Một số đặc điểm giải phẫu khoang gian vòm mũi trên người Việt Nam

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm giải phẫu khoang gian vòm mũi nhằm góp phần cho việc thiết kế vật liệu ghép và cách đặt sóng trong phẫu thuật thẩm mỹ mũi tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 15 xác gồm 5 xác nam và 10 xác nữ. Kết quả: 100% có lớp mỡ gian vòm. Dây chằng gian vòm hiện diện 100% trong mẫu khảo sát, rộng 4,5mm, bề cao 3mm và dày khoảng 1,7mm. Bàn luận: Nghiên cứu này đã cho một cái nhìn khái quát về cấu trúc giải phẫu khoang gian vòm trên người Việt Nam. Lớp mỡ trong nghiên cứu của chúng tôi mỏng hơn so với các công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí nước ngoài khi nghiên cứu trên người sống. Sự hiện diện dây chằng gian vòm sẽ quyết định vị trí đặt sóng mũi khi nâng mũi. Kết luận: Sự hiện diện của lớp mỡ trong khoang gian vòm và dây chằng gian vòm với các kích hươc đã xác định trong nghiên cứu này đóng góp thêm cơ sở giúp các phẫu thuật viên thiết kế kích thước cũng như cách đặt vật liệu độn sóng mũi để đạt kết quả như mong muốn. Kết quả này bước đầu bổ sung số liệu nhân trắc và học thuật giải phẫu.

pdf6 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 11/06/2022 | Lượt xem: 226 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đặc điểm giải phẫu khoang gian vòm mũi trên người Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Nghiên cứu Y học Hội Nghị KH KT Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch Năm 2011 31 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU KHOANG GIAN VÒM MŨI TRÊN NGƯỜI VIỆT NAM Trần Ngọc Anh*, Nguyễn Thanh Vân**, Phạm Đăng Diệu***, Trần Đăng Khoa*** TÓM TẮT Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm giải phẫu khoang gian vòm mũi nhằm góp phần cho việc thiết kế vật liệu ghép và cách đặt sóng trong phẫu thuật thẩm mỹ mũi tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang trên 15 xác gồm 5 xác nam và 10 xác nữ. Kết quả: 100% có lớp mỡ gian vòm. Dây chằng gian vòm hiện diện 100% trong mẫu khảo sát, rộng 4,5mm, bề cao 3mm và dày khoảng 1,7mm. Bàn luận: Nghiên cứu này đã cho một cái nhìn khái quát về cấu trúc giải phẫu khoang gian vòm trên người Việt Nam. Lớp mỡ trong nghiên cứu của chúng tôi mỏng hơn so với các công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí nước ngoài khi nghiên cứu trên người sống. Sự hiện diện dây chằng gian vòm sẽ quyết định vị trí đặt sóng mũi khi nâng mũi. Kết luận: Sự hiện diện của lớp mỡ trong khoang gian vòm và dây chằng gian vòm với các kích hươc đã xác định trong nghiên cứu này đóng góp thêm cơ sở giúp các phẫu thuật viên thiết kế kích thước cũng như cách đặt vật liệu độn sóng mũi để đạt kết quả như mong muốn. Kết quả này bước đầu bổ sung số liệu nhân trắc và học thuật giải phẫu. Từ khóa: đầu mũi, điểm đỉnh mũi, khoảng gian vòm, vòm, trụ ngoài, trụ trong. ABSTRACT RESEARCH ON SURGICAL ANATOMICAL STRUCTURE OF NASAL INTERDOMAL SPACE OF VIETNAMESE CORPSE Tran Ngoc Anh, Nguyen Thanh Van, Pham Dang Dieu, Tran Dang Khoa * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 2 - 2011: 31 - 36 Objectives: Research on surgical anatomical structure of nasal interdomal space to apply in design grafting materials and placing graft materials in cosmetic nasal surgery in Vietnam. Method: A cross-sectional study was carried out in 15 cadavers (5 male and 10 female) with intact nasal in all. Results: 100% has fat pad and interdomal ligament in the interdomal space of lower lateral cartilage. The width of ligament is 4.5mm; height is 3mm and thickness is 1.7mm. Discussion: This study gives an overview about Vietnamese anatomical structure of nasal interdomal space.The fat pad in our research is thinner than other researches published on foreign magazine which conducting the research on living subjects. The presence of interdomal ligament will determine the location of placing graft materials in nasal surgery. Conclusion: The presence of fat pad in the nasal interdomal space and interdomal ligaments with different * Bộ môn Giải Phẫu Học viện Quân Y, ** Bệnh viện thẩm mỹ Thanh Vân ***Bộ môn Giải Phẫu ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch Tác giả liên lạc: TS. BS. Trần Ngọc Anh Email: vohoangnhan@pnt.edu.vn Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Hội Nghị KH KT Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch Năm 2011 32 sizes will help cosmetic surgeon in designing and placing graft materials in nasal surgery. This initial result contributes to the anthropology and anatomical terminology. Key words: nasal tip, nasal tip points, interdomal space, dome, lateral crus, medial crus. ĐẶT VẤN ĐỀ Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ mũi là một trong những phẫu thuật được thực hiện nhiều nhưng tỷ lệ kết quả không như ý và biến chứng xảy ra không ít do PTV chưa hiểu biết thấu đáo các cấu trúc giải phẫu tháp mũi. Các cấu trúc như điểm đỉnh mũi, khoang gian vòm, lớp mỡ gian vòm mũi, dây chằng gian vòm được các nhà lâm sàng tai mũi họng và phẫu thuật thẩm mỹ mô tả một cách chi tiết, trong khi giải phẫu kinh điển chỉ đề cập đến chúng khá đơn giản(10,11). Hầu hết các nhà phẫu thuật cho rằng chỉnh hình đầu mũi là rất khó vì (1) đầu mũi sau chỉnh hình phải trông thật tự nhiên, nếu không sẽ lộ rõ ngay là mũi đã được phẫu thuật, (2) sự phức tạp của các cấu trúc giải phẫu của nó như điểm đỉnh mũi, lớp mỡ gian vòm, dây chằng gian vòm và (3) tính hài hòa đầu mũi trên khuôn mặt(8,12). Cần cân nhắc sự ưu tiên của ba mục tiêu của phẫu thuật mũi là mũi bệnh nhân thích, mũi bác sĩ thích và mũi đa số cộng đồng thích(6). Ngoài ra, đặc điểm hình thái đầu mũi thay đổi theo chủng tộc da trắng, da mà(10). Phẫu thuật có thể càng phức tạp vì tính di động và biến đổi của nó. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm tìm hiẻu đặc điểm giải phẫu của khoang gian vòm ở người Việt Nam, góp phần cung cấp các thông tin cần thiết cho phẫu thuật viên quan tâm đến chỉnh hình thẩm mỹ mũi và các nhà lâm sàng tai mũi họng tại Việt Nam. Mục tiêu Mô tả đặc điểm giải phẫu khoang gian vòm mũi trên 15 xác người Việt Nam. Đo đạc kích thước một số cấu trúc khoang gian vòm trên 15 xác người Việt Nam tại Bộ môn Giải phẫu trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch từ 04/2010 đến 12/2010. Tổng quan y văn Lớp mỡ gian vòm là lớp mô mỡ dưới da dày nhất ở trên vùng đỉnh mũi, thay đổi tùy theo từng cá thể. Độ dày của vùng da này thay đổi chủ yếu ở 1/3 dưới mũi, dày nhất tại đỉnh mũi và vùng trên đỉnh do sự gia tăng mô dưới da và tuyến bã. Khoảng 50% bệnh nhân có da dày từ mức độ trung bình trở lên có mảng mỡ gian vòm và nó cũng tồn tại ở một số trường hợp da mỏng(1). Sun và cộng sự đã mô tả lớp mỡ ở khoảng gian vòm trong chỉnh hình mũi lần đầu tiên vào năm 2000. Lớp mỡ này bắt đầu từ mặt trước trên sụn cánh mũi bên và chấm dứt ở vùng trên đỉnh mũi. Những bệnh nhân có đầu mũi to và khoảng gian trụ rộng thì lớp mỡ này nhiều và dễ lấy đi. Lớp mỡ khoảng gian vòm có một vai trò quan trọng làm biến dạng khoảng trên đầu mũi(15). Khoang gian vòm có giới hạn 2 bên là phân đoạn giải phẫu vòm, ở trên là lớp mô dưới da, ở dưới là dây chằng gian vòm liên kết trụ trong 2 bên của vòm với nhau. Hình 1: Cấu tạo mô mềm đầu mũi(15) A: 1. Vùng đỉnh mũi, 2. Vạt mô mỡ sợi, 3. Điểm đỉnh mũi. B. 1. Khoảng đầu mũi trước mổ, 2. Khoảng đầu mũi sau mổ, 3. Vạt mô mỡ sợi đầu mũi, 4. Sụn cánh mũi bên dưới. Đỉnh mũi thường được phân tích qua khám lâm sàng, chụp ảnh trước mổ và sử dụng siêu âm B-mode 10MHz với cửa sổ 10mm để đánh giá độ rộng đầu mũi trên mặt phẳng ngang(5). Tasman và Helbig là những tác giả đầu tiên dùng siêu âm đánh giá đầu mũi, họ nhận thấy Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Nghiên cứu Y học Hội Nghị KH KT Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch Năm 2011 33 rằng siêu âm mang lại hiệu quả cao so với CT hay MRI với đầu dò phát ra chùm tia thẳng 10MHz. Mảng mỡ gian vòm được nhìn thấy tại khúc nối gian vòm. Kích thước mảng mỡ gian vòm đo bằng siêu âm trước mổ thường có kích thước lớn hơn bình thường do đè đầu dò vào đầu mũi làm cho phân tử mỡ vỡ ra, trái lại trong lúc phẫu thuật do thao tác bóc tách cắt nên thể tích khối mở này thường giảm đi(5). Hình 2: Hình ảnh siêu âm lớp mỡ gian vòm(5) Tác giả Wang Tai-ling và cộng sự chia đỉnh mũi thành 3 loại: loại I: (6-8mm], loại II (8- 10mm], loại III >10mm. Đỉnh mũi của người châu Á thường to hơn, ít nhọn nhô hơn người da trắng vì: + Mô mỡ sợi giữa khoảng gian vòm nhiều hơn và khoảng cách giữa các điểm đỉnh mũi lớn hơn. + Không có sự kết dính giữa trụ trong của sụn cánh mũi bên dưới với sụn vách ngăn. + So với da trắng sụn cánh mũi người châu Á ít phát triển hơn nhưng không phải là nhỏ hơn. Như vậy theo Wang và cộng sự thì yếu tố khoảng cách giữa 2 điểm đỉnh mũi là quan trọng nhất(15). Theo Rohrich và Adams, khoảng cách của điểm đỉnh mũi trung bình 5-6mm, nếu khoảng cách này trên 6mm thì được xem là đầu mũi to(5). Khoảng cách gian vòm trung bình 2,9 mm (thay đổi từ 2,1mm – 4,1mm). Độ dày da đầu mũi là một yếu tố gây cản trở khi làm nhỏ đầu mũi, chiều dày da này được đánh giá bằng quan sát và sờ nắn. Ngoài ra có thể dùng siêu âm để đo độ dày da mũi. Hầu hết các xác và trên bệnh nhân đều có lớp mỡ gian trụ chiếm ở khoảng gian vòm, kích thước lớp mỡ này 1,2 mm×2,4 mm đến 3,6 mm×5,2 mm (trung bình 1,8 mm×3,2 mm)(5). PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu Mô tả cắt ngang. Cỡ mẫu 15 mũi ngoài trên xác, không phân biệt nam nữ. Đối tượng nghiên cứu và kiểu chọn mẫu Chọn thuận tiện các xác có trong phòng lưu trữ xác tại Bộ môn Giải phẫu trường Đại học y khoa Phạm Ngọc Thạch sao cho thỏa tiêu chuẩn nhận: - Xác người Việt Nam, trưởng thành trên 18 tuổi. - Còn nguyên vẹn vùng mũi ngoài và vùng mặt. - Không biến dạng, u bướu hay bất thường về giải phẫu vùng mặt, không có phẫu thuật và vết thương trước đó. Tiêu chuẩn loại Tháp mũi sai lệch do lỗi phẫu tích. Biến số cần thu thập Đặc điểm định tính Sự tồn tại khoang gian vòm, dây chằng gian vòm, mảng mỡ gian vòm. Biến số định lượng Kích thước khoang gian vòm, dây chằng gian vòm và mảng mỡ gian vòm. Cách tiến hành Xác được cố định trong dung dịch formalin. Phương pháp phẫu tích: - Đường vẽ và rạch da: dọc theo bờ sụn cánh mũi bên dưới 2 bên nối với nhau hình chữ V Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Hội Nghị KH KT Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch Năm 2011 34 ngược ở ngay gian trụ mũi, toàn bộ vạt da sẽ được lật lên trên để bộc lộ toàn bộ khung xương sụn của tháp mũi. - Bóc tách các sụn, dây chằng; mô tả đo đạc các kích thước khoang gian vòm, dây chằng gian vòm mảng mỡ gian vòm. Thu thập các số liệu nghiên cứu. Sau đó xử lý số liệu: hiệu chỉnh các số liệu thô từ bảng thu thập, mã hóa các biến số, thống kê và phân tích bằng phần mềm SPSS/PC 10.5. vẽ bản đồ phân bố các nhánh xuyên bằng Excel. Cuối cùng trình bày số liệu và báo cáo kết quả. KẾT QUẢ Chúng tôi phẫu tích trên 15 xác mũi ngoài, trong đó có 5 xác nam (33,3%) và 10 xác nữ (66,7%). Chúng tôi nhận thấy 100% đều có lớp mỡ gian vòm khu trú khoang gian vòm của sụn cánh mũi bên dưới. Khoang này có giới hạn 2 bên là phân đoạn giải phẫu vòm với khoảng cách giữa 2 điểm đỉnh mũi trung bình là 6,2mm, ở trên là lớp mô dưới da, ở dưới lớp mỡ là dây chằng gian vòm liên kết trụ trong 2 bên của vòm với nhau, dây chằng này hiện diện 100% trong mẫu khảo sát. Lớp mỡ xơ này 100% trãi rộng sang 2 bên phủ lên mặt ngoài trụ ngoài sụn cánh mũi bên dưới và lấn trên vùng điểm gãy trên mũi. Kích thước lớp mỡ gian vòm Bảng 1: Một số kích thước lớp mô mỡ xơ gian vòm Kích thước Bên phải Bên trái Độ dày mô mỡ xơ ngay tại điểm giữa 1,1mm (s=0,9) Độ dày mô mỡ xơ ngay tại điểm đỉnh mũi 0,7mm (s=0,4) 0,7mm (s=0,3) Khoảng cách từ đỉnh mũi đến điểm gãy trên mũi 11,0mm (s=3,3) Nhận xét: độ dày mô mỡ xơ ngay tại điểm giữa (1,1mm) dày nhất và mỏng ngay tại điểm đỉnh mũi (khoảng 0,7mm). Khoảng cách từ đỉnh mũi đến điểm gãy trên mũi là 11mm. Hình 3: Lớp mỡ xơ gian vòm trong khoang gian vòm mũi Kích thước dây chằng gian vòm Bảng 2: Kích thước dây chằng gian vòm Kích thước Giá trị trung bình Chiều rộng 4,5mm (s=2,6) Chiều cao 3,1mm (s=0,7) Chiều dày 1,7mm (s=0,8) Nhận xét: Chiều rộng dây chằng gian vòm lớn hơn chiều cao, dày khoảng 1.7mm Hình 4: Dây chằng gian vòm trong khoang gian vòm mũi Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Nghiên cứu Y học Hội Nghị KH KT Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch Năm 2011 35 Kích thước khoang gian vòm Bảng 3: Kích thước khoang gian vòm Kích thước Giá trị trung bình Bề rộng 5,7mm (s=2,7) Bề cao 3,1mm (s=1,2) Bề sâu 1,6mm (s=0,6) Nhận xét: bề rộng khoang gian vòm khoảng 6mm, bề cao 3mm và sâu khoảng 1,5mm. BÀN LUẬN Lớp mỡ gian vòm luôn hiện diện và khu trú khoang gian vòm của sụn cánh mũi bên dưới. Sự trãi rộng lớp mỡ xơ này sang 2 bên phủ lên mặt ngoài trụ ngoài sụn cánh mũi bên dưới và lấn trên vùng điểm gãy trên mũi. Khi ra ngoài sụn cánh mũi bên dưới thì lớp mỡ xơ này dày mỏng tùy theo bề mặt lồi lõm của sụn trụ ngoài. Ngoài ra, khi lớp mỡ này lấn lên vùng điểm gãy trên mũi và phủ đầy thì sóng mũi sẽ thẳng, nếu phủ ít thì sóng mũi sẽ có điểm gãy trên mũi biểu hiện ngoài da trên sóng mũi. Độ dày mô mỡ xơ ngay tại điểm giữa 1.1mm dày nhất và mỏng ngay tại điểm đỉnh mũi (khoảng 0,7mm). Trong nghiên cứu của Eray Copcu trên 40 bệnh nhân, kích thước trung bình mảng mỡ gian vòm đo trên siêu âm 1,9mm×4,2mm (chiều cao không thể đo trên siêu âm) và trong lúc phẫu thuật lấy ra đo được là 2mm×4mm×2mm (cao). sự khác biệt này có thể giải thích do 2 nguyên nhân(1) trong lúc siêu âm đầu dò đè lên đầu mũi làm cho các phân tử mỡ vỡ ra và kích thước đo được lớn hơn, (2) trong lúc phẫu tích bóc tách co kéo làm cho kích thước mảng mỡ gian vòm nhỏ hơn(5). Một nghiên cứu khác cũng của Eray Copcu(4), kích thước mảng mỡ gian vòm 1,2mm×2,4mm đến 3,6mm×5,2mm, trung bình 1,8mm×3,2mm, trải dài từ mặt trước trên sụn cánh mũi bên dưới đến điểm gãy trên mũi. Ông đưa ra 3 yếu tố biểu hiện ra bên ngoài của vòm là góc gian trụ, mối liên quan với vòm đối diện, bề dày mô phủ lên trên. Chiều dày mô mỡ dưới da dày nhất tại điểm gãy trên mũi. Dù không thể so sánh vì sự khác biệt về đối tượng và phương pháp nghiên cứu, nhưng dường như kết quả của chúng tôi nhỏ hơn so với Eray Copcu, và sự khác biệt này có thể là do số liệu của chúng tôi thu thập trên xác đã xử lý trong khi Eray Copcu nghiên cứu trên bệnh nhân. Theo Wang Tai-ling(15) thì càng có nhiều mô mỡ xơ trong khoang gian vòm thì khoảng cách giữa 2 điểm đỉnh mũi càng xa nhau, nên khoảng cách này trên người da màu lớn hơn chủng tộc da trắng. Bên cạnh đó, đầu mũi to hơn khi không có sự tham gia của sụn vách ngăn với trụ trong. Trong nghiên cứu của chúng tôi hoàn toàn không có sự tham gia của sụn vách ngăn với trụ trong. Theo George K Sun(9), những trường hợp không có mảng mỡ gian vòm thì 2 vòm liên kết chặt với nhau và trụ trong 2 bên dính sát nhau ít phân kỳ, trái lại những trường hợp nào có mảng mỡ gian vòm nhiều thì thường khoảng gian vòm rộng và 2 trụ trong phân kỳ và có thể trãi rộng lên đến vùng điểm gãy trên mũi. Có sự liên hệ mật thiết giữa khoảng gian vòm và trụ trong. Mảng mỡ gian vòm hiện diện kể cả ở những người da đầu mũi mỏng. Mảng mỡ gian vòm sẽ đóng góp làm cho đầu mũi to(2), tỉ lệ hiện diện mảng mỡ gian vòm theo nghiên cứu của K.J. Anderson(2) là 91,7%, chiều dày trung bình của mảng mỡ gian vòm ở nam là 0,38mm và nữ là 0,19mm, không có mối liên quan nào giữa trọng lượng cơ thể với khối lượng mảng mỡ gian vòm. Các kích thước này dường như nhỏ so với nghiên cứu của chúng tôi, gợi ý sự khác biệt do chủng tộc. Khoảng cách từ đỉnh mũi đến điểm gãy trên mũi trong nghiên cứu của chúng tôi là 11mm. Điểm gãy trên mũi rất quan trọng về mặt thẩm mỹ, bởi vì nó quyết định thể tích đầu mũi và thứ phát quyết định chiều dài sóng mũi(4). Theo Copcu(4) nhận thấy dây chằng gian vòm nằm ở phần trước của khoang gian vòm và dễ dàng quan sát được bằng mắt trần. Cấu trúc này được báo cáo đầu tiên bởi Pitanguy năm 1965. Nó nằm ở đường giữa và có thể kéo dài xuống trụ trong. Theo nghiên cứu của chúng tôi bề rộng dây chằng gian vòm 4,5mm, bề cao 3mm và dày khoảng 1,7mm. Sự dày lên của dây chằng gian vòm sẽ đóng góp làm cho đầu mũi Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Hội Nghị KH KT Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch Năm 2011 36 to và sự hiện diện của nó sẽ làm cho đầu mũi rớt xuống(2). Tác dụng của dây chằng gian vòm giúp nâng đỡ đầu mũi(3). Trong nghiên cứu của chúng tôi, khoang gian vòm có bề rộng khoảng 6mm, bề cao 3mm và sâu khoảng 1,5mm. Còn theo Eray Copcu(5) nghiên cứu trên 40 bệnh nhân, kích thước trung bình khoang gian vòm là 4,8mm. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy: - 100% trường hợp đều có lớp mỡ gian vòm trong khoang gian vòm; Dây chằng gian vòm hiện diện 100% liên kết 2 vòm với nhau. - Lớp mỡ gian vòm có độ dày ngay tại điểm giữa 1,1mm và mỏng ngay tại điểm đỉnh mũi khoảng 0,7mm. Dây chằng gian vòm có bề rộng 4,5mm, bề cao 3mm và dày khoảng 1,7mm. Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp các phẫu thuật viên thiết kế vật liệu độn sóng mũi theo kích thước phù hợp và cách đặt sóng so với vị trí dây chằng để đạt được đầu mũi mong muốn. Nghiên cứu này bổ sung số liệu nhân trắc và cũng có ý nghĩa học thuật đối với giải phẫu học. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lai A, Cheney ML. (2002): "External Nasal Anatomy and Its Application to Rhinoplasty." Aesthetic Plastic Surgery DOI: 10.1007/s00266-002-4313-7 © Springer-Verlag New York, Inc. 2. Anderson KJ, Henneberg M, Norris RM. (2008): “Anatomy of the nasal profile”. J. Anat. 213, pp210–216. 3. Ghavami A, Janis JE., Acikel C, Rohrich RJ. (2008) “Tip Shaping in Primary Rhinoplasty: An Algorithmic Approach”. Plast. Reconstr. Surg. 122: 1229. 4. Copcu E. Æ K., Metin Æ Y. Ozsunar, N. Culhaci Æ S. Ozkok. (2004): "The interdomal fat pad of the nose: a new anatomical structure." Surg Radiol Anat 26: 14–18 5. Copcu Eray. (2005): "Ultrasonography for Rhinoplasty." Current Medical Imaging Reviews, 2005, 1, 75-80 6. Pearson DC, Adamson PA. (2004): “The Ideal Nasal Profile: Rhinoplasty Patients vs the General Public”. Arch Facial Plast Surg.6:257-262. 7. Phạm Đăng Diệu. (2001): Giải phẫu đầu mặt cổ, NXB Y Học, trang 356-419. 8. Farkas Leslie G. (1994): “Anthropometry of the Head and Face”. Raven Press, 2nd Ed. 9. George K. Sun, Derek S. Lee, Alvin I. Glasgold. (2000): "Interdomal Fat Pad An Important Anatomical Structure in Rhinoplasty." Arch Facial Plast Surg. 2:260-263 10. Kyle S. Choe, Haresh R. Yalamanchili, Jason A. Litner, Anthony P. Sclafani, Vito C. Quatela, MD. (2006): “The Korean American Woman’s Nose: An In-depth Nasal Photogrammatic Analysis”. Arch Facial Plast Surg. 8:319-323. 11. Nguyễn Quang Quyền. (1995) Gỉai phẫu học tập 1, NXB Y Học, trang 121-122. 12. Sameer Ali Bafaqeeh. (2000): "Open Rhinoplasty: Effectiveness of Different Tipplasty Techniques to Increase Nasal Tip Projection." Am J Otolaryngol. 21:231-237 13. Steven Burres. (1999): " Tip Points: Defining the Tip." Aesth. Plast. Surg. 23:113–118. 14. Trần Thị Anh Tú. (2002): Nghiên cứu đặc điểm hình thái cấu trúc tháp mũi người Việt Nam trưởng thành. Luận án tiến sĩ y học, ĐHYD TP.HCM. 15. Wang Tai-ling, XUE Zhi-qiang, YU Da-shan, ZHANG Hai- ming, TANG Xiao-jun, WANG Jia-qi, YANG Xin, LUO Jia-lin and MA Ji-guang. (2009): "Rhinoplasty in Chinese: management of lower dorsum and bulbous nasal tip." Chin Med J;122(3):296- 300.
Tài liệu liên quan