Nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn
của tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát
tại Việt Nam từ quý I năm 2004 đến quý II
năm 2017. Đồng thời, nghiên cứu xem xét tác
động của tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm
phát trong điều kiện nền kinh tế có đôla hóa
ở Việt Nam. Nghiên cứu dựa trên học thuyết
tiền tệ cổ điển của Irving Fisher và kế thừa
mô hình của Steiner (2009), bằng cách tiếp
cận mô hình tự hồi quy phân phối trễ và dùng
mô hình hiệu chỉnh sai số ECM. Kết quả hồi
quy phân phối trễ từ phương trình sai phân
cho thấy, hệ số sai số phương trình ECM là
-0.25. Qua đó, cho thấy khi các yếu tố vĩ mô
thay đổi trong đó có tích lũy dự trữ ngoại hối,
thời gian lạm phát trở về trạng thái cân bằng
trong dài hạn là khoảng một năm. Bên cạnh
đó, kết quả phân tích dài hạn cho thấy tích lũy
dự trữ ngoại hối tác động cùng chiều đến lạm
phát tại Việt Nam.
12 trang |
Chia sẻ: hadohap | Lượt xem: 505 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem nội dung tài liệu Tác động tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát tại Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
61
TÁC ĐỘNG TÍCH LŨY DỰ TRỮ NGOẠI HỐI ĐẾN LẠM PHÁT
TẠI VIỆT NAM
Nguyễn Thị Kim Phụng*, Hoàng Thị Thanh Hằng **
TÓM TẮT
* ThS.GV. Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
** TS.GV. Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn
của tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát
tại Việt Nam từ quý I năm 2004 đến quý II
năm 2017. Đồng thời, nghiên cứu xem xét tác
động của tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm
phát trong điều kiện nền kinh tế có đôla hóa
ở Việt Nam. Nghiên cứu dựa trên học thuyết
tiền tệ cổ điển của Irving Fisher và kế thừa
mô hình của Steiner (2009), bằng cách tiếp
cận mô hình tự hồi quy phân phối trễ và dùng
mô hình hiệu chỉnh sai số ECM. Kết quả hồi
quy phân phối trễ từ phương trình sai phân
cho thấy, hệ số sai số phương trình ECM là
-0.25. Qua đó, cho thấy khi các yếu tố vĩ mô
thay đổi trong đó có tích lũy dự trữ ngoại hối,
thời gian lạm phát trở về trạng thái cân bằng
trong dài hạn là khoảng một năm. Bên cạnh
đó, kết quả phân tích dài hạn cho thấy tích lũy
dự trữ ngoại hối tác động cùng chiều đến lạm
phát tại Việt Nam.
Từ khóa: Dự trữ ngoại hối, lạm phát, đô la
hóa, ARDL Bound test.
IMPACTS OF ACCUMULATING FOREIGN EXCHANGE RESERVES
ON INFLATION IN VIETNAM
ABSTRACT
The study evaluates the long-term impact
of foreign exchange reserves accumulation
on inflation in Vietnam from the first quarter
of 2004 to the second quarter of 2017. At the
same time, the study examines the impact
of foreign exchange reserves accumulation
on inflation in the context of a dollarized
economy in Vietnam. The study has been
based on Irving Fisher’s classic monetary
theory and inherited Steiner’s model (2009),
by approaching the late-stage regression
model and using the ECM error correction
model. The regression result from the
differential equation shows that the coefficient
of error of the ECM equation is -0.25. This
suggests that when macroeconomic variables
change, including the accumulation of foreign
exchange reserves, the return to equilibrium
in the long run is about one year. In addition,
long-term analysis shows that accumulation
of foreign exchange reserves has the same
effect on inflation in Vietnam.
Key words: Foreign exchange reserves,
inflation, dollarization, ARDL Bound test.
1. GIỚI THIỆU
Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng kiến
những cuộc khủng hoảng rất nghiêm trọng
như khủng hoảng tài chính ở Đông Á năm
1997, hay khủng hoảng tài chính toàn cầu
năm 2008. Các mức độ nghiêm trọng của
các cuộc khủng hoảng và sự phụ thuộc vào
tác động tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát...
62
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật
khu vực tài chính bên ngoài với những điều
kiện liên quan của nó đã dẫn đến Chính phủ
các nước phải tăng sự bảo hiểm cho chính
quốc gia của họ (Denbee &ctg, 2016). Dự
trữ cao giúp giảm tác động của cuộc khủng
hoảng đối với tăng trưởng tại các thị trường
mới nổi (Moghadam & ctg, 2010). Với xu thế
đó, hiện nay, dự trữ ngoại hối tiếp tục được
đánh giá cao trong an toàn tài chính toàn cầu.
Theo IMF (2016), những mục tiêu chính của
Mạng lưới An Toàn Tài Chính Toàn Cầu
(The Global Financial Safety Net - GFSN)
gồm: Cung cấp bảo hiểm cho các nước chống
lại một cuộc khủng hoảng, tài trợ tài chính
khi khủng hoảng xảy ra và khuyến khích các
chính sách kinh tế vĩ mô. Trong đó, dự trữ
ngoại hối là một thành phần truyền thống
quan trọng của GFSN. Đây là công cụ đầu
tiên để chống lại những cú sốc thanh khoản
từ bên ngoài của mỗi quốc gia. Mặc khác, dự
trữ ngoại hối là một biểu trưng sức khỏe tài
chính, giúp các nước đang phát triển và các
nền kinh tế mới nổi xâm nhập thị trường quốc
tế bằng cách tăng độ tin cậy của quốc gia và
niềm tin của nhà đầu tư (Drummond &ctg,
2009; Nowak&ctg, 2004). Ở Việt Nam, dự
trữ ngoại hối trong những năm gần đây có xu
hướng tích lũy tăng lên (hình 1). Tuy nhiên,
tích lũy dự trữ ngoại hối làm tăng tiền cơ sở
và cung tiền mở rộng nếu không được NHTW
can thiệp trung hòa đầy đủ dẫn đến lạm phát
nền kinh tế tăng (Heller, 1979; Stenier, 2017),
mà lạm phát vốn là một trong những chỉ tiêu
kinh tế vĩ mô cần phải được kiểm soát, quản
lý. Điều này đặt ra nhiều khó khăn, thách
thức cho NHTW các nước khi tích lũy dự trữ
ngoại hối, phải làm sao tăng dự trữ nhưng
không để lạm phát tăng, ảnh hưởng đến kinh
tế. Như vậy, việc nghiên cứu tác động của
tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát là một
điều rất cần thiết đối với Việt Nam trong quá
trình mở cửa, hội nhập tài chính.
Hình 1. Biến động tổng dự trữ ngoại hối của Việt Nam từ quý I/2004 đến quý I/2017
Nguồn: IFS 2018
Đã có một số nghiên cứu phân tích mối
liên hệ này dưới cấp độ quốc gia và nhóm quốc
gia như các nghiên cứu của Heller (1979),
Khan (1979), Lin & Wang (2005), Elhiraika &
Ndikumana (2007), Steiner (2009), Borivoje
& Tina (2015), Chaudhry và cộng sự (2011),
Chen & Huang (2012), Zhou và cộng sự (2013),
Phạm Thị Tuyết Trinh (2015),vv Tuy nhiên,
chưa có nghiên cứu nào xét đến đặc trưng nền
kinh tế mỗi quốc gia, trong đó đặc trưng nền
kinh tế Việt Nam là nền kinh tế có đô la hóa. Đo
đó, nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá
tác động của tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm
phát trong nền kinh tế có đô la hóa.
63
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN
CỨU THỰC NGHIỆM
2.1. Cơ sở lý thuyết
Sự gia tăng dự trữ quốc tế dẫn đến sự thay
đổi cung tiền của một quốc gia, và sự gia tăng
cung tiền tác động đến lạm phát của quốc gia
đó. Cơ chế này được giải thích rõ qua hai gian
đoạn như sau:
Một là, tác động của tích lũy dự trữ quốc tế
đến cung tiền. Để xem xét tác động của tích lũy
dự trữ quốc tế đến cung tiền, trước hết chúng ta
hãy xem xét mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trên
bảng cân đối tiền tệ của NHTW (bảng 1).
Bảng 1. Bảng cân đối tiền tệ tóm tắt của NHTW
Tài sản có nước ngoài ròng (Net foreign assets – NFA)
Tài sản có nước ngoài
Tài sản nợ nước ngoài
Tài sản có trong nước ròng (Net Domestic assets – NDA)
Tín dụng trong nước ròng
+ Cho chính phủ vay ròng
+ Cho tổ chức tín dụng vay
Khoản khác ròng
Tiền cơ sở (Monetary Bases)
Tiền trong lưu thông
Tiền gửi của TCTD
Nguồn: Thống kê tiền tệ của IMF
Trong bảng cân đối tiền tệ của NHTW,
các chỉ tiêu được tính cụ thể như sau:
y Tài sản có nước ngoài ròng = Tài sản Có
nước ngoài – Tài sản Nợ nước ngoài (1)
y Tài sản có trong nước ròng = Tín dụng trong
nước ròng + Khoản khác ròng (2)
y Tiền cơ sở = Tiền trong lưu thông + Tiền
gửi của TCTD tại NHTW (3)
Bảng trên cho ta phương trình sau:
y Tiền cơ sở = Tài sản có nước ngoài ròng
+ Tài sản có trong nước ròng
Hay MB = NFA + NDA (4)
Từ phương trình (4) cho ta thấy, giả sử
các yếu tố khác không thay đổi, khi NHTW
tích lũy dự trữ ngoại hối sẽ làm cho Tài sản có
nước ngoài ròng tăng lên một lượng ∆NFA.
do đó, làm cho tiền cơ sở tăng lên một lượng
(∆MB). Mặt khác, cung tiền phụ thuộc vào
hai yếu tố: Số nhân tiền tệ (mm) và tiền cơ
sở (MB).
Ms = mm.MB. (5)
Như vậy, khi tiền cơ sở MB tăng lên thì
cung tiền Ms cũng tăng lên. Khẳng định mối
quan hệ đồng biến giữa tích lũy dự trữ quốc
tế và cung tiền được thể hiện trong các nghiên
cứu thực nghiệm của Heller (1976), Khan
(1979), Steiner (2009), Zhou & ctg (2013).
Hai là, tác động của cung tiền đến lạm
phát. Tác động của cung tiền đến lạm phát
trước hết được giải thích thông qua học thuyết
số lượng tiền tệ cổ điển của Ivring Fisher.
Fisher (1922) xem xét mối quan hệ giữa tổng
lượng tiền tệ Ms (cung tiền tệ) với tổng số chi
tác động tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát...
64
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật
tiêu để mua hàng thành phẩm và dịch vụ được
sản xuất ra trong nền kinh tế P*Y, trong đó
P là mức giá cả và Y là tổng sản phẩm. Mối
quan hệ giữa Ms và P*Y được thể hiện qua
chỉ tiêu tốc độ vòng quay tiền tệ V = P*Y/M.
Theo đó, phương trình 6 và phương trình 7 thể
hiện mối liên hệ giữa thu nhập đến số lượng
tiền và tốc độ vòng quay tiền tệ.
Ms *V = P*Y (6)
Suy ra: P = Ms *V/Y (7)
Trong khoảng thời gian ngắn thì tốc độ
vòng quay tiền tệ là khá bất biến. Hơn nữa,
tiền lương và giá cả là hoàn toàn linh hoạt, cho
nên mức tổng sản phẩm được sản xuất trong
nền kinh tế (Y) thường sẽ giữ ở mức công ăn
việc làm đầy đủ, do vậy Y có thể được coi
là không thay đổi trong một khoản thời gian
ngắn. Như vậy, khi Ms tăng, vì V và Y không
đổi, thì P cũng phải tăng. Do đó, những sự
vận động trong mức giá cả chỉ là kết quả của
những thay đổi trong số lượng tiền tệ. Hay nói
một cách khác, khi cung tiền tăng thì giá cả sẽ
tăng và như vậy lạm phát tăng.
Bên cạnh đó, đã có nhiều nghiên cứu thực
nghiệm xác nhận tác động mạnh mẽ tác động
của cung tiền đến lạm phát từ trước đến nay
như McCandless & Weber (1995), Nassar
(2005), Hossain (2010) ,Nguyen ( 2015)
Tóm lại, tác động của tích lũy dự trữ ngoại
hối đến lạm phát có thể được tóm tắt qua sơ
đồ sau:
Dự trữ ngoại hối Tiền cơ sở Cung tiền Lạm phát
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm
Các nghiên cứu trước đây khi đánh giá tác
động tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát
thường tiếp cận phân tích trên phạm vi toàn
thế giới hay một nhóm quốc gia hoặc từng
quốc gia.
Đối với các nghiên cứu phân tích trên
phạm vi toàn thế giới như của Heller (1976).
Tác giả dùng số liệu từ năm 1951-1974 của
126 quốc gia thành viên của IMF và Thụy Sỹ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thay đổi dự trữ
quốc tế toàn cầu có một tác động rõ nét đến
tổng cung tiền trên thế giới. Mặt khác, khi uớc
lượng trực tiếp sự thay đổi dự trữ quốc tế toàn
cầu đến giá tiêu dùng thế giới tác giả đã tìm
thấy một mối liên hệ có độ trễ đáng kể giữa hai
biến quan trọng này. Cùng cho kết quả tương
tự, đó là tích lũy dự trữ ngoại hối tác động
đến lạm phát nhưng ở các mức độ khác nhau,
bao gồm các nghiên cứu tiêu biểu của Khan
(1979), Rabin &Pratt (1981), Heller (1979),
Steiner (2009) và Steiner (2017).
Đối với các nghiên cứu tập trung vào nhóm
quốc gia như của Lin & Wang (2005), Kydland
và Prescott (1977) đã nghiên cứu về dự trữ
ngoại hối và lạm phát ở năm quốc gia Đông Á.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mối liên hệ giữa
thay đổi dự trữ ngoại hối và lạm phát là mối
quan nghịch biến ở Nhật Bản, đồng biến ở Hàn
Quốc và Đài Loan. Ngoài ra, các nghiên cứu
của Elhiraika & Ndikumana (2007) ở Châu Phi
(từ năm 1979 – 2005) để tìm hiểu nguồn gốc,
động lực và tác động đến kinh tế của tích lũy
dự trữ ngoại hối, cho thấy tích lũy dự trữ ngoại
hối không có tác động có ý nghĩa đến lạm phát,
nhưng dẫn đến mức giá cao hơn trong dài hạn.
Hay nghiên cứu của Borivoje & Tina (2015)
phân tích tác động của tích lũy dự trữ ngoại
hối đến tăng trưởng kinh tế tại các nước có nền
kinh tế mới nổi gồm có: Brazil, Trung Quốc
và Nga cho giai đoạn từ năm 1993 – 2012 cho
thấy tích lũy dự trữ ngoại hối không dẫn đến
lạm phát nếu tỷ lệ tích lũy dự trữ ngoại hối
không vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế.
65
Đối với các nghiên cứu tại từng quốc gia
như nghiên cứu của Chaudhry và cộng sự
(2011) phân tích mối liên hệ giữa dữ trữ ngoại
hối và lạm phát ở Pakistan từ năm 1960 – 2007.
Kết quả nghiên cứu cho thấy dự trữ ngoại hối
có quan hệ nghịch chiều với lạm phát. Nghiên
cứu của Chen & Huang (2012) sử dụng mô
hình không tham số để phân tích cơ chế truyền
dẫn tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát ở
Trung Quốc. Mẫu dữ liệu phân tích bao gồm
dự trữ, cung tiền, chỉ số giá tiêu dùng, lãi suất
và GDP danh nghĩa của Trung Quốc từ tháng
1/1993 đến 3/2008. Kết quả cho thấy sự gia
tăng tích lũy dự trữ ngoại hối sẽ dẫn đến sự gia
tăng cung tiền, từ đó dẫn đến sự gia tăng lạm
phát. Zhou & ctg (2013) sử dụng dữ liệu hàng
tháng về dự trữ ngoại hối và chỉ số giá tiêu
dùng để xây dựng mô hình VAR để tìm hiểu
tác động của tăng trưởng dự trữ ngoại hối đến
chỉ số giá tiêu dùng của Trung Quốc từ tháng
1/2008 đến tháng 12/2011. Kết quả kiểm định
nhân quả Granger chứng minh rằng dự trữ
ngoại hối là một nguyên nhân làm cho CPI
tang và mức độ tác động của dự trữ ngoại hối
làm cho CPI tăng là 20% với độ trễ từ 1 đến
8 tháng. Tại Việt Nam, Phạm Thị Tuyết Trinh
(2015) sử dụng mô hình VAR để đo lường tác
động tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát
giai đoạn quý I/2000 đến quý II/2014. Kết quả
đo lường bằng hàm phản ứng đẩy tổng quát
hóa cho thấy tích lũy dự trữ ngoại hối làm lạm
phát bắt đầu tăng từ quý thứ 3 và đạt cân bằng
mới từ quý thứ 7 ở mức 1,1% đơn vị.
Nhìn chung, cho dù phân tích dưới gốc độ
nào, hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy tích
lũy dự trữ ngoại hối có ảnh hưởng đến lạm
phát.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mô hình ước lượng
Mô hình nghiên cứu trước hết được kế
thừa từ nghiên cứu của Steiner (2009). Steiner
xây dựng mô hình dựa trên học thuyết tiền tệ
cổ điển của Irving Fisher kết hợp với lý thuyết
về cung tiền và số nhân tiền tệ. Từ phương
trình trao đổi của Fisher:
Ms *V = P*Y (8)
Lấy logarit cơ số tự nhiên và vi phân 2 vế
của phương trình, ta có:
d(lnMs) + d(lnV) = d(lnP)+ d(lnY)
Suy ra: (9)
Hơn nữa, ta có:
MS = mm.MB và MB = NDA + NFA
Suy ra:
(10)
Thế (10) vào (9) ta được:
Phương trình (11) chỉ rõ mối quan hệ giữa
tích lũy dự trữ ngoại hối và lạm phát. Khi
NHTW tích lũy dự trữ ngoại hối làm cho NFA
thay đổi ( ) mà không có hoạt
động nào làm trung hòa tác động đó trên thị
trường tiền tệ thì sẽ dẫn đến sự gia tăng của
mức giá trong nền kinh tế.
Bên cạnh đó, để xem xét tác động tích
lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát trong điều
kiện nền kinh tế có đô la hóa, tác giả bổ sung
biến đô la hóa vào mô hình nghiên cứu. Đô la
hóa là việc sử dụng bất kỳ loại ngoại tệ nào
của nước khác trong nền kinh tế trong nước
(Reinhart & ctg 2003). Trong thập kỷ qua, đô
la hoá vẫn là hiện tượng phổ biến ở các nước
đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển
đổi, trong đó có Việt Nam (Nguyễn Thị Hồng,
tác động tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát...
66
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật
2012). NHNN đã thực hiện nhiều biện pháp để
chống đô la hóa. Đây là một đặc điểm nổi bật
liên quan đến cấu trúc nền kinh tế Việt Nam,
gây ảnh hưởng đến việc quản lý tiền tệ của
NHNN xét trên nhiều mặt (Goujon, 2006).
Xét trong mối liên hệ với lạm phát, các nghiên
cứu về tác động đô la hóa lên lạm phát có kết
luận tương phản nhau. Trong khi Bahmani&
Domac (2003), Yeyati (2006) cho thấy sự gia
tăng lạm phát, Gruben & Mcleod (2004) và
Berg&ctg (2003) tìm thấy một sự suy giảm
trong lạm phát do kết quả của đô la hoá. Theo
Mengesha & Holmes (2015), điều này tùy
thuộc vào hiệu quả sức mua. Thông thường,
lạm phát làm suy yếu sức mua của đồng nội
tệ. Kết quả là, các cá nhân có xu hướng trao
đổi đồng nội tệ yếu cho một đồng tiền mạnh
thay thế. Nếu việc trao đổi dẫn đến sự đô la
hoá thực, đó là chỉ số giá cả và tiền lương cho
đồng đô la, điều này dẫn đến hai kết quả. Một
là, các công ty sẽ không phải đối mặt với sự
không phù hợp về tiền tệ ngay cả khi nền kinh
tế bị đô la hóa một phần bởi vì họ có thể kiếm
được đô la và trả nợ bằng đồng đô la. Hơn nữa,
sức mua của đồng tiền thay thế mạnh. Do đó,
lạm phát sẽ giảm xuống trong nền kinh tế. Hai
là, nếu việc hoán đổi tiền tệ không dẫn đến sự
đô la hoá thực thì lạm phát có xu hướng tăng
lên cùng với sự gia tăng đô la hoá một phần.
Như vậy, mô hình nghiên cứu lý thuyết
như sau:
P = f (NFA, NDA, mm,V,Y, DL) (12)
Trong đó DL là tỷ lệ đô la hóa nền kinh tế.
3.2. Phương pháp ước lượng
Nghiên cứu sử dựng mô hình ARDL
Bound Test được phát triển bởi Pesaran &ctg
(2001) để kiểm tra đồng liên kết giữa các biến.
Tác giả tiếp cận theo mô hình này vì đây là
một mô hình ước lượng thích hợp để kiểm tra
đồng liên kết giữa các biến trong trường hợp
mẫu nhỏ.
Phương trình ECM có dạng như sau:
(13)
Trong đó:
l q
1
, q
2
, q
3
, q
4
, q
5
, q
6
, q
7
là độ trễ tối ưu của
sai phân các biến trong mô hình.
l λ là tốc độ điều chỉnh ngắn hạn của CPI
để trở về trạng thái cân bằng dài hạn khi
các biến độc lập thay đổi.
l EC
t-1
là sai số khi hồi quy CPI
t-1
theo các biến độc lập trễ 1 kỳ. EC
t-1
được xác định như sau:
(14)
Trong đó:
l θ
0
là hệ số chặn của phương trình dài hạn.
l θ
1,
θ
2,
θ
3,
θ
4,
θ
5,
θ
6
là các hệ số hồi quy của
phương trình dài hạn.
Thế phương trình (14) vào phương trình
(13), ta được phương trình sai phân ECM như
sau:
(15)
67
Phương trình (15) là phương trình ước
lượng để kiểm định đồng liên kết giữa các
biến trong mô hình và là căn cứ để xác định
các hệ số của phương trình dài hạn.
3.3. Các biến và dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu được thu thập từ năm 2004 vì đây
là mốc thời gian trước thềm Việt Nam gia nhập
WTO, nền kinh tế bắt đầu có những chuyển
biến để chuẩn bị bước vào quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế theo xu hướng hiện nay, trong
đó có sự thay đổi của dự trữ ngoại hối.
Nguồn số liệu chủ yếu lấy từ IFS
2018 (International Financial Statistic) và
Thomson Reuter Datastream. Cách tính toán
các biến số và nguồn lấy số liệu được thể
hiện ở bảng 2.
Bảng 2. Các biến và nguồn thu thập số liệu nghiên cứu
STT Tên biến Ký hiệu Cách tính toán Nguồn số liệu
1 NFA điều chỉnh (1) NFA*
t
IFS 2018
2 NDA điều chỉnh (2) NDA*
t
NDA*
t
= (MB
t
/GDPn
t
) - NFA*
t
IFS 2018
3 Số nhân tiền tệ mm
t
M
2t
/MB
t
IFS 2018
4 Lạm phát CPI
t
Tốc độ phát triển chỉ số giá tiêu dùng. IFS 2018
5 Độ lệch sản lượng (3) Y
t
GDPr
t
– GDPp
t
Thomson Reuters
6 Tốc độ vòng quay tiền tệ V
t
GDPn
t
/M
2t
7 Đô la hóa DL
t
FD
t
/M
2t
FD
t
: Tiền gửi ngoại tệ
M
2t
: Cung tiền
IFS 2018
(1) Mô hình sử dụng NFA điều chỉnh vì để
loại trừ giá trị tăng NFA do biến động tỷ giá. Vì
sự thay đổi tỷ giá làm thay đổi giá trị NFA tính
bằng VND do NHNN Việt Nam thực hiện hạch
toán chênh lệch tỷ giá vào mỗi cuối kỳ kế toán,
mà giá trị thay đổi này lại làm tăng tích lũy dự
trữ ngoại hối nhưng chỉ là giá trị trên sổ sách
chứ không phải là giá trị dự trữ ngoại hối tăng
thực tế cho NHNN can thiệp trên thị trường
ngoại hối. Hơn nữa, theo đó, ∆NFA điều chỉnh
có công thức tính như trên. Trong đó:
- et và e
t-1
lần lượt là tỷ giá VND/USD ở
cuối thời kỳ t và t-1;
- GDPn là GDP danh nghĩa.
(2) Vì NDA được tính theo NFA nên cũng
được điều chỉnh loại trừ chênh lệch tỷ giá như
sau:
∆NDA*
t
= (MB
t
/GDPn
t
) - ∆NFA*
t .
Trong đó: MB
t
là tiền cơ sở.
(3) Độ lệch sản lượng được tính bằng cách
chênh lệch giữa sản lượng thực và sản lượng
tiềm năng. Trong đó, GDPr
t
là GDP thực;
GDPp
t
: GDP tiềm năng được tính bằng phép
lọc Hodrick-Prescott với tham số làm nhẵn
1600 trong phần mềm Eviews.
tác động tích lũy dự trữ ngoại hối đến lạm phát...
68
Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Kiểm định tính dừng của dữ liệu
nghiên cứu
Để ước lượng bằng mô hình ARDL
Bounds Test, trước hết, chúng tôi kiểm định
tính dừng của chuỗi dữ liệu nghiên cứu. Theo
Pesaran &ctg (2001), để sử dụng được mô hình
này, trước hết các chuỗi dữ liệu vừa có chuỗi
dừng ở bậc I(0), vừa có chuỗi dừng ở bậc I(1)
và không có chuỗi nào dừng ở sai phân bậc 2.
Các biến trong mô hình được kiểm định tính
dừng bằng cách kiểm định nghiệm đơn vị với
hai phương pháp là ADF (Augmentd Dickey
– Fuller) và PP (Phillips – Perron). Kết quả
được thể hiện ở Bảng 3.
Bảng 3. Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị
Tên biến ADF Test t- statistic
PP Test
t- statistic Tên biến
ADF Test
t- statistic
PP Test
t- statistic
CPIt -0.86 -0.60 DL -0.83 -0.60
∆CPI
t
-4.18(***) -3.44(**) ∆DL -6.69(***) -13.13(***)
mm
t
-0.87 -0.92 V -2.24 -6.95(***)
∆mm
t
-8.26(***) -12.33(***) ∆V -2.90(*) -32.89(***)
NDA*
t
-4.12(***) -4.40(***) Y
t
-3.03(**) -3.60(***)
NFA*
t
-3.81(***) -7.68(***)
Ghi chú: Giá trị tới hạn với mức ý nghĩa 1% , 5% và 10% lần lượt là -3.53; -2