Một số đề xuất giảng dạy học phần Toán giải tích cho sinh viên Đại học Nha Trang

Tạo niềm đam mê, hứng thú học tập cho sinh viên có vai trò rất quan trọng trong giáo dục đại học nói chung và là thử thách mà bất k giảng viên nào cũng gặp phải. Giải tích là học phần cơ bản của Toán học được giảng dạy ở bậc đại học, với kiến thức tương đối nhiều, học phần đòi hỏi tư duy logic và khả năng tính toán cao, mang tính học thuật nên nhiều sinh viên không cảm thấy hứng thú khi tham gia học học phần này dẫn đến kết quả học tập thấp.Vậy làm thế nào để tạo sự hứng thú cho sinh viên học tập học phần Giải tích, nâng cao kết quả học tập của sinh viên và từ đó nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Nha trang là vấn đề cần được thảo luận, nghiên cứu. Trong báo cáo này chúng tôi đưa ra một số đề xuất trong việc dạy và học tập học phần Giải tích phù hợp với đặc thù một trường Đại học kỹ thuật .

pdf5 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 09/06/2022 | Lượt xem: 13 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Một số đề xuất giảng dạy học phần Toán giải tích cho sinh viên Đại học Nha Trang, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
19 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT GIẢNG DẠY HỌC PHẦN TOÁN GIẢI TÍCH CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NHA TRANG ThS. Thái Bảo Khánh T án – K g g ệ T g ti Tóm tắt: Tạo niềm đam mê, hứng thú học tập cho sinh viên có vai trò rất quan trọng trong giáo dục đại học nói chung và là thử thách mà bất k giảng viên nào cũng gặp phải. Giải tích là học phần cơ bản của Toán học được giảng dạy ở bậc đại học, với kiến thức tương đối nhiều, học phần đòi hỏi tư duy logic và khả năng tính toán cao, mang tính học thuật nên nhiều sinh viên không cảm thấy hứng thú khi tham gia học học phần này dẫn đến kết quả học tập thấp.Vậy làm thế nào để tạo sự hứng thú cho sinh viên học tập học phần Giải tích, nâng cao kết quả học tập của sinh viên và từ đó nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Nha trang là vấn đề cần được thảo luận, nghiên cứu. Trong báo cáo này chúng tôi đưa ra một số đề xuất trong việc dạy và học tập học phần Giải tích phù hợp với đặc thù một trường Đại học kỹ thuật . Từ khóa: Giải t , ứ g t ú tr g t p, ất ượ g đà tạ . I. Đặt vấn đề Theo quyết định số 439/QĐ-ĐHNT, học phần Giải tích là học phần thuộc Chương trình khối giáo dục đại cương, được giảng dạy chung cho sinh viên năm thứ nhất trong các ngành (trừ ngành ngoại ngữ). Các tri thức về Giải tích đã được ứng dụng một cách rộng rãi. Bên cạnh việc trang bị các kiến thức cơ bản cho các học phần cơ sở, chuyên ngành như Kinh tế vi mô, Kinh tế vĩ mô, Kinh tế lượng, Cơ học lý thuyết, Vật lý, Hóa học,....và rèn luyện các thao tác tư duy như khái quát hóa, đặc biệt hóa, mô hình hóa, phát hiện và giải quyết vấn đề,...thì việc học Giải tích còn góp phần rèn luyện các kỹ năng như làm việc cụ thể, kỹ năng tự học,...Những kỹ năng này là một phần trong yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp mà “chuẩn đầu ra” của Nhà trường đặt ra. Nhưng dạy và học Giải tích như thế nào để đáp ứng chuẩn đầu ra chưa được quan tâm đúng mức. Kết quả học tập các môn Toán cao cấp nói chung và Giải tích nói riêng của sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Nha trang khá thấp và trong những năm gần đây có 20 xu hướng giảm. Có nhiều nguyên nhân từ phía sinh viên, từ phía giảng viên, chương trình đào tạo, nội dung môn học,...dẫn đến kết quả học tập học phần Giải tích chưa cao, trong đó có một nguyên nhân chính đó là si viê t iếu ứ g t ú tr g t p. Nhiều sinh viên xem Giải tích là học phần lý thuyết, ít thấy ứng dụng thực tế nên cho rằng học Toán ở đại học khô và khó, chẳng mấy tác dụng gì, thậm chí cũng có ý kiến ví von là học Giải tích như “đốt tiền để sưởi”. Kết quả là nhiều sinh viên rất sợ môn Toán, xem như một cửa ải hành xác phải vượt qua nên học khá miễn cưỡng, đối phó, gượng ép, không hứng thú dẫn đến kết quả thấp là điều tất yếu. Nhiều ý kiến đã lật lại vấn đề: Sinh viên mỗi ngành học nếu thấy được ứng dụng của Toán trong thực tế nói chung và ngành học của mình nói riêng thì sẽ thấy yêu thích, có hứng thú hơn trong học tập. Nhiều nhà khoa hoc đã tìm hiểu giải quyết vấn đề này như Cerventes (thế kỷ VI) đã có những tài liệu vận dụng toán logic để giải quyết nhiều bài toán thực tế; Murray Bourne xây dựng trang web ứng dụng toán www.intmath.com, và cuốn giáo trình Single variable caculus, 7th edition của James Stewart là một sự lựa chọn tốt. Trong khuân khổ của báo cáo này, chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm hình thành và phát huy sự đam mê, hứng thú trong học tập, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo học phần Giải tích cho sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Nha Trang. II. Một số giải pháp tạo hứng thú học tập cho học phần Toán giải tích. 1. Về nội dung học phần. Nội dung học phần Giải tích cần được hiệu chỉnh phù hợp với trình độ nhận thức của người học và đặc thù đào tạo kỹ thuật trong trường Đại học Nha Trang. Nội dung môn học cần giảm bớt mức độ khó về tính toán, ít đưa ra các ví dụ đòi hỏi nhiều kĩ thuật tính toán, thuật toán phức tạp mang nặng kiến thức hàn lâm mà tập trung chủ yếu vào một số dạng cơ bản, tính toán đơn giản, có ý nghĩa trong thực tiễn, có sự liên hệ giữa kiến thức cũ và mới để sinh viên có thể tư duy, tìm tòi, tránh gây ra cảm giác bu n chán, mệt mỏi khi học. Nội dung học phần phải gắn với thực tiễn, gắn với ngành nghề đang đào tạo trong trường là yếu tố quan trọng để sinh viên thấy sự cần thiết khi học học phần này. Từ đó xác định rõ động cơ học tập, hình thành sự hứng thú, niềm say mê học tập để 21 giải quyết những bài toán thực tế hằng ngày diễn ra hoặc những bài toán thực tế gắn với ngành nghề mình được đào tạo. 2. Về phía giảng viên Để hình thành và phát huy sự hứng thú học tập của sinh viên, người giảng viên phải tâm huyết, say mê và có trách nhiệm với công tác giảng dạy học phần vì chỉ khi mình yêu thích giảng dạy mới truyền được cảm hứng yêu thích say mê đó cho người học. Một giờ giảng mà giáo viên uể oải, dạy qua loa cho hết tiết thì không thể tạo cảm hứng cho người học, người học không thể say mê với học phần đó được. Ngoài ra giảng viên cần nắm bắt diễn biến tâm lý sinh viên trong giờ học để điều chỉnh nhịp độ giảng bài, tạo tâm lý thỏa mái, nhẹ nhàng trong giờ học. Bên cạnh đó, cần chú trọng tới xây dựng mối quan hệ tương tác, gần gũi với sinh viên. Bởi khi cảm thấy thân thiện, gần gũi, tin tưởng vào giảng viên, sinh viên mới trao đổi, chia sẻ những suy nghĩ, những vướng mắc trong việc học, từ đó ta mới nắm bắt được tâm lý, giúp đỡ, khơi gợi được hứng thú học tập ở các em. Tăng cường rèn luyện cho sinh viên kỹ năng giải quyết vấn đề thông qua việc dạy học phần Giải tích như trình bày các khái niệm thông qua các bài toán ứng dụng; tăng cường các ví dụ và bài tập theo hướng giải quyết các vấn đề cụ thể đặt ra;Tăng cường trang bị tri thức cho sinh viên dưới dạng quy trình 3 bước: mô hình hóa toán học, xử lý mô hình toán học và chuyển đổi kết quả để giải quyết các bài toán thực tiễn đơn giản. Chú trọng đến việc đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá. Đánh giá thường xuyên, đa dạng về hình thức như gọi lên bảng, đánh giá thông qua bài tập ở nhà, bài tập tiểu luận,...Việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên giúp phát hiện những vấn đề sinh viên còn yếu, những vấn đề sinh viên làm tốt để kịp thời điều chỉnh, động viên, khuyến khích sinh viên. Việc đánh giá đảm bảo tính khách quan, công bằng, công khai trong đánh giá để sinh viên thấy được trách nhiệm, thái độ học tập của bản thân ảnh hưởng đến kết quả học tập như thế nào. Từ đó họ mới chủ động, tích cực xây dựng động cơ, thái độ, phương pháp, mục tiêu học tập phù hợp. 3. Về phía sinh viên Để hình thành hứng thú học tập học phần Giải tích, bản thân sinh viên cũng phải chủ động tìm hiểu mục đích của học phần, xây dựng được động cơ học tập và học 22 tập với một thái độ tích cực chủ động, với tinh thần trách nhiệm cao. Sinh viên đặt ra các mục tiêu học tập để lên kế hoạch học tập và thực hiện kế hoạch đó với thái độ nghiêm túc; chủ động học hỏi từ bạn bè và thầy cô; chủ động tìm hiểu các ứng dụng của học phần trong thực tiễn và ngành nghề mình sẽ được đào tạo qua báo chí, tài liệu tham khảo, internet,... để hiểu về vai trò của học phần từ đó thêm yêu thích học phần và nỗ lực đạt kết quả cao. 4. Về phía quản lý Về phía Bộ môn: Phân công ít nhất 2 giảng dạy chuyên tham gia giảng dạy học phần liên quan đến chuyên ngành đào tạo.Khuyến khích giảng viên chủ động, tích cực nghiên cứu, phối hợp với các bộ môn cơ sở, chuyên ngành để tìm hiểu ứng dụng của học phần Giải tích với chuyên ngành đào tạo, từ đó xây dựng phần minh họa cho bài giảng mình tham gia giảng dạy thêm sinh động hơn. Cập nhật lại bài giảng theo các giáo trình nước ngoài mang tính ứng dụng kỹ thuật (như một số trường trong nước đã mua chương trình đào tạo của nước ngoài được người học chấp nhận: Đại học Duy Tân, Đại học Văn Lang, Đại học Công nghệ,...). ây dựng một ngân hàng các bài toán ứng dụng từ nhiều ngu n, từ đó lọc ra những bài toán chung, r i các bài toán riêng biệt cho từng ngành như kinh tế, kỹ thuật,...Cuối mỗi học k , tổ chức ôn tập cho sinh viên nhằm giúp giải đáp một số vấn đề mà sinh viên chưa nắm bắt kịp. Phòng Công tác Sinh viên, thông qua giáo viên cố vấn tổ chức thành lập các nhóm học tập, để các sinh viên có thể hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong học tập. Phòng Đào tạo xếp lịch học cho sinh viên năm thứ nhất theo nhóm ngành để trong quá trình giảng dạy giảng viên có thể thuận lợi trong triển khai minh họa phần ứng dụng theo từng nhóm ngành. Việc gắn kết ứng dụng Toán vào thực tiễn vấp phải những rào cản như giáo trình, bài giảng Toán ứng dụng tại Việt Nam còn rất ít, bên cạnh đó rào cản lớn nhất là tư duy bảo thủ, ngại cập nhật, ngại thay đổi của giảng viên. Để phá vỡ các rào cản đó cần có lộ trình thích hợp. Nhà trường cần có chế độ khuyến khích giảng viên tham gia các hoạt động giảng dạy và biên soạn giáo trình, bài giảng, tài liệu tham khảo. III. Kết luận. Một nguyên tắc marketing cần học tập là ”phải làm ra sản phẩm mà ã hội cần, đừng bắt ã hội mua sản phẩm mà mình có”. Việc dạy và học học phần Giải tích cũng 23 như các học phần trong khối giáo dục Đại cương khác, phải có sự liên kết, ứng dụng vào thực tế và các chuyên ngành khác chứ không nên cứ lý thuyết nhằm khuyến khích sự chủ động, sự hứng thú trong việc học của sinh viên, từ đó nâng cao kết quả học tập nói riêng và chất lượng giảng dạy sinh viên năm thứ nhất nói chung. Tuy nhiên, việc thực hiện phái có lộ trình, từ mục tiêu chung nhất đặt ra, đến việc lựa chọn kiến thức cho mỗi chuyên ngành riêng biệt. Tài liệu tham khảo. [1]. Bourne Murray: www.intmath.com. [2]. Mai Thị Ngọc Hà, Dạy T á ấp t e ướ g tạ ứ g t ú t p si viê Đại T ái guyê , 2015, tạp chí KH CN, Đại học Thái nguyên. [3]. Trần Văn Hoan, M t số p ươ g p áp rè uyệ kỹ ă g giải quyết vấ đề t g qu dạy T á ấp si viê k ối ki tế, 2016, tạp chí KH GD, Đại học Huế. [4]. GS. Nguyễn Tiến Dũng, M t số điều ê và k g ê tr g giả g dạy t á , Toulouse, 30/7/2012.