999 ngày 08/12/1999.  Đề án “Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội ngành thủy sản thời kỳ 2000 – 2010” của Bộ Thủy sản.  Đề tài khoa học cấp bộ “Những giải pháp về thị trường cho sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam” của PGS – TS. Võ Thanh Chu (chủ biên) cùng nhóm tác giả thuộc trường Đại học Kinh tế Thành phồ Hồ Chí Minh thực hiện.  “Quy hoạch phát triển NTTS ở ĐBSCL đến năm 2015 và định hướng năm 2020” Viện Kinh tế và quy hoạch thủy sản thuộc Bộ Thủy sản.  Luận án tiến sĩ “Phát triển bền vững ngành thủy sản Đồng bằng Sông Cửu Long đến năm năm 2015” của Ths. Lâm Văn Mẫn. Một số bài tham luận có liên quan đến việc phát triển bền vững ngành thủy sản tại các cuộc Hội thảo khoa học như:  “Hoạt động khoa học công nghệ thủy sản vì sự phát triển Đồng bằng sông Cửu Long” của Bộ Thủy sản.  “Để nuôi trồng thủy sản xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn ở Đồng bằng Sông Cửu Long” của PGS – TS. Hà Xuân Thông – Nguyên Viện trưởng Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản.  “Đẩy nhanh phát triển nuôi trồng thủy sản phát triển hiện đại, hiệu quả bền vững” của PGS – TS. Hà Xuân Thông – Nguyên Viện trưởng Viện kinh tế và quy hoạch thủy sản.  “Khoa học công nghệ trong sự phát triển thủy sản bền vững ở Đồng bằng Sông Cửu Long” của Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Duy Hòa – Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II.  “Những bước phát triển mới trong kinh tế Nông – Lâm – Ngư nghiệp vùng Đồng bằng Sông Cửu Long – Một số giải pháp chủ yếu” của Nguyễn Thị Vân, Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  “Vai trò của thủy sản trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng lũ Đồng bằng Sông Cửu Long” của Nguyễn Thanh Phong – khoa thủy sản, trường Đại học Cần Thơ.  “Giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của gạo và thủy sản – Những sản phẩm chủ lực của Đồng bằng Sông Cửu Long” của TS. Trần Xuân Hiển, trường Chính trị Tôn Đức Thắng, tỉnh An Giang.  “Liên kết trong sản xuất kinh doanh thủy sản – Tiền đề cho sự phát triển bền vững” của Nguyễn Thị Trâm Anh và Nguyễn Thị Kim Anh – khoa kinh tế, trường Đại học Nha Trang.  “Môi trường và vấn đề phát triển bền vững ngành thủy sản” của Hoàng Hoa Hồng – trường Đại học Nha Trang.  “Quá trình phát triển và định hướng của ngành thủy sản Bến Tre sau hai năm gia nhập WTO” của Trần Thị Thu Nga – PGĐ Sở Nông nghiệp và PTNT Bến Tre. Ngoài ra, hiện nay ngành thủy sản cũng được quan tâm và thực hiện nghiên cứu từ các dự án, hãng thông tấn báo chí, viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản, đài phát thanh truyền hình tỉnh, trung tâm truyền hình Việt Nam tại thành phố Cần Thơ hoặc của sinh viên các trường: Đại học Nông Lâm Tp. HCM, Đại học Thủy Sản Nha Trang, khoa nông nghiệp trường Đại học Cần Thơ, Đại học Huế, Đại học Trà Vinh,… Tuy nhiên, phần lớn các công trình đó chưa đi sâu khai thác và nghiên cứu kỹ về vấn đề phát triển thủy sản trong điều kiện đất nước đang hội nhập quốc tế mà chỉ bước đầu cho việc nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của vấn đề thủy sản – chủ yếu là nhằm mục đích nâng cao năng suất cho việc nuôi trồng thủy sản (NTTS). Diễn hình như các công trình: “Bệnh học thủy sản” công bố năm 2008, của Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I; “Quản lý chất lượng nước nuôi trồng thủy sản” công bố 2008 của Đại học Cần Thơ; “Kỹ thuật nuôi nhuyễn thể” công bố 2008,… Ngày nay, với việc Việt Nam chính thức gia nhập WTO, chúng ta không phải chỉ sản xuất sản phẩm mà chúng ta có tiềm năng mà cần tạo ra sản phẩm thị trường cần, sản phẩm phải đáp ứng được nhu cầu thị trường. Do đó, vấn đề nghiên cứu về thủy sản hướng xuất khẩu của Bến Tre thật là một đề tài khá hấp dẫn cần phải được quan tâm đầy đủ trong tình hình hiện nay. Riêng vấn đề phát triển thủy sản Bến Tre trong thời kỳ hội nhập hiện nay thì vẫn chưa có một công trình thật sự nào được nghiên cứu một cách chi tiết, tuy nhiên cũng có rất nhiều bài viết của sinh viên, định hướng quy hoạch của huyện về các vấn đề có liên quan đến thủy sản như:  “Khảo sát mô hình nuôi tôm sú thâm canh tại huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre” của Phạm Nguyễn Phương Thảo, 2005. Luận văn tốt nghiệp khoa Thủy Sản, Trường Đại Học Nông Lâm, Tp Hồ Chí Minh.  “Quy hoạch chi tiết nuôi thủy sản đến năm 2010 của huyện Ba Tri – Bến Tre” của Phòng Thủy sản huyện Bình Đại.  “Quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản huyện Thạnh Phú – Bến Tre gia đoạn 2003 – 2010” của Hội đồng nhân dân huyện Thạnh Phú. Các công trình nghiên cứu, đề tài khoa học trên là những tư liệu tham khảo quý giá cho tác giả khi thực hiện luận văn: “Tiềm năng và định hướng phát triển bền vững thủy sản Bến Tre”. 6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6.1. Quan điểm nghiên cứu 6.1.1. Quan điểm hệ thống Đối tượng nghiên cứu của địa lý KT – XH khá rộng lớn, liên quan tới nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh có quy mô và bản chất khác nhau, nhưng lại tương tác chặt chẽ với nhau. Vì vậy các nhà nghiên cứu địa lý KT – XH phải sử dụng thường xuyên nhất quán các quan điểm tiếp cận hệ thống. Kinh tế thủy sản nghiên cứu tổng hợp thể lãnh thổ sản xuất trong một hệ thống các mối quan hệ tác động qua lại với nhau với môi trường xung quanh. Vì vậy khi nghiên cứu vấn đề thủy sản tỉnh Bến Tre được coi là một hệ thống KT - XH thống nhất, được xem xét đánh giá quá trình phát triển KT - XH của tỉnh và sự kết hợp hài hòa với vùng ĐBSCL và cả nước. Ở đây lãnh thổ Bến Tre với tư cách là một hệ thống lớn, bao gồm nhiều phân hệ có quy mô khác nhau tùy từng cấp huyện, xã,… Dù ở quy mô nào, trên mỗi bộ phận lãnh thổ cũng đều có ít nhất 3 phân hệ tác động qua lại, quy định và phụ thuộc lẫn nhau. Đó là các phân hệ tự nhiên, dân cư và kinh tế. 6.1.2. Quan điểm tổng hợp – lãnh thổ Địa lý KT - XH là một khoa học tổng hợp nghiên cứu không gian lãnh thổ KT – XH liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó khi nghiên cứu các nguồn lực nhằm phát triển KT – XH của tỉnh Bến Tre chúng ta cần phải xem xét nó trong một chỉnh thể chung của vùng và cả nước; giải quyết mối quan hệ giữa sự phát triển với việc nâng cao chất lượng, cũng như việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong tương lai. Đồng thời tìm kiếm những mặt tối ưu, định ra các giải pháp cụ thể nhằm phát huy lợi thế của ngành thủy sản dưới cái nhìn khách quan và tổng hợp tạo động lực phát triển KT – XH của tỉnh nhà. 6.1.3. Quan điểm lịch sử - phát triển Ngành thủy sản cũng như bao ngành kinh tế khác, nó cũng luôn luôn vận động và phát triển không ngừng theo thời gian. Tùy theo từng giai đoạn nhất định mà nó có các nguồn lực và thế mạnh khác nhau tạo nên những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngảnh. Đánh giá đúng chiều hướng phát triển, sự thay đổi của ngành qua từng giai đoạn trong quá khứ, hiện tại đó là một tiền đề thuận lợi cho phép chúng ta dự báo viễn cảnh cho sự phát triển của ngành trong tương lai. 6.1.4. Quan điểm kinh tế và phát triển bền vững Quan điểm kinh tế được coi trọng trong nghiên cứu địa lý KT – XH. Quan điểm này thể hiện thông qua một chỉ tiêu kinh tế cụ thể như tốc độ tăng trưởng, hiệu quả kinh tế,… Trong cơ chế thị trường, sản xuất phải đem lại lợi nhuận song cần tránh xu hướng phải đạt cái mục tiêu kinh tế bằng mọi giá. Kinh tế thủy sản cũng không nằm ngoài mục tiêu trên chúng ta thúc đẩy sự phát triển thủy sản nhằm góp phần phát triển kinh tế tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung, nhưng chúng ta cũng cần phải tính đến mục tiêu lâu dài, sự phát triển bền vững trong tương lai chứ không phải chỉ vì mục tiêu trước mắt mà bất chấp tất cả. Quán triệt quan điểm phát triển bền vững đòi hỏi phải đảm bảo sự bền vững về cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường. 6.2 Phương pháp nghiên cứu 6.2.1. Phương pháp phân tích tổng hợp và nghiên cứu hệ thống Đối tượng nghiên cứu của địa lý KT – XH nói chung và của ngành thủy sản nói riêng là những hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử có bản chất khác nhau, thường xuyên tác động qua lại, mang tính thang cấp rỏ rệt. muốn hiểu rõ những đặc điểm và tính quy luật vận động, hành vi của chúng, cần phân tích các mối liên hệ đa dạng, đa
Tài liệu liên quan