Nghiên cứu biến tính điện cực glassy carbon bằng chitosan polithyophene để xác định uric acid, xanthine, hypoxanthine

Chitosan polithyophene (CTs-PTH) được khử bằng điện hóa trên bề mặt điện cực glassy carbon (CTs-PTH(act)/GCE). Phương pháp von-ampe hòa tan anot xung vi phân (DP-ASV) được sử dụng để phân tích đồng thời acid uric, xanthine và hypoxanthine với điện cực CTs-PTH(act)/GCE. Điều kiện tối ưu đã được nghiên cứu là: lượng vật liệu: 2,5 L (1 mg/mL) μg, số vòng quét khử: 9, thế làm giàu: 0,6 V, thời gian làm giàu: 10 s, biên độ xung: 0,06 V. Kết quả cho thấy độ lặp lại tín hiệu tốt ở ba nồng độ chất phân tích khác nhau.

pdf12 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 16/06/2022 | Lượt xem: 72 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu biến tính điện cực glassy carbon bằng chitosan polithyophene để xác định uric acid, xanthine, hypoxanthine, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế Tập 13, Số 2 (2018) 39 NGHIÊN CỨU BIẾN TÍNH ĐIỆN CỰC GLASSY CARBON BẰNG CHITOSAN POLITHYOPHENE ĐỂ XÁC ĐỊNH URIC ACID, XANTHINE, HYPOXANTHINE Huỳnh Thị Linh Phương2, Đặng Thị Thanh Nhàn2, Trần Thanh Tâm Toàn1, Nguyễn Hải Phong1* 1 Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế 2 Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế *Email: nghaiphong62@gmail.com Ngày nhận bài: 20/9/2018; ngày hoàn thành phản biện: 01/10/2018; ngày duyệt đăng: 10/12/2018 TÓM TẮT Chitosan polithyophene (CTs-PTH) được khử bằng điện hóa trên bề mặt điện cực glassy carbon (CTs-PTH(act)/GCE). Phương pháp von-ampe hòa tan anot xung vi phân (DP-ASV) được sử dụng để phân tích đồng thời acid uric, xanthine và hypoxanthine với điện cực CTs-PTH(act)/GCE. Điều kiện tối ưu đã được nghiên cứu là: lượng vật liệu: 2,5 L (1 mg/mL) μg, số vòng quét khử: 9, thế làm giàu: 0,6 V, thời gian làm giàu: 10 s, biên độ xung: 0,06 V. Kết quả cho thấy độ lặp lại tín hiệu tốt ở ba nồng độ chất phân tích khác nhau. Từ khóa: acid uric, hypoxanthine, modified glassy carbon electrode, xanthine. 1. MỞ ĐẦU Xanthine (XA; 3,7-dihydropurine-2,6-dione) và hypoxanthine (HX; 1H-purin-6 (9H) -one) là các hợp trung gian; Trong khi đó, acid uric (UA; 7,9-dihydro-1H-purine- 2,6,8 (3H) -trione) là sản phẩm cuối cùng trong chuỗi chuyển hóa purin của thực vật và động vật [1]. Cơ chế này bắt đầu với sự phân hủy của adenosine triphosphate (ATP) thành adenosine diphosphate (ADP). Sau đó, ADP bị phân hủy thành adenosine monophosphate (AMP) và được chuyển đổi thành inosine monophosphate (IMP). IMP được chuyển thành inosine (IN), IN chuyển thành HX. Sau đó, HX được chuyển thành XA, và cuối cùng XA được chuyển thành UA [2]. Như vậy, cơ chế này là một quá trình phân hủy điển hình của ATP trong cá thịt sau khi chết [3]. Vì vậy, việc xác định UA, XA và HX là một vai trò quan trọng trong việc kiểm soát chất lượng cá và thịt. Hàm lượng HX được sử dụng để ước tính sự tươi của cá và thịt [4]. Việc xác định UA, XA và HX đã được thực hiện bằng các phương pháp phân tích sắc ký như sắc ký lỏng hiệu năng cao [5, 6, 7]. Nghiên cứu biến tính điện cực glassy carbon bằng chitosan polithyophene để xác định uric acid, xanthine, 40 Chitosan là một loại cation amino-polysaccharide thu được từ quá trình deacetyl hóa kiềm của chitin [8]. Cấu trúc hóa học của chitosan chứa amino phản ứng và các nhóm hydroxyl có thể được sử dụng cho các phản ứng hóa học [9]. Polythiophene là một polymer được nghiên cứu đáng kể, bởi vì tính chất điện hóa, phát quang, quang học do cấu trúc khung carbon liên kết p của polymer [10]. Từ những ưu điểm đó, sự kết hợp giữa chitosan và polythiophene được chọn để biến tính điện cực làm việc trong phương pháp phân tích điện hóa nhằm xác định đồng thời UA, XA và HX. 2. THỰC NGHIỆM 2.1. Hóa chất và thiết bị Các hóa chất sử dụng trong nghiên cứu là các hóa chất tinh khiết (PA): graphit, acid boric, acid acetic, acid photphoric, dinatri hydrophosphate, mononatri orthophosphate, paracetamol, caffein, acid ascorbic. Các thiết bị được sử dụng như sau: - Máy phân tích điện hóa CPA – HH5; - Điện cực glassy carbon và bình điện phân; - Các dụng cụ thuỷ tinh trước khi dùng bằng cách ngâm qua đêm trong dung dịch HNO3 2 M, sau đó siêu âm và rửa lại bằng nước cất 2 lần. 2.2. Tổng hợp chitosan polithyophene Lấy 1,3 mL thiophen và 20 mL nước vào bình cầu 2 cổ, sau đó tiến hành siêu âm trong 30 phút (dung dịch 1); Đặt bình cầu lên máy khuấy từ có điều nhiệt bằng glixerol ở 60 oC; Cân chính xác 42 gam CTs và 10 mL dung dịch axit CH3COOH, khuấy đều hỗn hợp (dung dịch 2); Hòa tan 4,13 g (NH4)2S2O8 trong 20 mL nước (dung dịch 3); Tiếp theo cho dung dịch 2 vào dung dịch 1. Cuối cùng cho từ từ dung dịch 3 vào hỗn hợp và khuấy từ liên tục trong 6 h, ở nhiệt độ là 60 oC. Kết quả thu được chitosan polythiophen (CTs-PTH). 2.3. Chuẩn bị và biến tính điện cực than thủy tinh Trước hết, chuẩn bị điện cực nền là điện cực đĩa than thủy tinh (GCE), có đường kính 2,8 ± 0,1 mm, điện cực GCE được mài bóng với bột Al2O3 có kích thước hạt (0,05 μm). Ngâm trong dung dịch HNO3 2 M, sau đó rửa bằng etanol, nước cất 2 lần, để khô tự nhiên ở nhiệt độ phòng. Lấy 2,5 µL dung dịch chứa chitosan polithyophene (CTs-PTH) nhỏ lên bề mặt điện cực GCE, để khô ở nhiệt độ phòng. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế Tập 13, Số 2 (2018) 41 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Đặc tính điện hóa của điện cực chứa CTs-PTH Phương pháp von-ampe vòng hòa tan (Cyclic Voltammmetric Stripping - CVS) được sử dụng để nghiên cứu đặc tính điện hóa của bốn chất phân tích là acid uric (UA), xanthine (XA), hypoxanthine (HX) và caffeine (CA) trên điện cực CTs-PTH/GCE. Kết quả các đường hòa tan trình bày ở Hình 1 cho thấy acid uric, xanthine, hypoxnthine và caffeine đều là bất thuận nghịch. Điều này được nhận thấy khi quét anot từ 0 V đến +1,6 xuất hiện cả bốn peak anot của UA, XA, HX cad CA. Song khí quét catot ngược lại từ +1,6 V đến 0 V không thấy xuất hiện bất kỳ peak nào. -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 1.8 -10 0 10 20 30 40 I /   E / V Hình 1. Các đường CVS của UA, XA, HX và CA sử dụng điện cực CTs-PTH/GCE. Điều kiện thí nghiệm (ĐKTN): Đệm PBS 0,2 M (pH = 7); CUA = CXA = CHX = CCA = 3.10-4 M; VCTs-PTH = 2,5 µL; Erange 0 ÷ +1,6 V; Eacc = -0,6 V; tacc = 10 s; trest = 5 s; v = 200 mV/s. 3.2. Lựa chọn điện cực làm việc Phương pháp von-ampe vòng hòa tan (CVS) và von-ampe hòa tan anot xung vi phân (DP-ASV) được dùng để nghiên cứu với 3 loại điện cực: glassy carbon (GCE), glassy carbon biến tính bởi chitosan polythiophene (CTs-PTH/GCE), glassy carbon biến tính bởi chitosan polythiophene dạng khử bằng điện hóa (CTs-PTH(act)/GCE). Điện cực CTs-PTH/GCE, CTs-PTH(act)/GCE được chuẩn bị bằng cách sử dụng kỹ thuật phủ vật liệu chitosan polythiophene (phân tán trong nước) lên bề mặt điện cực GCE sau đó để khô ở nhiệt độ phòng (CTs-PTH/GCE). Tiếp theo, CTs-PTH bị khử thành CTs-PTH(act) bằng phương pháp von-ampe vòng (CTs-PTH(act)/GCE). Thí nghiệm được tiến hành như sau: dung dịch nghiên cứu có thể tích 10 mL bao gồm: đệm PBS 0,2 M (pH = 7), nồng độ UA, XA, HX và CA là 3.10-4 M . Tiến hành quét CV và DP-ASV, mỗi lần quét lặp lại 4 lần. Kết quả trình bày ở Hình 2. Nghiên cứu biến tính điện cực glassy carbon bằng chitosan polithyophene để xác định uric acid, xanthine, 42 -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 1.8 -5 0 5 10 15 20 25 30 35 40 I /  A E / V GCE CTs-PTH/GCE CTs-PTH(act)/GCE (a) -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 22 24 26 28 30 I /  A E / V GCE CTs-PTH/GCE CTs- PTH(act)/GCE GCE PTH/GCE PTH(act)/GCE 0 2 4 6 8 10 12 14 UA XA HX CA (b) Hình 2. Các đường CVS (a) và DP-ASV (b) của UA, XA, HX và CA sử dụng các loại điện cực khác nhau. ĐKTN: CVS: như ở hình 1. DP-ASV với Erange = 0 ÷ +1,6 V; Ustep = 5 mV; tstep = 0,3 s; Eacc = -0,6 V; tacc = 10 s; trest = 5 s; v = 200 mV/s. Hình 2-a cho thấy, với phương pháp CV, cả 3 điện cực đều cho tín hiệu dòng đỉnh hòa tan của cả bốn chất phân tích. Tuy nhiên, ở điện cực CTs-PTH(act)/GCE cho tín hiệu dòng đỉnh hòa tan cao hơn hai điện cực GCE và CTs-PTH/GCE, điều này chứng tỏ rằng chitosan polythiophen dạng khử có ưu điểm vượt trội hơn chitosan polythiophen khi ứng dụng phân tích đồng thời UA, XA, HX và CA. Kết luận này một lần nữa được khẳng định tính chất điện hóa cao hơn so với điện cực GCE và CTs- PTH/GCE qua kết quả phân tích khi sử dụng phương pháp DP-ASV (Hình 2-b) và do đó, điện cực CTs-PTH(act)/GCE được lụa chọn cho các nghiên cứu tiếp theo. 3.3. Lựa chọn điều kiện biến tính điện cực 3.3.1. Ảnh hưởng của lượng vật liệu Lượng vật liệu là yếu tố rất quan trọng trong quá trình biến tính điện cực, lượng CTs-PTH trên bề mặt điện cực GCE khác nhau sẽ cho tín hiệu hòa tan khác nhau. Để chứng tỏ điều này, thí nghiệm được tiến hành với lượng vật liệu CTs-PTH dùng để biến tính lên điện cực GCE trong khoảng thể tích dung dịch từ 0,5 μL đến 12,5 µL. ết quả khảo hàm lượng CTs-PTH trên Hình 3-b cho thấy khi lượng vật liệu vượt quá 2,5 μL thì cường độ tín hiệu hòa tan giảm (Hình 3), nguyên nhân là do khi tăng lượng vật liệu biến tính thì số lượng tâm hoạt động trên điện cực lớn, điều này tỉ lệ thuận với cường độ tín hiệu Ip, tức là khi số lượng tâm hoạt động lớn, làm tăng khả năng lôi kéo chất phân tích lên bề mặt điện cực nên cường độ tín hiệu cao nhưng khi lượng CTs-PTH trên điện cực nền GCE lớn ( > 2,5 µL) thì tạo thành mạng đa lớp và vì vậy, cường độ tín hiệu Ip cũng giảm dần. Do đó, 2,5 µL là lượng vật liệu được chọn cho các khảo sát tiếp theo. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế Tập 13, Số 2 (2018) 43 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 I /  A E / V 0.5 2.5 5 7.5 10 12.5(a) -2 0 2 4 6 8 10 12 14 0 2 4 6 8 10 12 14 UA XA HX CA Löôïng vaät lieäu / g Ip /  A (b) Hình 3. Các đường DP-ASV(a) và cường độ dòng đỉnh (b) khi sử dụng các lượng vật liệu khác nhau. ĐKTN: như ở hình 2. 3.3.2. Ảnh hưởng của số vòng khử vật liệu CTs-PTH -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 I /  A E / V 1 3 6 9 12 15 (a) 0 3 6 9 12 15 18 0 2 4 6 8 10 12 14 UA XA HX CA Soá voøng hoaït hoùa I p /  A (b) Hình 4. Các đường DP-ASV(a) và cường độ dòng đỉnh (b) tại các vòng hoạt hóa khác nhau. ĐKTN như ở hình 2. Kết quả Hình 4 cho thấy: ở vòng khử đầu tiên, đã cho tín hiệu dòng đỉnh hòa tan của cả 4 chất phân tích. Tín hiệu hòa tan (IP) của UA, XA , HX, CA cao nhất ở vòng khử 9, còn ở các số vòng khử lớn ( > 9) CA, HX có cường độ Ip thay đổi không đáng kể. Do đó, 9 vòng quét khử được chọn cho các khảo sát tiếp theo. 3.4. Ảnh hư ng của c c th ng th t on-ampe x ng i phân đến tín hiệu hòa tan 3.4.1. Ảnh hưởng của thế làm giàu Từ kết quả ở Hình 5, cho thấy: Eacc = -0,6 V thì khả năng tách peak là tốt nhất, đồng thời sai số của tín hiệu Ip tương ứng với chất phân tích nhỏ. Do vậy, thế làm giàu là -0.6 V là được lựa chọn. Nghiên cứu biến tính điện cực glassy carbon bằng chitosan polithyophene để xác định uric acid, xanthine, 44 -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20 I /   E / V 0.2 -0.2 -0.6 -1 -1.4 -1.8(a) -2.1 -1.8 -1.5 -1.2 -0.9 -0.6 -0.3 0.0 0.3 0.6 0 2 4 6 8 10 12 14 16 (b) I /  A E / V UA XA HX CA Hình 5. Các đường DP-ASV của UA, XA HX, CA (a) và sự biến động của Ip (b) ở các thế làm giàu khác nhau. ĐKTN như ở hình 2, CUA = CXA = CHX = CCA = 2.10-4 M. 3.4.2. Ảnh hưởng thời gian làm giàu Thời gian làm giàu có ảnh hưởng rất lớn đến tín hiệu hòa tan của chất phân tích. hi tăng thời gian làm giàu thì tín hiệu hòa tan tăng. Song, ở thời gian làm giàu lớn, bề mặt điện cực bị bão hòa chất phân tích thì tín hiệu hòa tan tăng không đáng kể. Chính vì thế việc khảo sát thời gian làm giàu nhằm mục đích chọn ra thời gian thích hợp mà tại đó đáp ứng được yêu cầu là tín hiệu hòa tan cao nhưng thời gian phân tích không tốn quá nhiều. Để tiến hành khảo sát thời gian làm giàu ch ng tôi tiến hành như sau: ghi đường von ampe hòa tan của các chất phân tích tại các thời gian làm giàu khác nhau (0, 2, 5, 10, 15, 20 và 30 s). Kết quả thu được ở Hình 6. -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 0 2 4 6 8 10 12 I /  A E / V 0 2 5 10 15 20 30 (a) -5 0 5 10 15 20 25 30 35 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 1.8 2.0 I /   E / V UA XA HX CA (b) Hình 6. Các đường DP-ASV (a) và sự biến động của Ip (b) với các thời gian làm giàu khác nhau. ĐKTN như ở hình 2, CUA = CXA = CHX = 2.10-5 M và CCA = 4.10-5 M; Eacc = -0,6 V. Từ kết quả Hình 6 cho thấy: hi tăng thời gian làm giàu từ 0 s đến 10 s, thì cường độ dòng đỉnh tăng. Tiếp tục tăng thời gian làm giàu thì dòng đỉnh hòa tan gần như không đổi. Do vậy để tiết kiệm thời gian phân tích 10 s được chọn cho các nghiên cứu tiếp theo. TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế Tập 13, Số 2 (2018) 45 3.4.3. Ảnh hưởng của biên độ xung iên độ xung có ảnh hưởng rất lớn đến tín hiệu hòa tan của chất phân tích. Nếu biên độ xung nhỏ thì dòng đỉnh hòa tan sẽ thấp, biên độ xung lớn thì dòng đỉnh hòa tan cao đồng thời chân đỉnh doãng rộng làm giảm mức độ chọn lọc hay khả năng tách đỉnh hòa tan và định lượng đồng thời các chất phân tích. Do đó, việc chọn biên độ xung hợp l sẽ quyết định đến khả năng phân tích của phương pháp. Chính vì điều này ch ng tôi tiến hành khảo sát biên độ xung bằng cách ghi dòng đỉnh hòa tan của các chất phân tích ở các biên độ xung khác nhau. ết quả thu được ở Hình 7. -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 0 5 10 15 20 25 I /  A E / V 0.04 0.05 0.06 0.07 0.08 0.09 0.1 (a) 0.03 0.04 0.05 0.06 0.07 0.08 0.09 0.10 0.11 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 1.6 1.8 2.0 UA XA HX CA I /  A Bieân ñoä xung / V (b) Hình 7. Các đường DP-ASV (a) và dòng đỉnh hòa tan (b) tại các biên độ xung khác nhau.. Các giá trị được đo lặp lại 4 lần. ĐKTN như ở hình 6; tacc = 10 s. Từ kết quả ở Hình 7 cho thấy, khi biên độ xung bằng 0,05 và 0,07 V thì khả năng tách peak tốt nhất, tuy nhiên, ở biên độ xung 0,06 V thì sai số nhỏ hơn. Vì vậy, biên độ xung bằng 0,07 V được lựa chọn. 3.5. Đ nh gi độ tin c y của phương ph p 3.5.1. Độ lặp lại của dòng đỉnh hòa tan Độ lặp lại của Ip trên điện cực CTs-PTH(act)/GCE được xác định qua độ lệch chuẩn tương đối (relative standard deviation, RSD). Để đánh giá độ lặp lại của Ip, tiến hành ghi đo lặp lại 8 lần với 3 nồng độ khác nhau. ết quả được trình bày trong Hình 8 và Bảng 1. Bảng 1. Các giá trị Ip,TB, RSD và RSDH ở 3 nồng độ khác nhau theo phương pháp DP-ASV C (M) Ip,TB(µA)(b) RSD, (%) ½.RSDH (%) (c) TN 1(a) [UA]= 5.10-5 1,793 2,005 5,807 [XA]= 5.10-5 3,906 0,943 5,895 [HX] = 5.10-5 2,139 1,297 5,994 TN 2 [UA]=10-5 1,203 1,637 7,398 [XA]=10-5 1,522 1,501 7,511 [HX] =10-5 0,683 3,455 7,637 TN 3 [UA]= 5.10-6 0,693 4,247 8,212 Nghiên cứu biến tính điện cực glassy carbon bằng chitosan polithyophene để xác định uric acid, xanthine, 46 [XA]= 5.10-6 0,675 1,737 8,337 [HX] = 5.10-6 0,270 4,895 8,477 (a): Số thí nghiệm; (b) Giá trị IP trung bình (n = 8); (c): độ lệch chuẩn tương đối tính theo hàm Horwitz. -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 2 3 4 5 6 7 8 9 10 I /  A E / V TN1 -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 2 3 4 5 6 7 8 9 I /  A E / V TN2 -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 2 3 4 5 6 7 8 9 I /  A E / V TN3 Hình 8. Các đường DP-ASV ở ba nồng độ UA, XA và HX với ba thí nghiệm khác nhau. ĐKTN như ở hình 7; E = 0,07 V. Dựa vào kết quả ở Hình 8 và Bảng 1 có thể cho rằng độ lặp lại của IP đối với ba chất UA, XA và HX là rất tốt, dao động từ 0,94 % đến 4,89 %. Mặt khác, khi so sánh RSD ở các thí nghiệm với ½RSDH ở các nồng độ tương ứng đều nhỏ hơn và như vậy, nhận thấy độ lặp lại của IP trong phương pháp DP-ASV sử dụng điện cực biến tính CTs- PTH(act)/GCE là toàn toàn chấp nhận được. 3.5.2. Khoảng tuyến tính Việc xác định khoảng tuyến tính của phương pháp DP-ASV dùng điện cực biến tính CTs-PTH(act)/GCE đối với UA, XA và HX, tiến hành thêm chuẩn đồng thời UA, XA và HX. Kết quả thu được ở hình 9. -0.4 -0.2 0.0 0.2 0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4 0 2 4 6 8 10 12 I /  A E / V (a) 0.0 3.0x10 -5 6.0x10 -5 9.0x10 -5 1.2x10 -4 0 1 2 3 4 5 UR XA HX I /   E / V (b) Hình 9. Các đường DP-ASV của UA, XA và HX ở các nồng độ thêm chuẩn đồng thời khác nhau (a), Các đường hồi quy tuyến tính biểu diễn mối tương quan giữa IP và nồng độ của UA, XA và HX (b). Từ hình 9-a, thiết lập các phương trình hồi quy tuyến tính đối với UA, XA và HX ở hai khoảng nồng độ thu được các phương trình sau: TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế Tập 13, Số 2 (2018) 47 UA: Ip1,UA = (0,16 ± 0,03) + (77788 ± 4078)CUA ; r = 0,996 Ip2,UA = (0,15 ± 0,03) + (106311 ± 4173)CUA ; r = 0,998 XA: Ip1,XA = (-0,009 ± 0,016) + (49202 ± 2411)CXA ; r = 0,996 Ip2,XA = (1,0 ± 0,2) + (14881 ± 2653)CXA ; r = 0,955 HX: Ip1,HX = (1,1 ± 0,3) + (42685 ± 4782)CHX ; r = 0,981 Ip1,HX = (0,4 ± 0,2) + (30625 ± 3023)CHX ; r = 0,986 Từ các kết quả ở trên, cho thấy có thể xác định đồng thời UA, XA và HX trong mẫu thực tế. 4. KẾT LUẬN Kỹ thuật von-ampe hòa tan anot xung vi phân (DP-ASV) đã được sử dụng để khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến tín hiệu của acid uric, xanthine và hypoxanthine với điện cực biến tính GCE bằng CTs-PTH. Những khảo sát bước đầu về điều kiện biến tính điện cực bằng vật liệu CTs-PTH và tối ưu thông số máy làm việc cho thấy khả năng ứng dụng điện cực CTs-PTH(act)/GCE để phân tích đồng thời acid uric, xanthine và hypoxanthine; Đồng thời kết quả cũng cho thấy tín hiệu hòa tan ổn định ở các nồng độ chất phân tích khác nhau. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Yamamoto T., Moriwaki Y., Takahashi S. (2005), Effect of ethanol on metabolism of purine bases (hypoxanthine, xanthine, and uric acid), Clinica Chimica Acta, Vol. 356, No 1– 2, pp. . 35–57. [2]. Mulchandani A., Luong J.H.T., Male K.B. (1989), Development and application of a biosensor for hypoxanthine in fish extract, Analytica Chimica Acta, Vol. Tập 221, pp 215– 222. [3]. Nakatani H.S., dos Santos L.V., Pelegrine C.P., et al. (2005), Biosensor based on xanthine oxidase for monitoring hypoxanthine in fish meat, American Journal of Biochemistry and Biotechnology, Vol. 1, No 2, pp. 85–89. [4]. Cayuela G., Pena N., Reviejo A.J., et al. (1998), Development of a bienzymic graphite– Teflon composite electrode for the determination of hypoxanthine in fish, Analyst, Vol. 123, No 2, pp. 371–377. [5]. Don Farthing , Domenic Sica , Todd Gehr , Bill Wilson , Itaf Fakhry , Terri Larus , Christine Farthing , H. Thomas Karnes (2007), An HPLC method for determination of inosine and hypoxanthine in human plasma from healthy volunteers and patients presenting with potential acute cardiac ischemia, Journal of Chromatography B, Vol. 854 , pp. 158–164. Nghiên cứu biến tính điện cực glassy carbon bằng chitosan polithyophene để xác định uric acid, xanthine, 48 [6]. Adriana Tamba, Bogdan Cioroiu, Lenuta Profire, Mihai Ioan Lazar (2012), HPLC method for the evaluation of chromatographic condition for separation of new xanthine derivatives, Cellulose Chemistry and Technology, Vol. 48, pp. 61-68. [7]. Azzedine Zhiri, Odile Houot, Maria Wellman-Bednawska, Gerard Slest (1965), Simultaneous Determination of Uric Acid and Creatinine in Plasma by Reversed-Phase Liquid Chromatography, Clinical chemistry, Vol. 31, No 1, pp. 109-112 . [8]. Molinaro G., Leroux J.-C., Damas J., et al. (2002), Biocompatibility of thermosensitive chitosan-based hydrogels: an in vivo experimental approach to injectable biomaterials, Biomaterials, Vol. 23, No 13, pp 2717–2722. [9]. Huang R.Y.M., Moon G.Y., Pal R. (2001), Chitosan/anionic surfactant complex membranes for the pervaporation separation of methanol/MTBE and characterization of the polymer/surfactant system, Journal of Membrane Science, Vol. 184, No 1, pp. 1–15. [10]. Lee J.M., Lee S.J., Jung Y.J., et al. (2008), Fabrication of nano-structured polythiophene nanoparticles in aqueous dispersion, Current Applied Physics, Vol. 8, No 6, pp. 659–663. STUDY ON MODIFIED OF GLASSY CARBON ELECTRODE WITH CHITOSAN POLITHYOPHENE FOR DETERMINATION OF URIC ACID, XANTHINE AND HYPOXANTHINE Huynh Thi Linh Phuong2, Dang Thi Thanh Nhan2, Tran Thanh Tam Toan1, Nguyen Hai Phong1 1University of Sciences, Hue University 2University of Educ