Khảo sát tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới trên 50 tuổi đến khám tại Bệnh viện Bình Dân

Đặt vấn đề: Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) là loại ung thư thường gặp nhất của hệ tiết niệu – sinh dục ở nam giới sau tuổi 50. Tại VN, bệnh trong giai đoạn sớm còn ít khiến cho đa số bệnh nhân đến trễ, ung thư đã tiến triển và không còn khả năng điều trị triệt để. Hiện nay chúng ta chưa có công trình nào về mặt tầm soát. Do đó đề tài có tính cấp thiết để chúng ta chuẩn bị tốt mọi phương tiện cho chiến lược tầm soát, chẩn đoán và điều trị bệnh nhân trong từ 3 đến 5 năm tới. Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới từ 50 tuổi trở lên đến khám tại BV Bình Dân từ 6/2008 đến 6/2010. Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang. Tất cả nam giới ≥ 50 tuổi tự nguyện đến BV Bình Dân thực hiện tầm soát ung thư TTL. Xét nghiệm PSA huyết thanh. Tiến hành thăm khám trực tràng. Tiến hành sinh thiết 6 mẫu cải biên đối với những trường hợp nghi ngờ ung thư TTL, nếu có: (1) DRE có nhân cứng nghi ung thư, hoặc (2) PSA>10ng/mL, hoặc (3) 44 ng/ml là 21,7%. Tỷ lệ ung thư phát hiện là 3%

pdf8 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 14/06/2022 | Lượt xem: 247 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Khảo sát tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới trên 50 tuổi đến khám tại Bệnh viện Bình Dân, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Bình Dân 2012 335 KHẢO SÁT TỶ LỆ UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT Ở NAM GIỚI TRÊN 50 TUỔI ĐẾN KHÁM TẠI BỆNH VIỆN BÌNH DÂN Vũ Lê Chuyên*, Đào Quang Oánh**, Đỗ Anh Toàn*** TÓM TẮT Đặt vấn đề: Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) là loại ung thư thường gặp nhất của hệ tiết niệu – sinh dục ở nam giới sau tuổi 50. Tại VN, bệnh trong giai đoạn sớm còn ít khiến cho đa số bệnh nhân đến trễ, ung thư đã tiến triển và không còn khả năng điều trị triệt để. Hiện nay chúng ta chưa có công trình nào về mặt tầm soát. Do đó đề tài có tính cấp thiết để chúng ta chuẩn bị tốt mọi phương tiện cho chiến lược tầm soát, chẩn đoán và điều trị bệnh nhân trong từ 3 đến 5 năm tới. Mục tiêu: Khảo sát tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới từ 50 tuổi trở lên đến khám tại BV Bình Dân từ 6/2008 đến 6/2010. Đối tượng và phương pháp: Mô tả cắt ngang. Tất cả nam giới ≥ 50 tuổi tự nguyện đến BV Bình Dân thực hiện tầm soát ung thư TTL. Xét nghiệm PSA huyết thanh. Tiến hành thăm khám trực tràng. Tiến hành sinh thiết 6 mẫu cải biên đối với những trường hợp nghi ngờ ung thư TTL, nếu có: (1) DRE có nhân cứng nghi ung thư, hoặc (2) PSA>10ng/mL, hoặc (3) 4<PSA(ng/mL) ≤ 10% và fPSA≤20%. Kết quả: Từ 6/2008 đến 6/2010, chúng tôi đã lựa chọn được 1098 TH. Tuổi trung bình là 62,5 ± 3,4 tuổi. Có 91,7% TH có PSA huyết thanh ≤ 10 ng/ml. Phát hiện 33 TH ung thư TTL, chiếm 3% dân số nghiên cứu và chiếm 14,82% trong số 222 TH có chỉ định sinh thiết. Kết luận: Tỷ lệ nam giới ≥ 50 tuổi có kết quả khám trực tràng bất thường là 14,3%, tỷ lệ PSA huyết thanh >4 ng/ml là 21,7%. Tỷ lệ ung thư phát hiện là 3%. Từ khóa: nam giới trên 50 tuổi, ung thư tuyến tiền liệt, tầm soát. ABTRACT PREVALENCE OF PROSTATE CANCER AT BINH DAN HOSPITAL IN AGING MEN MORE THAN 50 YEARS OLD Vu Le Chuyen, Dao Quang Oanh, Do Anh Toan * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 335 – 342 Introduction: Prostate cancer Pca is among the most common malignant tumor of the genito-urinary system in aging men, more than 50 years old. In Vietnam, most of PCa patients came to the hospital at the advanced stage, so it is unable for the radical treatment and the patients would have the poor prognosis. Until now, there is not a valuable study of PCa screening, so this study should be performed. Objectives: the aim of this study is to determine the rate of PCa detected by using PSA measurement and digital rectal examination from June 2008 to June 2010. Patients and methods: cross-sectional descriptive study. All ≥ 50 years old male volunteer to perform prostate cancer screening at Binh Dan hospital. PSA blood test and DRE performed routinely. Ultrasound guided modified sextant transrectal biopsies for suspected cases of cancer, if any: (1) DRE suspected hard nodule, or (2) PSA> 10 ng/mL, or (3) 4 <PSA (ng/mL) ≤ 10 and fPSA ≤ 20%. * Khoa Niệu C, BV Bình Dân ** Khoa Niệu B, BV Bình Dân *** Khoa Niệu A, BV Bình Dân Tác giả liên lạc: TS Đào Quang Oánh ĐT: 0955012301 Email: daoquangoanh53@yahoo.com Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Bình Dân 2012 336 Results: 1098 men had enrolled. Average age is 62.5 ± 3.4 years old. There were 91.7% of men having serum PSA ≤ 10 ng/ml. There were 33 PCa detected in 1098 men enrolled (3%) and in 222 men underwent prostate biopsy (14.82%). Conclusions: There is 14.3% aging male having abnormal DRE, 21.7% having PSA>4ng/ml. Among them, 3% (of 1098 ≥ 50 years old) had been detected PCa. Keywords: men more than 50 years old, prostate cancer, screening. ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) có xuất độ cao nhất trên thế giới. Nhưng tại Việt nam, do những lý do về mặt tầm soát, sự kém quan tâm từ phía cộng đồng và y giới mà chúng ta chưa phát hiện được nhiều khiến cho đa số bệnh nhân đến trong giai đoạn trễ. Hiện nay chúng ta chưa có công trình nào về mặt tầm soát. Tuy vậy, số lượng bệnh nhân đến ngày càng nhiều và có khuynh hướng vượt qua các loại ung thư tiết niệu khác. Các số liệu hiện nay chỉ dựa trên báo cáo về số lượng những trường hợp có triệu chứng cần nhập viện để điều trị, tức là phần nổi của một tảng băng lớn mà phần che khuất dưới nước chua được biết đến. Việc điều trị ung thư TTL tùy thuộc chủ yếu vào giai đoạn phát triển, độ biệt hoá của tế bào và tình trạng người bệnh. Tỷ lệ bệnh nhân sống 10 năm với ung thư còn ở giai đoạn khu trú khoảng 70 - 85% sau khi được điều trị triệt để(11). Với các trường hợp ung thư xâm lấn ngoài vỏ bao vi thể, tỷ lệ sống sau 5 năm và 10 năm là 85 và 75%. Trong khi đó, với những trường hợp ung thư xâm lấn bao tuyến lan rộng, tỷ lệ sống sau 5 năm và 10 năm lần lượt là 70 và 40%(11). Do đó, vấn đề chẩn đoán sớm ung thư sẽ cải thiện được dự hậu của bệnh. Mục tiêu Mục tiêu tổng quát Khảo sát tỷ lệ ung thư TTL ở nam giới từ 50 tuổi trở lên đến khám tại bệnh viện Bình Dân từ 6/2008 đến 6/2010. Mục tiêu chuyên biệt Xác định tỷ lệ đàn ông ≥ 50 tuổi có TTL bất thường qua thăm khám trực tràng. Xác định tỷ lệ bất thường của nồng độ PSA/huyết thanh ở đàn ông ≥ 50 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh. Khảo sát sự biến đổi mô học ở những trường hợp sinh thiết TTL ở đàn ông ≥ 50 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh: tỷ lệ ung thư TTL, loạn sản trong biểu mô TTL, viêm TTL, phì đại lành tính TTL. ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP Thông báo rộng rãi (tại BV và qua phương tiện truyền thông đại chúng) về sự cần thiết kiểm tra tuyến tiền liệt cho tất cả mọi người đàn ông trên 50 tuổi có thể đến BV Bình Dân thực hiện nếu có yêu cầu. Có lịch khám và phân công cụ thể. Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang mang tính tầm soát trên những đối tượng nguy cơ. Tất cả các bệnh nhân đến khám theo thông báo tại ngoại chẩn Niệu BV Bình Dân, tuổi từ 50 trở lên, được tư vấn và đồng ý tham gia quy trình nghiên cứu. Giải thích cho ứng viên quy trình cũng như những nguy cơ có thể xảy ra khi tham gia nghiên cứu. Người nào đồng ý sẽ ký vào tờ cam kết. Tiến hành lấy mẫu nước tiểu làm xét nghiệm phân tích thường quy. Xét nghiệm PSA huyết thanh (thực hiện sau khi có yếu tố gây tăng giả tạo cần hiệu chỉnh). Tiến hành thăm khám trực tràng (DRE). Siêu âm ngả trực tràng (TRUS). Tiến hành sinh thiết 6 mẫu cải biên đối với những trường hợp nghi ngờ ung thư TTL, nếu có: - DRE có nhân cứng nghi ung thư, - hoặc PSA > 10 ng/mL, - hoặc 4 < PSA(ng/mL) ≤ 10 và % fPSA ≤ 20%. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Bình Dân 2012 337 Thu thập các biến chứng xảy ra do sinh thiết và kết quả giải phẫu bệnh. Định giai đoạn những trường hợp có kết quả sinh thiết là ung thư. Tiêu chuẩn loại trừ Bệnh nhân có rối loạn đông máu nặng, trĩ, hẹp hậu môn hoặc kèm theo viêm nhiễm vùng tầng sinh môn. KẾT QUẢ Từ 06/2008 đến 06/2010, đã lựa chọn được 1098 trường hợp (TH) thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu. Đặc điểm mẫu nghiên cứu Phân bố theo tuổi Tuổi trung bình trong mẫu nghiên cứu là 62,5 ± 3,4. Tuổi nhỏ nhất là 50 và lớn nhất là 93 tuổi. Trong đó 83,79% TH trong độ tuổi 50 đến 65 tuổi. 10% TH > 70 tuổi. Trong số 33 trường hợp ung thư, tuổi trung bình là 65,4 ± 5,3. Phân bố theo nơi cư trú Số trường hợp Tỷ lệ(%) TP HCM 896 81,61 Các tỉnh 202 18,39 Tổng 1098 100,00 Phân bố theo kết quả thăm khám trực tràng (DRE) DRE Số trường hợp Tỷ lệ % Bình thường 941 85,7 Bất thường 157 14,3 Tổng 1098 100,0 Phân bố theo PSA huyết thanh PSA (ng/ml) Số trường hợp Tỷ lệ % PSA ≤ 4 860 78,32 4 <PSA ≤10 140 12,75 10<PSA ≤ 30 42 3,82 30<PSA≤ 50 35 3,18 50< PSA 21 1,93 Tổng 1098 100,0 Phân bố theo kết quả GPBL Số TH Tỷ lệ (%) Bình thường, BPH1 hay viêm mạn tính TTL 105 47,3 PIN2 thấp 63 28,38 PIN cao 21 9,5 Carcinoma tuyến 33 14,82 Tổng 222 100,00 Phân bố theo độ biệt hóa tế bào ung thư ở những TH sinh thiết dương tính Độ biệt hóa Tổng Tốt Vừa Kém 11 10 12 33 33,33 30,3 36,37 100% Các biến chứng do sinh thiết TTL Biến chứng Số trường hợp Tỷ lệ (%) Đau 42 18,92 Tiểu máu đại thể 45 20,28 Chảy máu niệu đạo 5 02,25 Xuất tinh máu 4 1,80 Chảy máu trực tràng 11 4,96 Bí tiểu cấp 7 03,15 Choáng 0 0 Không biến chứng 108 48,64 Tổng 222 100 PHÂN BỐ KQ GPB THEO PSA KHI DRE BẤT THƯỜNG 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% PS A= <4 4< PS A= <1 0 10 <P SA =< 30 30 <P SA =< 50 PS A> 50 Lành Tính HIGH PIN Carcinom Nhận xét: Có sự gia tăng phát hiện ung thư theo trị số PSA, sự gia tăng có ý nghĩa thống kê (test 2, p << 0,05). 1 Phì đại lành tính 2 Tân sinh trong biểu mô tuyến tiền liệt (prostatic intraepithelial neoplasia) Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Bình Dân 2012 338 Phân bố kết quả GPBL theo trị số PSA khi DRE bất thường DRE bất thường Bình thường, BPH hay viêm mạn tính TTL PIN thấp PIN cao Carcinoma tuyến Tổng PSA (ng/mL) PSA ≤ 4 19 TH 2 TH 2 TH 1 TH 24 TH 79,17% 8,33% 8,33% 4,17% 100% 4 <PSA ≤10 28 TH 30 TH 4 TH 3 TH 65 TH 43,08% 46,15% 6,15% 4,62% 100% 10<PSA≤30 8 TH 6 TH 6 TH 8 TH 28 TH 28,57% 21,43% 21,43% 28,57% 100% 30<PSA≤ 50 7 TH 6 TH 3 TH 9 TH 25 TH 28% 24% 12% 36% 100% 50< PSA 4 TH 3 TH 1 TH 7 TH 15 TH 26,67% 20% 6,67% 46,66% 100% Tổng 66 TH 47 TH 16 TH 28 TH 157 TH 42,04% 29,94% 10,19% 17,83% 100% Phân bố kết quả GPBL theo PSA huyết thanh/ DRE bình thường DRE bình thường Bình thường, BPH hay viêm mạn tính TTL PIN thấp PIN cao Carcinoma tuyến Tổng PSA (ng/mL) 4 <PSA ≤10 và % fPSA ≤ 20 27 TH 6 TH 1 TH 1 TH 35 TH 77,14% 17,14% 2,86% 2,86% 100% 10<PSA ≤ 30 4 TH 8 TH 1 TH 1 TH 14 TH 28,58% 57,14% 7,14% 7,14% 100% 30<PSA≤ 50 6 TH 1 TH 2 TH 1 TH 10 TH 60% 10% 20% 10% 100% 50< PSA 2 TH 1 TH 1 TH 2 TH 6 TH 33,33% 16,67% 16,67% 33,33% 100% Tổng 39 TH 16 TH 5 TH 5 TH 65 TH 60% 24,6% 7,7% 7,7% 100% PHÂN BỐ KQ GPB THEO PSA KHI DRE BÌNH THƯỜNG 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% 450 Lành Tính HIGH PIN Carcinom Nhận xét: Có sự gia tăng phát hiện ung thư theo trị số PSA, sự gia tăng có ý nghĩa thống kê (test 2, p << 0.05) Phân bố kết quả GPBL theo kết quả DRE khi PSA ≤ 10ng/mL PHÂN BỐ KQ GPB THEO DRE KHI PSA=<10ng/ml 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100% DRE (-) DRE (+) Lành tính HIGH PIN Carcinom Nhận xét: trong số 124 trường hợp được sinh thiết có PSA huyết thanh ≤ 10ng/mL, phát hiện 5 trường hợp ung thư, chiếm 4,02%. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Bình Dân 2012 339 Khi kết quả DRE bình thường, tỷ lệ carcinoma tuyến là 2,86%. Khi kết hợp kết quả DRE bất thường, tỷ lệ này tăng lên 4,49%. Sự gia tăng khác biệt có ý nghĩa thống kê (test 2, p < 0.05). Phân bố kết quả GPBL theo kết quả DRE khi PSA ≥ 10ng/mL. PHÂN BỐ KQ GPB THEO DRE KHI PSA>10ng/ml 0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% DRE (-) DRE (+) Lành tính HIGH PIN Carcinom Nhận xét: trong số 98 trường hợp có PSA huyết thanh ≥ 10ng/mL được sinh thiết, phát hiện 28 trường hợp ung thư, chiếm 28,57%. Khi kết quả DRE bình thường, tỷ lệ carcinoma tuyến là 13,33%. Khi kết hợp kết quả DRE bất thường, tỷ lệ này tăng lên 35,30%. Sự gia tăng khác biệt có ý nghĩa thống kê (test 2, p << 0.05). Phân bố độ biệt hóa tế bào ung thư theo PSA huyết thanh PHÂN BỐ ĐỘ BIỆT HÓA TB THEO PSA 0% 20% 40% 60% 80% 100% 120% PS A =< 4 4< P SA =< 10 10 <P SA =< 30 30 <P SA =< 50 PS A >5 0 T Ỷ L Ệ B N TỐT TRUNG BÌNH KÉM Nhận xét: đối với ung thư tuyến tiền liệt, khi PSA càng cao thì độ biệt hóa càng kém. Sự gia tăng khác biệt có ý nghĩa thống kê (test 2, p << 0,05). BÀN LUẬN Tuổi Ung thư TTL là bệnh của người lớn tuổi, có khoảng 75 - 80% trường hợp ung thư mới chẩn đoán xảy ra ở những người đàn ông tuổi trên 65(7,12). Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình của các bệnh nhân ung thư TTL được chẩn đoán là 65,4, khá trẻ hơn so với các nghiên cứu của Nguyễn Việt Hải, Nguyễn Thụy Linh, Đỗ Anh Toàn, tuổi trung bình của các trường hợp ung thư là từ 71,47 đến 74,43(5,10). Có thể vì trong số 1098 trường hợp tham gia tầm soát, có đến 83,97% TH nằm trong độ tuổi 50-65, nên chúng tôi đã phát hiện được nhiều trường hợp ung thư ở độ tuổi còn khá trẻ so với các nhóm bệnh nhân của các nghiên cứu khác. Theo khuyến cáo của Hội Ung Thư Hoa Kỳ là nên bắt đầu quá trình tầm soát ung thư từ tuổi 50, thậm chí sớm hơn ở tuổi 40, 45 nếu có kèm theo nhiều yếu tố nguy cơ, ví dụ như có một hay nhiều người có quan hệ huyết thống bị ung thư TTL. Bàn luận về tỷ lệ ung thư TTL ở những bệnh nhân có gia tăng PSA huyết thanh Trong khi DRE và TRUS phần nào có tính chủ quan, thì xét nghiệm PSA huyết thanh là khách quan và có khả năng giúp đánh giá nguy cơ ung thư của bệnh nhân, đây cũng là xét nghiệm có giá trị tiên đoán ung thư cao nhất trong các xét nghiệm tầm soát ung thư TTL(3). Tỷ lệ ung thư TTL gia tăng theo trị số PSA huyết thanh. Khi PSA < 4ng/ml, tỷ lệ sinh thiết dương tính là 1/50(3). Theo Catalona & cs(3), tỷ lệ sinh thiết dương tính là 1/3 khi PSA  4ng/mL, khi PSA 4 – 10ng/mL tỷ lệ này là 1/4, và khi PSA > 10ng/mL thì tỷ lệ này tăng lên 1/2 đến 2/3. Chúng tôi có 222 TH được sinh thiết để chẩn đoán ung thư TTL. Trong 65 TH có DRE bình thường được sinh thiết vì có PSA gia tăng, chúng tôi phát hiện 5 TH ung thư (chiếm 7,7%). Khi PSA tăng thì khả năng phát hiện ung thư gia tăng theo có ý nghĩa Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Bình Dân 2012 340 thống kê. Với 157 TH có DRE bất thường, tỷ lệ phát hiện ung thư cũng gia tăng đáng kể khi PSA gia tăng. Đối chiếu với các tác giả trên, thì tỷ lệ ung thư phát hiện được ở từng lớp PSA trong nghiên cứu của chúng tôi có thấp hơn, nguyên nhân có thể vì sự khác nhau trên 2 mặt: dịch tễ học ung thư TTL và kỹ thuật sinh thiết. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy PSA càng cao thì khả năng phát hiện ung thư càng nhiều. Nhận định này cũng tương tự với các tác giả khác, chẳng hạn(3): khi DRE bình thường và PSA > 4ng/mL, tỷ lệ ung thư theo các tác giả lần lượt là 12% (Hammerer & cs, 1994), 24% (Ellis & cs, 1994) và 25% (Cooner & cs, 1993). Hơn nữa, tỷ lệ này lần lượt tăng lên 72%, 42% và 62% khi kết hợp với kết quả DRE bất thường. Dù rằng số liệu của các công trình nghiên cứu không tương đồng nhau, nhưng phần nào đã khẳng định sự gia tăng đáng kể nguy cơ ung thư TTL khi đồng thời có bất thường trên kết quả xét nghiệm PSA huyết thanh và DRE. Chúng tôi chú ý nhiều vào nhóm bệnh nhân có gia tăng trị số PSA huyết thanh trong khoảng 4 – 10ng/mL, vì sự gia tăng PSA trong khoảng này có nguyên nhân trùng lắp giữa nhóm bệnh nhân bị ung thư và BPH(4). Trong số 1098 bệnh nhân được tầm soát: có 140 bệnh nhân có 4<PSA≤ 10. Chúng tôi sinh thiết 35 TH vì có %fPSA ≤ 20, phát hiện được 3 TH ung thư, chiếm 4,62%. Vì thời gian nghiên cứu tương đối ngắn, chúng tôi chỉ tập trung tìm tỷ lệ ung thư TTL trong mẫu nghiên cứu, nên hy vọng trong những nghiên cứu tiếp theo chúng tôi sẽ mở rộng đánh giá vai trò của các tham số khác như tốc độ gia tăng PSA, tỷ trọng PSA. Trong việc chọn lựa đối tượng sinh thiết, nhằm cải thiện độ chuyên biệt của PSA huyết thanh trong chẩn đóan ung thư TTL. Bàn luận về tỷ lệ ung thư TTL ở những bệnh nhân có kết quả DRE bất thường Trước khi có xét nghiệm PSA huyết thanh, DRE giữ vai trò chủ đạo trong phát hiện bệnh và chẩn đoán giai đoạn ung thư TTL. Vì đa số ung thư TTL xuất phát từ mô tuyến vùng ngoại vi nên có thể phát hiện qua DRE. Tuy nhiên, để DRE có thể phát hiện được, khối bướu phải có kích thước từ 0,2ml trở lên(1). Tuy rằng kỹ thuật DRE có độ nhạy phát hiện ung thư thấp nhưng là một trong hai khám nghiệm đầu tiên được công nhận để phát hiện sớm ung thư TTL(2,8,9). Với 65 bệnh nhân có DRE bình thường được sinh thiết vì gia tăng PSA, phát hiện được 5 TH ung thư, chiếm 7,7%.Với 157 bệnh nhân có DRE bất thường được sinh thiết, phát hiện 28 TH ung thư, chiếm 17,83 %. Kết quả này cho thấy, nếu nghi ngờ ung thư khi thăm khám lâm sàng (DRE) thì khả năng bệnh nhân bị ung thư gia tăng đáng kể. Trong khi đó, nếu tầm soát dựa trên sự kết hợp đồng thời của DRE, PSA huyết thanh và TRUS thì có đến 2/3 trường hợp ung thư được chẩn đoán còn ở giai đoạn khu trú(3). Bàn luận về độ biệt hóa của tế bào ung thư Độ biệt hóa của tế bào ung thư liên quan mật thiết với hoạt tính và giai đoạn bệnh học của ung thư như: Mức độ lan rộng của bệnh và khả năng di căn hạch, di căn xương cũng như liên quan đến khả năng đáp ứng với điều trị. Kết quả từ 2096 bệnh nhân được cắt TTL tận gốc(3), cho thấy độ biệt hóa tế bào ung thư liên quan mật thiết với giai đoạn bệnh học của bướu. Mức độ lan rộng của ung thư liên quan với mức độ biệt hóa tế bào. Trong nghiên cứu này, trong số 33 trường hợp carcinoma tuyến có: 11 trường hợp có độ biệt hóa tốt, 10 TH có độ biệt hóa vừa, 12 TH có độ biệt hóa kém. Chúng tôi nhận thấy rằng, những TH ung thư có trị số PSA càng cao thì độ biệt hóa tế bào càng kém. Do vậy, đối với một khối ung thư đã được xác định thì PSA cũng là một yếu tố tiên lượng. Bàn về quan điểm tầm soát ung thư TTL Cho đến hiện nay, vấn đề tầm soát ung thư TTL chưa được thống nhất, vì theo y học chứng cứ thì hiệu quả của chương trình tầm soát ung thư TTL chỉ đạt được chứng cứ mức độ II (kết quả từ những nghiên cứu đoàn hệ dựa trên cộng Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật BV. Bình Dân 2012 341 đồng hay những nghiên cứu bệnh chứng) và mức chứng cứ độ III (kết quả từ những nghiên cứu phân tích hàng loạt các trường hợp bệnh lý, hay từ quan điểm của các chuyên gia), còn thiếu chứng cứ loại I (kết quả từ những thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng- RCT), là chứng cứ quan trọng nhất quyết định cho việc áp dụng rộng rãi trong cộng đồng(13). Việc tầm soát ung thư TTL được chia thành 3 hình thức như sau(13): - Tầm soát trong cộng đồng (hay tầm soát hệ thống = systematic screening, tầm soát đại trà = mass screening): Là hình thức tầm soát được tiến hành như là chính sách quốc gia, không có tiêu chuẩn chọn lựa. - Tầm soát có lựa chọn (selective screening): Áp dụng cho một dân số đích, có tiêu chuẩn chọn lựa yếu tố nguy cơ rõ ràng. - Tìm bệnh (case finding) hay phát hiện sớm (early detection) ung thư TTL: Là phương pháp tương tự như chương trình tầm soát đại trà nhưng chỉ tiến hành dựa theo yêu cầu của bệnh nhân. Chương trình tầm soát hiệu quả cần đạt được các yêu cầu sau(6): - Quá trình chẩn đoán phải xâm hại tối thiểu và ít tốn kém nhất. - Giảm tử suất và cải thiện chất lượng cuộc sống khi ung thư được chẩn đoán sớm. - Sẵn có các phương pháp điều trị hiệu quả và ít tác dụng phụ. Cuối cùng, điều trị sớm ung thư phải chứng tỏ mang lại kết quả tốt hơn so với điều trị những trường hợp bệnh đã có biểu hiện lâm sàng. Tuy nhiên, cho tới nay, chương trình tầm soát ung thư TTL chưa hội đủ các tiêu chuẩn nêu trên. Hiện nay, Việt Nam cũng như các nước trong khu vực, chưa có thống nhất về quan điểm có nên tầm soát đại trà trong dân số hay không vì chưa làm sáng tỏ được lợi khía cạnh lợi ích và chi phí (cost-effective) của chương trình này. Tuy nhiên, kết quả từ nghiên cứu cho thấy tần suất ung thư TTL trong dân số nam g
Tài liệu liên quan