Khảo sát các yếu tố gây xơ vữa động mạch sớm ở trẻ em béo phì

Mục tiêu: Quá trình xơ vữa động mạch có thể bắt đầu sớm, ngay ở tuổi còn trẻ. Nghiên cứu nhằm khảo sát yếu tố gây tăng bề dầy nội‐trung mạc động mạch cảnh, dấu ấn sớm của xơ vữa động mạch ở trẻ em béo phì. Đối tượng: Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng II từ 2008 đến 2010 trên 52 bệnh nhi béo phì và 47 trẻ thuộc nhóm chứng. Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu được thực hiện trên trẻ béo phì, được khảo sát cholesterol toàn phần, LDL, HDL, triglyceride và CRP. Bề dầy nội‐trung mạc của động mạch cảnh được đo bằng siêu âm. Các xét nghiệm máu trên đây cũng được thực hiện cho 47 trẻ thuộc nhóm chứng. . Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm trẻ béo phì: 12,0 ± 2,2 tuổi và BMI z‐ score: 30,3 ± 5,5. Tuổi trung bình của nhóm chứng: 13,0 ± 2,9 tuổi và BMI z‐ score: 18,4 ± 2,4. Phân tích đơn biến cho thấy ở trẻ béo phì, bề dầy nội‐trung mạc động mạch cảnh tương quan thuận với BMI, z‐score BMI và insulin lúc đói và tương quan nghịch với HDL‐cholesterol. Bề dầy nội‐trung mạc động mạch cảnh không thay đổi với sự hiện diện của các yếu tố nguy cơ tim mạch cổ điển như cao huyết áp, tiền căn gia đình có bệnh tim mạch hoặc sự hiện diện của hội chứng chuyển hóa. Không ghi nhận mối tương quan giữa bề dầy nội‐trung mạc động mạch cảnh và CRP. Kết luận: Độ nặng của tình trạng béo phì, tình trạng kháng insulin và giảm HDL‐cholesterol là các yếu tố tiên lượng xơ vữa động mạch trẻ em béo phì. Việc kiểm soát cân nặng cần được thực hiện sớm ở trẻ em.

pdf7 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 13/06/2022 | Lượt xem: 192 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát các yếu tố gây xơ vữa động mạch sớm ở trẻ em béo phì, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương 124 KHẢO SÁT CÁC YẾU TỐ GÂY XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH SỚM   Ở TRẺ EM BÉO PHÌ  Nguyễn Thùy Châu*, Trần Thị Mộng Hiệp**  TÓM TẮT  Mục tiêu: Quá trình xơ vữa động mạch có thể bắt đầu sớm, ngay ở tuổi còn trẻ. Nghiên cứu nhằm khảo sát  yếu tố gây tăng bề dầy nội‐trung mạc động mạch cảnh, dấu ấn sớm của xơ vữa động mạch ở trẻ em béo phì.   Đối tượng: Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Nhi Đồng II từ 2008 đến 2010 trên 52 bệnh nhi béo  phì và 47 trẻ thuộc nhóm chứng.   Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu được thực hiện trên trẻ béo phì, được khảo sát cholesterol toàn phần,  LDL, HDL,  triglyceride và CRP. Bề dầy nội‐trung mạc của động mạch cảnh được đo bằng siêu âm. Các xét  nghiệm máu trên đây cũng được thực hiện cho 47 trẻ thuộc nhóm chứng. .   Kết quả: Tuổi trung bình của nhóm trẻ béo phì: 12,0 ± 2,2 tuổi và BMI z‐ score: 30,3 ± 5,5. Tuổi trung bình  của nhóm chứng: 13,0 ± 2,9 tuổi và BMI z‐ score: 18,4 ± 2,4. Phân tích đơn biến cho thấy ở trẻ béo phì, bề dầy  nội‐trung mạc  động mạch  cảnh  tương quan  thuận với BMI, z‐score BMI và  insulin  lúc  đói và  tương quan  nghịch với HDL‐cholesterol. Bề dầy nội‐trung mạc động mạch cảnh không thay đổi với sự hiện diện của các yếu  tố nguy cơ tim mạch cổ điển như cao huyết áp, tiền căn gia đình có bệnh tim mạch hoặc sự hiện diện của hội  chứng chuyển hóa. Không ghi nhận mối tương quan giữa bề dầy nội‐trung mạc động mạch cảnh và CRP.  Kết luận: Độ nặng của tình trạng béo phì, tình trạng kháng insulin và giảm HDL‐cholesterol là các yếu tố  tiên lượng xơ vữa động mạch trẻ em béo phì. Việc kiểm soát cân nặng cần được thực hiện sớm ở trẻ em.  Từ khóa: bề dầy nội‐trung mạc, cao huyết áp, động mạch cảnh, kháng insulin  ABSTRACT  RISK FACTOR OF EARLY ATHEROSCLEROSIS IN OBESE CHILDREN    Nguyen Thuy Chau, Tran Thi Mong Hiep   * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 2 ‐ 2012: 124 ‐ 130  Objective: Atherosclerosis process starts at an early age and is linked to obesity. The aim of the study was to  investigate determinants of increased carotid intima‐media thickness (IMT), an early marker of atherosclerosis, in  obese children.   Patients and methods:  In  this prospective study, a  total of 52 obese children and 47 nonobese children  were  investigated at Nhi Dong 2 hospital,  from 2008 to 2010. In obese children, total cholesterol, LDL, HDL,  triglyceride  and CRP were  determined.  IMT was measured  by  ultrasound.  Baseline measurements  of  blood  parameters were also performed in nonobese children.  Results:  In  the  obese  children,  the mean  age:  12.0  ±  2.2  years; BMI  z‐  score:  30.3  ±  5.5.  In  nonobese  children,  the mean age: 13.0 ± 2.9 years; BMI z‐  score: 18.4 ± 2.4. Univariate  analysis  showed  a  significant  positive  correlation  between  IMT  and  BMI,  BMI  z‐score  and  fasting  insulin  levels,  whereas  an  inverse  correlation  with  HDL‐cholesterol  was  found.  No  correlation  was  obtained  between  IMT  and  classical  * Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch  ** Bộ Môn Nhi Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch ‐ Khoa Thận ‐ Nội Tiết BV Nhi Đồng 2  Tác giả liên lạc: TS.BS Trần Thị Mộng Hiệp   ĐT: 0908.198.104   Email: tranmonghiep@yahoo.fr  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013  Nghiên cứu Y học Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương  125 cardiovascular risk factors such as hypertension, positive familial history or metabolism syndrome. CRP was not  associated with IMT in our obese population.  Conclusion: The degree of obesity, insulin resistance and low HDL‐cholesterol remained an predictive factor  of atherosclerosis in obese children. Control of weight need to be done early in the childhood.  Keywords: intima‐media thickness, hypertension, carotid, insulin resistance  ĐẶT VẤN ĐỀ  Tần  suất  của  bệnh  béo  phì  ở  trẻ  em  ngày  càng tăng. Tỉ lệ thừa cân ở trẻ vị thành niên tại  TP Hồ Chí Minh tăng nhanh từ 12,5% năm 2004  lên 16,7 % vào năm 2009; tỉ lệ trẻ béo phì tăng từ  1,7% năm 2004 lên 5,7 % vào năm 2009 (12).   Tại Hoa Kỳ, người  ta ghi nhận  có  sự  tăng  gấp  10  lần  về  tần  suất mắc  bệnh  tiểu  đường  không  phụ  thuộc  insulin  ở  nhóm  trẻ  này.  Nghiên  cứu  đoàn  hệ  của  Sinha  và  cộng  sự  (10)  trên nhóm trẻ béo phì từ 4 đến 10 tuổi và nhóm  trẻ từ 11 đến 18 tuổi, ghi nhận tình trạng không  dung nạp glucose  lần  lượt  là 25% và 21%. Tiểu  đường týp 2 được tình cờ phát hiện trong 4% các  trẻ này.   Béo  phì  gây  xơ  vữa  động  mạch  cảnh  và  động mạch chủ rất sớm và từ  lúc 2 tuổi  (1). Tần  suất  các  yếu  tố  nguy  cơ  tim  mạch  (tăng  triglyceride,  cholesterol,  LDL‐cholesterol  và  giảm  HDL‐cholesterol,  kháng  insulin  và  cao  huyết  áp)  cao  hơn  ở  nhóm  trẻ  béo  phì  so  với  nhóm chứng, không bị béo phì. Nghiên cứu của  Freedman và cộng sự  trên 9167  trẻ  từ 5 đến 17  tuổi đã chứng minh rằng trẻ béo phì có nguy cơ  mắc 2 yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch gấp 10 lần  và 3 yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch gấp 43 lần,  so với trẻ không béo phì cùng lứa tuổi. Ở người  lớn, sự tăng bề dầy nội‐trung mạc (BDNTM)  là  dấu ấn đáng  tin cậy và  là yếu  tố  tiên  lượng  tai  biến mạch máu về sau này(7,11). Ở trẻ em, một số  nghiên cứu đã chứng minh là sự tăng BDNTM ở  động mạch  cảnh  phản  ảnh  tình  trạng  xơ  vữa  động mạch  ở  các  trẻ  này(16,17).  Tuy  nhiên,  hiện  nay, chưa có một nghiên cứu nào xác định các  yếu tố gây tăng BDNTM.  Nghiên  cứu nhằm xác  định  các yếu  tố  làm  tăng BDNTM ở trẻ em béo phì và đánh giá vai  trò của các yếu  tố gây xơ vữa  động mạch như  lipid máu, cao huyết áp, tiền căn gia đình và dấu  ấn của hiện tượng viêm.   PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu  Nghiên cứu tiền cứu, thống kê phân tích.  Đối tượng nghiên cứu   Các  bệnh  nhi  từ  8‐15  tuổi  bị  béo  phì  hoặc  tăng  cân  được  đánh giá dựa vào  chỉ  số  cơ  thể  theo  phân  loại  của  Cole  vào  năm  2000(2).  Các  bệnh nhi được chọn vào nghiên cứu không mắc  các bệnh về gan mật, nội tiết và thần kinh có thể  ảnh  hưởng  đến  sự  nhạy  của  insulin  và  được  theo dõi  tái khám  tại bệnh viện Nhi Đồng 2  từ  tháng 2/2008 đến tháng 2/2010. Đối với cỡ mẫu,  chúng tôi lấy trọn và có 52 bệnh nhi được chọn  vào lô nghiên cứu.   Nhóm chứng bao gồm 47 bệnh nhân từ 8‐15  tuổi,  có BMI  bình  thường  và  các  trẻ  thuộc  gia  đình nhân viên của bệnh viện đồng ý tham gia  nghiên cứu.  Các biến số nghiên cứu bao gồm:   Lâm sàng  Bản thân và gia đình về các yếu tố nguy cơ  tim mạch,  cân  nặng,  chiều  cao,  chỉ  số  khối  cơ  thể, độ dậy thì theo Tanner, huyết áp.   Xét nghiệm máu  Đo  lường cholesterol  toàn phần, cholesterol  – HDL và triglyceride theo phương pháp thông  thường  (Beckman  Instruments,  Munich,  Germany).  CRP  được  đo  lường  bằng  phương  pháp  miễn  dịch  (Dade‐Behring,  Marburg,  Allemagne).   Bề dầy nội‐trung mạc của động mạch cảnh  chung, trong và xoang cảnh được đo bằng siêu  âm với độ phân giải cao và dùng đầu dò thẳng  với  tần  suất  5,5  –  12  Mhz  (HDI  5000,  ATL,  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương 126 Washington, USA).   Bề dầy nội‐trung mạc được đo bên phải và  bên  trái  động  mạch  cảnh  chung,  cách  xoang  cảnh 1 và 2 cm trên đoạn cắt dọc, tại xoang cảnh  và  tại  động  mạch  cảnh  trong  qua  đoạn  cắt  ngang.  Trung bình của 4 giá  trị  đo  tại 4 vị  trí  trên  được xem  là bề dầy nội‐trung mạc và được gọi  là “ trung bình 4” trong nghiên cứu này.   Các định nghĩa được sử dụng:  Sự dung nạp Glucose được định nghĩa dựa  vào  tiêu  chuẩn  của Hiệp  hội Hoa Kỳ  về  bệnh  tiểu đường (2003) như sau:  Loại Đường huyết lúc đói (mg/dl) Dung nạp Glucose bình thường <110 Không dung nạp Glucose > hoặc =110 và < 126 Tiểu đường týp II > hoặc =126 Cao  huyết  áp  được  định  nghĩa  dựa  vào  huyết áp  tâm  thu và/hoặc  tâm  trương  lớn hơn  percentile 90 theo tuổi, giới và chiều cao(13).  Hội chứng chuyển hóa được định nghĩa dựa  vào  tiêu  chuẩn  của  ATP  III  (Adult  Treatment  Panel III) của người lớn và hiệu chỉnh cho trẻ em  (15), và cần có 3/5 tiêu chuẩn sau:   1/ Vòng bụng ≥ percentile 90.   2/ Đường huyết lúc đói > 110 mg/dl   3/ Huyết áp  tâm  thu và/hoặc  tâm  trương >  percentile 90, theo tuổi, giới và chiều cao(13).  4/ HDL‐cholesterol  <  percentile  5  theo  tuổi  và  giới,  chuẩn  của  National  Cholesterol  Education Program vào năm 1992 (6).  5/ Triglyceride  >  percentile  95  theo  tuổi  và  giới (6).  Tiền  căn  gia  đình béo  phì hoặc  tiểu  đường  týp 2: khi trong gia đình có ≥ 1 người bị béo phì  hoặc tiểu đường týp 2. Tiền căn gia đình có nguy  cơ bệnh tim mạch khi trong gia đình có tiền sử  cao  huyết  áp,  cholesterol  tăng  rất  cao,  tiểu  đường, nhồi máu  cơ  tim hoặc  chết  đột  tử  (<55  tuổi  ở  đàn  ông  và  <65  tuổi  ở  đàn  bà)  theo  Belgian  Association  for  the  Study  of  Obesity  (BASO). Mỗi yếu  tơ nguy cơ được đánh giá và  cho điểm và trẻ có tiền căn gia đình có nguy cơ  bệnh tim mạch khi có ≥ 2 điểm.   Cao huyết áp  1  Rối loạn lipid máu  1  Tiểu đường týp 2  2  Mắc bệnh tim mạch sớm  2  Cân nặng được phân loại như sau  Phân loại cân nặng Người lớn Trẻ em Thừa cân BMI 25-30 120-140%* Béo phì loại I BMI 30-35 140-160% Béo phì loại II BMI 35-40 160-180% Béo phì loại III BMI >40 >180% * % = BMI/BMI percentile 50 theo tuổi, giới và theo tiêu  chuẩn của Cole (18) x 100.  Xử lý thống kê  Các  giá  trị  đo  lường  ở  trẻ  béo  phì  và  trẻ  thuộc  nhóm  chứng  được  diễn  tả  bằng  trị  số  trung bình ±  độ  lệch  chuẩn, bằng  trung vị  (độ  dậy thì Tanner) hoặc bằng %.   Khảo sát sự khác biệt của các biến số liên tục  giữa 2 nhóm béo phì và nhóm chứng được thực  hiện bằng  test  t Student. Các biến  số định  tính  được so sánh bằng test Chi‐bình phương và các  nhóm tứ phân vị được khảo sát bằng phân tích  phương  sai một  yếu  tố.  Tương  quan  Pearson  được sử dụng để khảo sát đơn biến (SPSS 13.0).  Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p<0,05.  KẾT QUẢ  Đặc điểm lâm sàng và sinh học của 2 nhóm  (nhóm béo phì và nhóm chứng) được trình bày  trong bảng 1:  Tuổi trung bình của nhóm béo phì  là 12,0 ±  2,2 và của nhóm chứng là 13,0 ± 2,9 tuổi. Không  ghi nhận sự khác biệt giữa 2 nhóm về tuổi, giới  và độ dậy thì.   Có sự gia tăng của BMI ở nhóm béo phì (30,3  ±  5,5  kg/m2)  so  với  nhóm  chứng  (18,4  ±  2,4  kg/m2). Kết quả  tương  tự  cũng  được ghi nhận  đối với BMI z‐score ở nhóm béo phì (2,83±0,74)  so  với  nhóm  chứng  (‐0,15±0,87),  và  insulin  lúc  đói ở nhóm béo phì (18±10 μU/ml) so với nhóm  chứng (6±3 μU/ml).   Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013  Nghiên cứu Y học Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương  127 Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng và sinh học của lô nghiên cứu  Béo phì (n=52) Chứng (n=47) p Chỉ số nhân trắc Tuổi (năm) 12,0±2,2 13,0±2,9 Giới (gái/trai) 24/28 23/24 Tanner 3 3 BMI (Kg/m2) 30,3±5,5 18,4±2,4 0,001 BMI z-score 2,83±0,74 -0,15±0,87 0,001 Yếu tố nguy cơ tim mạch Có tiền căn gia đình Tim mạch 57% Tiểu đường 31% Béo phì 76% Cao huyết áp 47% Rối loạn lipid máu Triglyceride (mg/dl) 72±40 79±31 Cholesterol (mg/dl) 152±36 151±29 HDL cholesterol (mg/dl) 48±11 55±10 0,001 LDL cholesterol (mg/dl) 91±29 80±26 0,025 Kháng insulin Insulin lúc đói (µU/ml) 18±10 6±3 0,001 Hội chứng chuyển hóa 24% Hiện tượng viêm CRP (mg/dl) 0,34±0,40 0,04±0,05 0,001 LDL‐cholesterol  có  khuynh  hướng  tăng  và  HDL‐cholesterol  giảm  ở  nhóm  béo  phì.  CRP  cũng tăng hơn ở nhóm béo phì (0,34±0,40 mg/dl)  so với nhóm chứng (0,04±0,05 mg/dl) (Bảng 1).   Tần suất của hội chứng chuyển hóa được ghi  nhận là 24 % trong nhóm trẻ béo phì. Khi nhóm  béo phì được phân  loại  theo độ  tăng dần của  cân nặng (dựa vào tiêu chuẩn của Cole(2) chúng  tôi  ghi nhận  có  sự  gia  tăng  của  số  trẻ  bị  cao  huyết áp (bảng 2 A), nồng độ insulin lúc đói và  CRP (bảng 2 B) và bề dầy nội‐trung mạc ở tất  cả các vị trị khảo sát (bảng 2 C).   Từ các kết quả này, có thể kết luận rằng đã  có  sự  hiện  diện  của  các  yếu  tố  nguy  cơ  tim  mạch khi mới  tăng cân ở giai đoạn đầu  (tăng  huyết áp, kháng  insulin). Trẻ bị béo phì nặng  có đầy đủ các yếu tố nguy cơ về tim mạch và  có tăng CRP.  Bảng 2A. Tăng cân và độ béo phì theo các chỉ số nhân  trắc   Tuổi Tanner BMI z- score Cao huyết áp (năm) (trung vị) % Tăng cân 12,7±2,2 3 1,81±0,30 20 Béo phì độ I 12,4±2,5 3 2,51±0,16 40 Béo phì độ II 13,2±2,1 3 2,94±0,15 48 Béo phì độ III 12,8±2,0 3 3,83±1,30 68 trị số p Khônggiá trị không giá trị <0,05d <0,05 a,b Bảng 2B. Tăng cân và độ béo phì theo các trị số sinh  học về nguy cơ tim mạch  Trigly ceride HDL LDL Insulin lúc đói CRP mg/dl mg/dl mg/dl µU/ml mg/dl Tăng cân 43±20 55±7 86±26 14±7 0,16±0,20 Béo phì độ I 65±29 48±10 88±20 15±7 0,25±0,25 Béo phì độ II 90±46 44±11 95±28 17±8 0,19±0,19 Béo phì độ III 74±47 49±13 91±42 24±13 0,52±0,62 trị số p không giá trị không giá trị không giá trị <0,05ab <0,05b,c Bảng 2C. Tăng cân và độ béo phì theo bề dầy nội‐trung mạc   Trung bình 4 ĐM cảnh trong ĐM cảnh chung Xoang cảnh (mm) (mm) (mm) (mm) Tăng cân 0,463±0,044 0,412±0,056 0,486±0,045 0,469±0,073 Béo phì độ I 0,457±0,050 0,417±0,064 0,464±0,051 0,484±0,065 Béo phì độ II 0,462±0,053 0,414±0,066 0,471±0,063 0,496±0,063 Béo phì độ III 0,515±0,080 0,476±0,090 0,520±0,094 0,546±0,082 trị số p <0,05b,c <0,05b,c <0,05b <0,05a,b,c Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương 128 a: tăng cân so với Béo phì độ III, b: Béo phì độ I so với III, c: Béo phì độ II so với III, d: tất cả các nhóm đều khác nhau  Khi phân loại nhóm béo phì theo tứ phân vị  dựa  vào  insulin  lúc  đói,  thì  độ  kháng  insulin  tăng với tuổi, độ dậy thì và sự hiện diện của cao  huyết  áp  (Bảng  3  A).  Độ  kháng  insulin  cũng  tăng với tình trạng rối loạn lipid máu (chủ yếu là  triglyceride  và HDL‐cholesterol)  (Bảng  3 B)  và  bề dầy của nội trung mạc đo ở 4 vị trí (p=0,05) và  ở xoang cảnh (p=0,05) (Bảng 3 C).  Bảng 3A. Tứ phân vị Insulin lúc đói theo các chỉ số  nhân trắc   Tứ phân vị Insulin lúc đói Tuổi Tanner BMI z-score Cao huyết áp % (năm) (trung vị) I 8±3 11,3±2,4 2 2,72±0,47 24 II 13±1 12,6±2,5 3 2,53±0,60 32 Tứ phân vị Insulin lúc đói Tuổi Tanner BMI z-score Cao huyết áp % (năm) (trung vị) III 19±2 13,3±1,8 3 2,93±0,49 64 IV 31±10 13,5±1,8 3 3,31±1,46 64 p value <0,05 d <0,05 b,c <0,05 d <0,05 d Bảng 3B. Tứ phân vị Insulin lúc đói theo lipid máu  và CRP  Tứ phân vị Insulin lúc đói Triglyceride HDL LDL CRP mg/dl mg/dl mg/dl mg/dl I 65±40 52±10 89±41 0,26±0,71 II 62±24 47±11 93±26 0,31±0,32 III 74±40 45±10 86±24 0,28±0,38 IV 94±53 44±11 94±38 0,33±0,51 giá trị p <0,05 d <0,05 d Không giá trị Không giá trị Bảng 3C. Tứ phân vị Insulin lúc đói theo bề dầy nội trung mạc  Tứ phân vị Insulin lúc đói Trung bình 4 ĐM cảnh trong ĐM cảnh chung Xoang cảnh (mm) (mm) (mm) (mm) I 0,458±0,056 0,423±0,068 0,465±0,054 0,482±0,078 II 0,457±0,045 0,407±0,055 0,471±0,049 0,478±0,061 III 0,472±0,054 0,425±0,067 0,482±0,066 0,502±0,064 IV 0,501±0,080 0,464±0,094 0,503±0,093 0,536±0,078 p value 0,05d Không giá trị Không giá trị 0,05 d,e a: I so với các tứ phân vị khác, b: I so với II, c: I so với III,   d: I so với IV e: II so với IV  Khi phân loại nhóm béo phì theo tứ phân vị  của  bề  dầy  nội  trung mạc,  tình  trạng  xơ  vữa  động mạch tăng với BMI z‐score (Bảng 4 A) và  insulin lúc đói (Bảng 4 B).  Bảng 4A. Tứ phân vị bề dầy nội trung mạc (trung bình 4) theo các chỉ số nhân trắc  Tứ phân vị bề dầy nội trung mạc Tuổi (năm) Tanner (trung vị) BMI z-score Cao huyết áp % I 12,7±2,8 3 2,63±0,35 48 II 13,7±2,3 4 2,73±0,07 52 III 12,7±2,0 3 3,09±0,13 48 IV 13,0±2,1 3 4,00±1,40 67 giá trị p Không giá trị Không giá trị <0,05a,b NS Bảng 4B. Tứ phân vị bề dầy nội trung mạc (trung bình 4) theo kết quả lipid máu, insulin lúc đói và CRP  Tứ phân vị bề dầy nội trung mạc Triglyceride HDL LDL Insulin lúc đói CRP mg/dl mg/dl mg/dl µU/ml mg/dl I 72±37 51±10 84±22 14±6 0,27±0,37 II 75±40 46±12 89±27 17±8 0,17±0,16 III 86±54 47±11 87±26 19±9 0,29±0,33 IV 72±37 49±14 101±45 26±15 0,55±0,68 giá trị p Không giá trị Không giá trị Không giá trị <0,05a Không giá trị a: I so với IV, b: II so với IV  Có  sự  tương  quan  thuận  giữa  bề  dầy  nội  trung mạc và BMI, BMI z‐score và insulin lúc đói  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013  Nghiên cứu Y học Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Nguyễn Tri Phương  129 và  sự  tương  quan  nghịch  với HDL‐cholesterol  tại đa số các vị trí khảo sát (≥ 3 vị trí) (Bảng 5).  Bảng 5: Phân tích đơn biến giữa bề dầy nội trung mạc và các biến số được khảo sát  Trung bình 4 ĐM cảnh trong ĐM cảnh chung Xoang cảnh Hệ số Pearson r r r r Nhân trắc học Tuổi (năm) 0,16 0,13 0,13 0,13 Nữ/nam Cao huyết áp Tanner -0,01 -0,04 0,02 0,01 BMI 0,30b 0,25a 0,23a 0,30b BMI z-score 0,25a 0,23a 0,15 0,28b Tiền căn gia đình Tim mạch Tiểu đường Béo phì Hiện tượng viêm CRP (mg/dl) 0,15 0,21 0,13 0,07 Lipid máu Triglyceride (mg/dl) 0,02 0,02 -0,01 0,04 Cholesterol (mg/dl) -0,02 -0,05 0,02 -0,08 HDL-cholesterol (mg/dl) -0,22a -0,22a -0,16 -0,23a LDL-cholesterol (mg/dl) 0,11 0,08 0,16 0,03 Kháng Insulin Insulin lúc đói (µU/ml) 0,26a 0,18 0,24a 0,24a a: p<0.05, b: p<0.01  Hệ số tương quan Pearson khảo sát các biến  số định  lượng. Biến số định  tính  (giới  tính, cao  huyết áp, tiền căn gia đình) được khảo sát bằng  test t không ghép cặp. Chỉ ghi nhận các giá trị p  <0,05.  BÀN LUẬN  Hiện nay chưa có nghiên cứu về yếu tố gây  xơ vữa động mạch ở trẻ em Việt Nam.   Đo bề dầy nội trung mạc (BDNTM) để xác  định nhóm nguy cơ tim mạch  Ở người lớn, nhiều nghiên cứu đã đề nghị có  thể  dựa  vào  BDNTM  để  tiên  lượng  bệnh  tim  mạch ở người không triệu chứng (7,11).  Ở trẻ em, phức hợp nội trung mạc có thể là  một  công  cụ giúp  đánh giá  trong nhóm  trẻ  có  nguy cơ. Tăng BDNTM đã được ghi nhận ở trẻ  có  tiền  căn  gia  đình  có  tăng  cholesterol  trong  máu hoặc có tiểu đường týp 1(5,14).   Trong  nghiên  cứu  này,  tuy  chúng  tôi  không có số  liệu của BDNTM ở nhóm chứng,  nhưng chúng tôi có số liệu của tứ phân vị đầu  tiên  của  nhóm  béo  phì,  được  xem  như  gần  giống nhóm chứng.  Tuổi  và  giới  không  ảnh  hưởng  lên  sự  tăng bề dầy nội trung mạc ở trẻ em  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  BDNTM  không  tăng với  tuổi hoặc giới. Nghiên cứu của  Sass và cộng sự (9) ở bệnh nhân từ 10 đến 25 tuổi  cũng cho kết quả tương tự trên nhóm bệnh nhân  dưới 18 tuổi. Sau 18 tuổi, BDNTM tăng rõ ở trẻ  trai và ở bệnh nhân nam.  Có mối  liên  quan  giữa  bề  dầy  nội  trung  mạc và cân nặng ở trẻ em  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  BDNTM  tăng với độ béo phì (bảng 2C) và có tương quan  thuận giữa BDNTM và BMI z‐score (bảng 5).   Có mối  liên  quan  giữa  bề  dầy  nội  trung  mạc và lipid máu  Trong nghiên cứu này, LDL‐cholesterol cao  ở nhóm béo phì so với nhóm chứng,  trong khi  HDL‐cholesterol  thì  thấp  hơn  (bảng  1). Chúng  tôi ghi nhận có tăng triglyceride và giảm HDL‐ cholesterol  khi  bệnh  nhân  được  phân  theo  độ  kháng insulin (bảng 3B).   Ở người  lớn, Davis và cộng sự đã ghi nhận  là  các  yếu  tố  tiên  lượng  làm  tăng  BDNTM  ở  bệnh nhân nam  là cholesterol  toàn phần, LDL‐ Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Nguyễn Tri Ph
Tài liệu liên quan