Nghiên cứu đặc điểm hoạt tính một số yếu tố đông máu ở thai phụ qua từng thời kì

Rối loạn đông cầm máu trong sản khoa là biến chứng thường gặp. Nghiên cứu hoạt tính các yếu tố đông máu trong quá trình mang thai là cần thiết, góp phần có biện pháp dự phòng chảy máu hay huyết khối khi sinh. Mục tiêu: Mô tả sự thay đổi hoạt tính một số yếu tố đông máu ở phụ nữ mang thai và mối liên quan với tuổi thai. Đối tượng và phương pháp: Mô tả ‐ cắt ngang, 273 thai phụ khám tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ 5/2011 đến 11/2012. Kết quả: Ở thai phụ 3 tháng đầu thì hoạt tính các yếu tố đông máu II, V, VII, VIII, IX, X, XI, XII là 94,91%; 73,99%; 87,86%; 68,30%; 74,95%; 96,89%; 82,5%; 56,38%. Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố V, VIII, XI, XII giảm, lần lượt là 12,1 %, 26,4%; 12,1% và 54,9%. Ở thai phụ 3 tháng giữa thì hoạt tính các yếu tố đông máu II, V, VII, VIII, IX, X, XI, XII là 98,55%; 66,12%; 133,94%; 88,33%; 79,26%; 114,46%; 80,21%; 81,56%. Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố VII, X tăng là 28,8% và 11,2%. Hoạt tính yếu tố V, XI và XII giảm lần lượt là: 31,2 %; 25% và 21,6 %. Ở thai phụ 3 tháng cuối thì hoạt tính các yếu tố đông máu II, V, VII, VIII, IX, X, XI, XII là 93,41%; 79,36%; 155,93%; 123,75%; 108,64%; 136,45%; 87,36%; 121,93%. Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố VII, X, VIII và XII tăng lần lượt là: 36,3%; 25,5%; 27,5% và 17,6%. Thai phụ có hoạt tính yếu tố V giảm là 13,7 %. Thời kì đầu mang thai có tỉ lệ đáng kể thai phụ giảm hoạt tính các yếu tố V, VIII, XI. Tuổi thai càng lớn thì hoạt tính yếu tố đông máu nội sinh VIII, IX, XI, XII và yếu tố đông máu ngoại sinh VII, X càng tăng. Kết luận: Có xu hướng tăng đông ở phụ nữ mang thai, tuổi thai càng lớn thì số thai phụ có biểu hiện tăng đông càng nhiều.

pdf7 trang | Chia sẻ: thanhuyen291 | Ngày: 15/06/2022 | Lượt xem: 143 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu đặc điểm hoạt tính một số yếu tố đông máu ở thai phụ qua từng thời kì, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 5 * 2013  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học  277 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM HOẠT TÍNH MỘT SỐ YẾU TỐ ĐÔNG MÁU   Ở THAI PHỤ QUA TỪNG THỜI KÌ  Phạm Quang Vinh*, Nguyễn Huy Bạo**, Nguyễn Tuấn Tùng*, Đỗ Tiến Dũng*   TÓM TẮT  Rối loạn đông cầm máu trong sản khoa là biến chứng thường gặp. Nghiên cứu hoạt tính các yếu tố đông  máu trong quá trình mang thai là cần thiết, góp phần có biện pháp dự phòng chảy máu hay huyết khối khi sinh.   Mục tiêu: Mô tả sự thay đổi hoạt tính một số yếu tố đông máu ở phụ nữ mang thai và mối liên quan với  tuổi thai.   Đối  tượng và phương pháp: Mô tả ‐ cắt ngang, 273 thai phụ khám tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ  5/2011 đến 11/2012.   Kết quả: Ở  thai phụ 3  tháng đầu  thì hoạt  tính các yếu  tố đông máu  II, V, VII, VIII,  IX, X, XI, XII  là  94,91%; 73,99%; 87,86%; 68,30%; 74,95%; 96,89%; 82,5%; 56,38%. Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố V, VIII,  XI, XII giảm, lần lượt là 12,1 %, 26,4%; 12,1% và 54,9%. Ở thai phụ 3 tháng giữa thì hoạt tính các yếu tố đông  máu II, V, VII, VIII, IX, X, XI, XII là 98,55%; 66,12%; 133,94%; 88,33%; 79,26%; 114,46%; 80,21%; 81,56%.  Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố VII, X tăng là 28,8% và 11,2%. Hoạt tính yếu tố V, XI và XII giảm lần lượt là:  31,2 %; 25% và 21,6 %. Ở thai phụ 3 tháng cuối thì hoạt tính các yếu tố đông máu II, V, VII, VIII, IX, X, XI,  XII là 93,41%; 79,36%; 155,93%; 123,75%; 108,64%; 136,45%; 87,36%; 121,93%. Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính  yếu tố VII, X, VIII và XII tăng lần lượt là: 36,3%; 25,5%; 27,5% và 17,6%. Thai phụ có hoạt tính yếu tố V giảm  là 13,7 %. Thời kì đầu mang thai có tỉ lệ đáng kể thai phụ giảm hoạt tính các yếu tố V, VIII, XI. Tuổi thai càng  lớn thì hoạt tính yếu tố đông máu nội sinh VIII, IX, XI, XII và yếu tố đông máu ngoại sinh VII, X càng tăng.   Kết luận: Có xu hướng tăng đông ở phụ nữ mang thai, tuổi thai càng lớn thì số thai phụ có biểu hiện tăng  đông càng nhiều.   Từ khóa: yếu tố đông máu, thai phụ, tuổi thai  ABSTRACT  STUDY ON ACTIVATED CLOTTING FACTORS IN WOMEN WITH PREGNANCY  Pham Quang Vinh, Nguyen Huy Bao, Nguyen Tuan Tung, Do Tien Dung   * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 5 ‐ 2013: 277 ‐ 283  Hemostatic  coagulation  disorders  in  obstetrics  are  common. Research  activity  of  clotting  factors  during  pregnancy is necessary to take measures to prevent bleeding or thrombosis in the childbirth process.   Objective: Describe some changes activity of clotting factors in pregnant women and the relationship with  gestational age.  Subjects and methods: 273 pregnant women at Hanoi obstetrics and gynecology hospital  from  January 5/2012 of May 12/2012; studies have cross‐sectional, descriptive.   Results: In the first quarter pregnancy, the activity of clotting factors II, V, VII, VIII, IX, X, XI, XII  is 94.91%, 73.99%, 87.86%, 68.3%, 74.95%, 96.89%, 82.5%, 56.38%. Pregnant women rate decreased  activity factors V, VIII, XI, XII is respective 12.1%, 26.4%, 12.1% and 54.9%. 2nd quarter pregnancy:  * Bệnh viện Bạch Mai  ** Bệnh viện Phụ sản Hà Nội  Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Tuấn Tùng   ĐT: 0912 110 905   Email: tunghhbm@yahoo.com  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 5 * 2013 Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học  278 the activity of clotting  factors  II, V, VII, VIII,  IX, X, XI, XII  is 98.55%, 66.12%, 133.94%, 88.33%;  79.26%,  114.46%,  80.21%,  81.56%.  Percentage  of  pregnant  women  with  factor  VII,  X  increased  activity is 28.8% and 11.2%. The activity factors V, XI and XII respectively reduced: 31.2%, 25% and  21.6%. 3rd quarter pregnancy: the activity of clotting factors II, V, VII, VIII, IX, X, XI, XII is 93.41%,  79.36%, 155.93%, 123.75%; 108.64%, 136.45%, 87.36%, 121.93%. Percentage of pregnant women who  have  activity  of  factors VII, X, VIII  and XII  increase  respectively: 36.3%, 25.5%, 27.5% and 17.6%.  13.7% pregnant women with activity of  factor V was  reduced. The greater gestational  age,  the more  increased the activity of endogenous clotting factors VIII, IX, XI, XII and exogenous VII, X.   Conclusion: There is increased clotting tendency in pregnant women, the greater gestational age,  the number of pregnant women more increased clotting.   Keywords: clotting factors, pregnancy, gestational age.  ĐẶT VẤN ĐỀ  Rối  loạn  đông cầm máu  là biến  chứng gặp  trong nhiều bệnh  thuộc  các  chuyên  khoa  khác  nhau. Bình thường, cơ thể  luôn có khả năng  tự  điều hòa hệ thống đông cầm máu nhằm giữ cho  hệ  thống này  ở  trạng  thái  cân bằng  động. Khi  trạng  thái này bị phá vỡ, rối  loạn đông máu sẽ  xảy  ra với  các biểu hiện như  chảy máu, huyết  khối,  hoặc  vừa  chảy  máu  vừa  huyết  khối,  trong  đó  chảy máu  đe  dọa  trực  tiếp  đến  tính  mạng người bệnh(6,5).  Trong quá  trình  thai nghén  có  sự  thay  đổi  trong cơ  thể người mẹ để phù hợp với sự xuất  hiện  của  thai  nhi  và  hỗ  trợ  cho  thai  nhi  phát  triển,  trong  đó  hệ  thống  đông  cầm máu  cũng  thay đổi. Tuy nhiên sự thay đổi này có thể gây  ra những biến chứng nguy hiểm cho mẹ và thai.  Chảy máu là một biến chứng rất nguy hiểm khi  sinh  đẻ,  là một  trong  những  nguyên  nhân  đe  dọa đến tính mạng sản phụ trong khi mang thai  và giai đoạn hậu sản. Trong sản khoa, cầm máu  tốt  đóng  vai  trò  quan  trọng  trong  thành  công  của một cuộc sinh nở. Việc hiểu biết rõ hơn về  tình trạng đông cầm máu trong khi mang thai là  cần thiết, giúp cho việc chẩn đoán sớm nguy cơ  chảy máu trong và sau khi sinh(3,2,7).   Nghiên  cứu  về  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông  máu  trong  quá  trình mang  thai  là một  trong  những  thăm dò góp phần hiểu biết  rõ hơn về  quá  trình  đông  cầm máu  ở  thai  phụ  từ  đó  có  những cảnh báo cần thiết khi sinh đẻ, làm giảm  thiểu những tai biến sản khoa.  Vì  vậy  để  góp  phần  đánh  giá  tình  trạng  đông cầm máu ở phụ nữ có thai. Chúng tôi thực  hiện đề tài này với các mục tiêu sau:  Mô tả đặc điểm hoạt tính một số yếu tố đông  máu ở phụ nữ có  thai khám  tại Bệnh viện Phụ  sản Hà Nội.   Tìm  hiểu mối  liên  quan  giữa  sự  thay  đổi  hoạt tính các yếu tố đông máu với tuổi thai.  ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu  Nhóm thai phụ  Gồm  273  thai  phụ,  trong  đó  91  thai  phụ  mang thai 3 tháng đầu, 80 thai phụ mang thai 3  tháng giữa và 102  thai phụ mang  thai 3  tháng  cuối đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ  tháng  5  năm  2011  đến  tháng  11  năm  2012  đủ  tiêu chuẩn nghiên cứu.  * Tiêu chuẩn phân chia  tuổi  thai  (1): Quý 1  (ba  tháng đầu):  tuần đầu  tiên  ‐ hết  tuần 13. Quý 2  (ba  tháng  giữa):  tuần  thứ  14  đến  hết  tuần  27.  Quý 3 (ba tháng cuối): từ tuần thứ 28 trở lên.  * Tiêu  chuẩn  loại  trừ: Loại  trừ khỏi nhóm  nghiên  cứu  các  thai  phụ:  có  tiền  sử  rối  loạn  đông máu, dùng  các  thuốc  có  thể  ảnh hưởng  đến đông máu.   Nhóm chứng  Gồm  45  phụ  nữ  khoẻ mạnh:  không mang  thai, có độ tuổi tương đương với nhóm thai phụ  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 5 * 2013  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học  279 nghiên cứu, không có tiền sử rối loạn đông máu,  không  dùng  các  thuốc  có  thể  ảnh  hưởng  đến  đông máu.  Phương pháp nghiên cứu  Thiết kế nghiên cứu  Nghiên cứu mô  tả cắt ngang có đối chứng.  Mỗi thai phụ có một phiếu nghiên cứu theo mẫu  thống nhất.  Các biến số nghiên cứu  ‐ Thông tin chung: Tuổi mẹ, tuổi thai, thứ tự  lần sinh.  ‐ Thông số đông máu:   + Định lượng hoạt tính các yếu tố đông máu  (YTĐM): II, V, VII, VIII, IX, X, XI, XII   +  So  sánh  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông máu  giữa nhóm thai phụ và nhóm chứng.  + Tính tỉ lệ bất thường các yếu tố đông máu  + So sánh và  tính  tỉ  lệ bất  thường hoạt  tính  các yếu tố đông máu theo tuổi thai.  Vật liệu nghiên cứu  2ml máu  tĩnh mạch buổi  sáng,  lúc  đói vào  ống nghiệm có sẵn chất chống đông natri citrate  3,8% với tỷ lệ chất chống đông với máu là 1:9.  Các kỹ thuật xét nghiệm và tiêu chuẩn đánh  giá  ‐ Các  kỹ  thuật  xét  nghiệm  được  thực  hiện  theo  quy  trình  đang  được  áp  dụng  tại  Khoa  Huyết học‐Truyền máu, Bệnh viện Bạch Mai.   ‐ Thực hiện định lượng hoạt tính các yếu tố  II, V, VII, VIII,  IX, X, XI, XII  trên máy CA‐1500  của  Sysmex  Nhật  Bản  và  hóa  chất  hãng  Siemems của Đức.  ‐ Đánh giá kết quả: Giá trị bình thường hoạt  tính các yếu tố đông máu: 50% ‐150%. Tăng khi  > 150%, giảm khi < 50%.  KẾT QUẢ  Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  Nghiên cứu 273 thai phụ, tuổi trung bình là  28,83. Chủ yếu mang thai lần 1 và 2 (39,6% lần 1  và 44,0% lần 2), mang thai lần 3 và trên 3 lần chỉ  chiếm 11,3 % và 5,1 %.   Đặc điểm hoạt tính các yếu tố đông máu ở  từng thai kỳ  Đặc điểm hoạt tính yếu tố đông máu của thai  phụ 3 tháng đầu  Hoạt  tính  yếu  tố  đông máu  ở  91  thai  phụ  mang thai 3 tháng đầu được trình bày ở bảng 1,  bảng 2:  Bảng 1. So sánh hoạt tính YTĐM giữa nhóm thai  phụ 3 tháng đầu với nhóm chứng  Nhóm YTĐM (%) Nhóm thai phụ Nhóm chứng p n SDx  n SDx  II 91 94,9120,08 45 111,60  11,94 < 0,01 V 91 73,9919,96 45 103,92  15,29 < 0,01 VII 91 87,8622,53 45 95,85  16,83 > 0,05 X 91 96,8921,10 45 95,25 20,04 > 0,05 VIII 91 68,3025,94 45 90,64  48,88 < 0,01 IX 91 74,9518,35 45 67,5817,63 < 0,05 XI 91 82,5031,33 45 95,4517,41 < 0,05 XII 91 56,3827,90 45 60,8425,79 > 0,05 Nhận xét: hoạt tính của yếu tố II, V, VIII, XI giảm và hoạt  tính yếu tố IX tăng rõ rệt so với nhóm chứng có ý nghĩa  thống kê.  Bảng 2. Tỷ lệ bất thường hoạt tính YTĐM ở thai  phụ 3 tháng đầu   YTĐM (%) Giảm Bình thường Tăng n % n % n % II 0 0 91 100 0 0 V 11 12,1 80 87,9 0 0 VII 1 1,1 88 96,7 2 2,2 X 1 1,1 88 96,7 2 2,2 VIII 24 26,4 66 72,5 1 1,1 IX 7 7,7 84 92,3 0 0 XI 11 12,1 75 82,4 5 5,5 XII 50 54,9 39 42,9 2 2,2 Nhận xét: hoạt tính yếu tố V, VIII, XI, XII giảm chiếm tỉ  lệ khá cao 12,1%; 26,4%; 12,1% và 54,9%. 100% trường  hợp có hoạt tính yếu tố II trong giới hạn bình thường.  Đặc điểm hoạt tính yếu tố đông máu của thai  phụ 3 tháng giữa  Qua nghiên cứu hoạt tính yếu tố đông máu  ở 80 thai phụ mang thai 3 tháng giữa, chúng tôi  thu được kết quả như sau:  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 5 * 2013 Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học  280 Bảng 3. So sánh hoạt tính YTĐM giữa nhóm thai  phụ 3 tháng giữa với nhóm chứng  Nhóm YTĐM (%) Nhóm thai phụ Nhóm chứng p n SDx  n SDx  II 80 98,5518,80 45 111,6011,94 <0,01 V 80 66,1228,05 45 103,9215,29 <0,01 VII 80 133,9437,33 45 95,85  16,83 <0,01 X 80 114,4629,17 45 95,25 20,04 <0,05 VIII 80 88,3334,49 45 90,64  48,88 >0,05 IX 80 79,2622,42 45 67,5817,63 <0,05 XI 80 80,2128,13 45 95,4517,41 <0,01 XII 80 81,5639,24 45 60,8425,79 <0,05 Nhận xét: hoạt tính yếu tố II, V, XI giảm có  ý  nghĩa  thống  kê  so  với  nhóm  chứng  với  p<0,01. Hoạt tính yếu tố VII, X, IX và XII tăng  rõ rệt so với nhóm chứng với p<0,05.  Bảng 4. Tỷ lệ bất thường hoạt tính YTĐM ở thai  phụ 3 tháng giữa  YTĐM (%) Giảm Bình thường Tăng n % n % n % II 0 0 80 100 0 0 V 25 31,2 54 67,5 1 1,2 VII 0 0 57 71,3 23 28,7 X 1 1,2 70 87,5 9 11,2 VIII 6 7,5 68 85,0 6 7,5 IX 4 5,0 76 95,0 0 0 XI 20 25,0 56 70,0 4 5,0 XII 13 21,6 63 78,8 4 5,0 Nhận xét: Hoạt tính yếu tố V, XI, XII giảm  gặp tỉ lệ khá cao: 31,2%, 25%, 21,6%. Tỉ lệ thai  phụ có hoạt tính yếu tố VII, X tăng là: 28,7% và  11,2%.  Đặc điểm hoạt tính yếu tố đông máu của thai  phụ 3 tháng cuối  Nghiên cứu hoạt tính yếu tố đông máu ở 102  thai phụ mang  thai 3  tháng cuối, chúng  tôi  thu  được kết quả như sau:  Bảng 5. So sánh hoạt tính YTĐM giữa nhóm thai  phụ 3 tháng cuối với nhóm chứng  Nhóm YTĐM (%) Nhóm thai phụ Nhóm chứng p n SDx  n SDx  II 102 93,4118,66 45 111,6011,94 <0,01 V 102 79,3630,22 45 103,9215,29 <0,01 VII 102 155,9354,12 45 95,85  16,83 <0,01 Nhóm YTĐM (%) Nhóm thai phụ Nhóm chứng p n SDx  n SDx  X 102 136,4548,23 45 95,25 20,04 <0,01 VIII 102 123,7545,35 45 90,64  48,88 <0,01 IX 102 108,6425,03 45 67,5817,63 <0,01 XI 102 87,3623,90 45 95,4517,41 >0,05 XII 102 121,9364,33 45 60,8425,79 <0,01 Nhận xét: Hoạt tính yếu tố II, V giảm có ý  nghĩa thống kê so với nhóm chứng. Ngược lại,  hoạt tính yếu tố VII, X, VIII, IX và XII cao hơn  nhóm chứng rõ rệt (p<0,01).  Bảng 6. Tỷ lệ bất thường về hoạt tính YTĐM ở thai  phụ 3 tháng cuối  YTĐM (%) Giảm Bình thường Tăng n % n % n % II 0 0 102 100 0 0 V 14 13,7 85 83,3 3 2,9 VII 0 0 65 63,7 37 36,3 X 0 0 76 74,5 26 25,5 VIII 4 3,9 70 68,6 28 27,5 IX 0 0 99 97,1 3 2,9 XI 5 4,9 97 95,1 0 0 XII 3 2,9 81 79,4 18 17,6 Nhận xét: Tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố V  giảm là 13,7% và tăng hoạt tính yếu tố VII, X, VIII  và XII lần lượt là: 36,3%; 25,5%; 27,5%; 17,6%.  Thay đổi hoạt  tính yếu  tố đông máu  theo  tuổi thai  Bảng 7: So sánh hoạt tính các yếu tố đông máu theo  tuổi thai  YTĐM (%) Quý 1 Quý 2 Quý 3 p II 94,91 20,08 98,55 18,80 93,41 18,66 p12, p13, p23>0,05 V 73,99 19,96 66,12 28,05 79,36 30,22 p12, p13>0,05; p23<0,01 VII 87,86 22,53 133,94 37,33 155,93 54,12 p12, p13, p23<0,01 X 96,89 21,10 114,46 29,17 136,45 48,23 p12, p13, p23<0,01 VIII 68,30 25,94 88,33 34,49 123,75 45,35 p12, p13, p23<0,01 IX 74,95 18,35 79,26 22,42 108,64 25,03 p12>0,05; p13, p23<0,01 XI 82,5 56,24 80,21 28,21 87,36 23,90 p12>0,05; p13, p23<0,05 XII 56,38 27,90 81,56 39,24 121,93 64,33 p12, p13, p23<0,01 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 5 * 2013  Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học  281 Nhận xét: hoạt tính yếu tố VII, X, VIII, IX,  XI, XII tăng theo tuổi thai và cao nhất ở quý 3  thai kì.  Bảng 8. So sánh tỷ lệ hoạt tính các yếu tố đông máu  bất thường theo tuổi thai  n YTĐM Bình thường Tăng Giảm Q1 Q2 Q3 Q1 Q2 Q3 Q1 Q2 Q3 II 91 80 102 0 0 0 0 0 0 V 80 54 85 0 1 3 11 25 14 VII 88 57 65 2 23 37 1 0 0 X 88 70 76 2 9 26 1 1 0 VIII 66 68 70 1 6 28 24 6 4 IX 84 76 99 0 0 3 7 4 0 XI 75 56 97 5 4 0 11 20 5 XII 39 63 81 2 4 18 50 13 3 *Q1: quí 1; Q2: quí 2; Q3: quí 3  Nhận xét: tuổi thai càng cao thì càng nhiều  thai phụ  có  hoạt  tính  yếu  tố VII, X, VIII, XII  tăng.  BÀN LUẬN  Đặc điểm hoạt tính các yếu tố đông máu ở  từng thời kì mang thai  Đặc điểm hoạt tính các yếu tố đông máu thai  phụ 3 tháng đầu  Qua kết quả nghiên  cứu hoạt  tính  yếu  tố  đông máu ở 91 thai phụ mang thai quý 1 (bảng  1  và  3.2)  cho  thấy  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông  máu ngoại  sinh:  II, V  là 94,91%; 73,99% giảm  rõ rệt so với nhóm chứng, Hoạt tính yếu tố VII,  X (87,86% và 96,89%) thay đổi không đáng kể  so với nhóm chứng. Tuy nhiên khi phân tích tỉ  lệ  bất  thường  các  yếu  tố  này  chúng  tôi  thấy  hoạt tính yếu tố II, VII, X đa số nằm trong giới  hạn bình thường, chỉ 12,1 % có hoạt tính yếu tố  V giảm.  Nghiên cứu hoạt tính các yếu tố đông máu  nội  sinh, chúng  tôi  thấy hoạt  tính yếu  tố VIII  (68,30%) và XI (82,5%) giảm, yếu tố IX (74,95%)  tăng  rõ  rệt,  còn hoạt  tính yếu  tố XII  (56,38%)  thay  đổi không  đáng kể  so với nhóm  chứng.  Khi phân tích tỉ lệ bất thường hoạt tính các yếu  tố này chúng tôi gặp tỉ lệ thai phụ có hoạt tính  yếu  tố  VIII,  XI,  XII  giảm,  lần  lượt  là  26,4%;  12,1% và 54,9%.   Như vậy, ở 3 tháng đầu mang thai hoạt tính  các yếu tố đông máu ngoại sinh và nội sinh ở các  thai phụ đa số  là bình  thường. Tuy nhiên, gặp  một tỉ lệ thai phụ có hoạt tính yếu tố II, V, VIII,  XI, XII giảm và hoạt tính yếu tố IX tăng.   Đặc điểm hoạt tính các yếu tố đông máu thai  phụ 3 tháng giữa  Nghiên cứu hoạt  tính các yếu  tố đông máu  ngoại sinh thai phụ 3 tháng giữa, kết quả bảng 3  và  3.4  cho  thấy hoạt  tính yếu  tố  II, V  (98,55%;  66,12%) giảm, hoạt tính yếu tố VII và X (133,94%  và 114,46%) tăng cao rõ rệt so với nhóm chứng.  Khi  phân  tích  tỉ  lệ  bất  thường  chúng  tối  thấy  càng rõ rệt hơn những  thay đổi của các yếu  tố  này, đó là gặp 31,2 % thai phụ có hoạt tính yếu  tố V thấp hơn bình thường. 28,8% và 11,2% thai  phụ có hoạt  tính yếu  tố VII và X cao hơn bình  thường. Tuy nhiên không gặp  thai phụ nào có  hoạt tính yếu tố II thấp hơn giá trị bình thường.  Hoạt tính các yếu tố thuộc đường đông máu  nội sinh IX, XII (79,26%; 81,56%) tăng cao, yếu tố  XI  (80,21%)  giảm,  yếu  tố VIII  thay  đổi  không  đáng kể so với nhóm chứng. Khi phân tích tỉ lệ  bất  thường, chúng  tôi  thấy  đa  số hoạt  tính  các  yếu  tố  đông máu nội  sinh  ở  thai phụ  3  tháng  giữa nằm trong giới hạn bình thường, tuy nhiên  cũng gặp 25% và 21,6 %  thai phụ  có hoạt  tính  yếu  tố XI và XII  thấp hơn giá  trị bình  thường.  Nghiên cứu của Domenico (2005) cho thấy trong  quá trình mang thai hoạt tính yếu tố VII, X tăng,  yếu tố VIII tăng ở những tháng cuối mang thai,  hoạt  tính yếu  tố XI giảm, yếu  tố  II, V  thay  đổi  không đáng kể(8).  Như  vậy,  thai  phụ  3  tháng  giữa  có  giá  trị  trung bình hoạt tính yếu tố II, V giảm, hoạt tính  yếu  tố VII, X,  IX, XII  tăng,  trong  đó  có  31,2%,  25% và 21,6% thai phụ có hoạt tính yếu tố V, XI  và XII giảm, 11,2% thai phụ có hoạt tính yếu tố X  tăng.  Đặc điểm hoạt tính các yếu tố đông máu thai  phụ 3 tháng cuối  Nghiên cứu kết quả bảng 5 và 3.6 hoạt tính  các  yếu  tố  đông  máu  ngoại  sinh  ở  thai  phụ  Nghiên cứu Y học  Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Số 5 * 2013 Chuyên Đề Truyền Máu – Huyết Học  282 mang thai 3 tháng cuối, cho thấy tương tự như  kết quả nghiên  cứu  ở 3  tháng giữa,  đó  là hoạt  tính yếu tố II, V (93,41%; 79,36%) giảm, hoạt tính  yếu tố VII và X (155,93% và 136,45%) tăng cao rõ  rệt so với nhóm chứng. Kết quả nghiên cứu của  Uchikova  (2004)  và  nghiên  cứu  của  Hoàng  Hương Huyền  (2010)  cũng  cho  thấy  hoạt  tính  các yếu tố VII, X ở thai phụ 3 tháng cuối tăng cao  rõ rệt so với nhóm chứng (p<0,01)(4,10). Khi phân  tích  tỉ  lệ bất  thường chúng  tối  thấy càng  rõ  rệt  hơn những  thay  đổi  của  các yếu  tố này,  đó  là  gặp 13,7 % thai phụ có hoạt tính yếu tố V thấp  hơn  bình  thường.  36,3%  và  25,5%  thai  phụ  có  hoạt tính yếu tố VII và X cao hơn bình thường.  Tuy nhiên không gặp thai phụ nào có hoạt tính  yếu tố II bất thường.  Hoạt tính các yếu tố thuộc đường đông máu  nội sinh VIII, IX, XII (123,75%; 108,64%; 121,93%)  tăng  cao,  yếu  tố  XI  (87,36%)  thay  đổi  không  đáng kể so với nhóm chứng. Kết quả nghiên cứu  của Hoàng Hương Huyền  cũng  cho  thấy hoạt  tính các yếu tố VIII, IX ở  thai phụ 3  tháng cuối  tăng  cao  rõ  rệt  so  với  nhóm  chứng  (p<0,01)(4).  Khi phân  tích  tỉ  lệ  bất  thường,  chúng  tôi  thấy  hoạt tính các yếu tố đông máu VIII, XII cao hơn  bình  thường  là  27,5%  và  17,6%.  Kết  quả  này  càng  thể hiện  rõ hơn biểu hiện  tăng  đông  của  con đường đông máu nội sinh.  Như  vậy  ở  thai  phụ  3  tháng  cuối  có  hiện  tượng tăng hoạt tính các yếu tố VII, X, VIII, XI và  XII. Đồng thời có hiện tượng giảm hoạt tính yếu  tố  II và V. Trong đó  tỉ  lệ  thai phụ có hoạt  tính  yếu  tố VII, X, VIII và XII cao hơn bình  thường  lần lượt là: 36,3%; 25,5%; 27,5% và 17,6%. 13,7 %  thai phụ  có hoạt  tính  yếu  tố V  thấp  hơn  bình  thường.  Mối  liên quan giữa  sự  thay  đổi hoạt  tính  các yếu tố đông máu với tuổi thai  Kết  quả  bảng  7  hoạt  tính  các  yếu  tố  đông  máu ngoại sinh VII, X tăng theo tuổi thai rõ rệt,  cụ thể là: hoạt tính yếu tố VII, X ở quí 1 là 87,86%  và 96,89%, quí 3 tăng lên là 155,93% và 136,45%.  Hoạt tính yếu tố V cao nhất ở quí 3 so với 2 quí  còn  lại  (79,36% so với 73,99% và 66,12%). Hoạt  tính các yếu  tố đông máu nội sinh VIII,  IX, XI,  XII tăng theo tuổi thai và cao nhất ở quý 3 thai  kì. Hoạt tính yếu tố VIII, IX, XI, XII ở quí
Tài liệu liên quan