Nghiên cứu sự bộc lộ ER, PR, HER2 và nồng độ CA15-3 trong ung thư biểu mô vú xâm nhập

Ung thư vú là bệnh ác tính thường gặp nhất ở phụ nữ, các chọn lựa điều trị ung thư vú rất phức tạp và đa dạng. Các dấu ấn sinh học đơn độc hoặc kết hợp là nhu cầu cấp thiết để dự đoán sự tái phát bệnh và là cơ sở để đưa ra phác đồ điểu trị bổ trợ sau khi điều trị tại chỗ. Mục đích của nghiên cứu này là để xác định sự biểu lộ và mối liên quan giữa các dấu ấn sinh học (thụ thể nội tiết, HER2) và sự thay đổi nồng độ CA 15-3 với các yếu tố tiên lượng kinh điển ở bệnh nhân ung thư biểu mô vú xâm nhập. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 150 trường hợp ung thư biểu vú được nghiên cứu mô tả cắt ngang. Nhuộm hóa mô miễn dịch ER, PR và HER2 bằng kỹ thuật ABC. Sử dụng phương pháp sandwich để đo nồng độ CA15-3 huyết thanh sau mổ. Kết quả: Kích thước u thường gặp là 2-5cm (57,4%). Loại mô học hầu hết là thể ống xâm nhập (78,0%). ER, PR và HER2 dương tính ở 53,3%; 46,7% và 61,3% các trường hợp theo thứ tự. Nồng độ CA15-3 huyết thanh tăng sau khi phẫu thuật chiếm 56,0% các trường hợp. Độ mô học tương quan có ý nghĩa với ER (p<0,01, r = - 0,43), PR (p<0,001, r = -0,4), HER2 (p<0,01, r = 0,35) và với sự tăng nồng độ CA13-5 huyết thanh (p<0,05, r = 0,25) của bệnh nhân ung thư biểu mô vú xâm nhập. Tình trạng di căn hạch nách có tương quan có ý nghĩa với HER2 và sự tăng nồng độ CA15-3 huyết thanh (p=0,0001, r = 0,32). Kích thước u tương quan có ý nghĩa với HER2 và CA15-3 (p<0,01, r=0,25). Kết luận: Sự biểu lộ HER2 và sự tăng nồng độ CA15-3 huyết thanh của bệnh nhân ung thư biểu mô vú xâm nhập tương quan có ý nghĩa với các yếu tố tiên lượng truyền thống (kích thước u, độ mô học và tình trạng di căn hạch).

pdf7 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 13/06/2022 | Lượt xem: 273 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Nghiên cứu sự bộc lộ ER, PR, HER2 và nồng độ CA15-3 trong ung thư biểu mô vú xâm nhập, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh 108 NGHIÊN CỨU SỰ BỘC LỘ ER, PR, HER2 VÀ NỒNG ĐỘ CA15-3 TRONG UNG THƯ BIỂU MÔ VÚ XÂM NHẬP Đặng Công Thuận*, Nguyễn Phúc Duy Quang** TÓM TẮT Ung thư vú là bệnh ác tính thường gặp nhất ở phụ nữ, các chọn lựa điều trị ung thư vú rất phức tạp và đa dạng. Các dấu ấn sinh học đơn độc hoặc kết hợp là nhu cầu cấp thiết để dự đoán sự tái phát bệnh và là cơ sở để đưa ra phác đồ điểu trị bổ trợ sau khi điều trị tại chỗ. Mục đích của nghiên cứu này là để xác định sự biểu lộ và mối liên quan giữa các dấu ấn sinh học (thụ thể nội tiết, HER2) và sự thay đổi nồng độ CA 15-3 với các yếu tố tiên lượng kinh điển ở bệnh nhân ung thư biểu mô vú xâm nhập. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 150 trường hợp ung thư biểu vú được nghiên cứu mô tả cắt ngang. Nhuộm hóa mô miễn dịch ER, PR và HER2 bằng kỹ thuật ABC. Sử dụng phương pháp sandwich để đo nồng độ CA15-3 huyết thanh sau mổ. Kết quả: Kích thước u thường gặp là 2-5cm (57,4%). Loại mô học hầu hết là thể ống xâm nhập (78,0%). ER, PR và HER2 dương tính ở 53,3%; 46,7% và 61,3% các trường hợp theo thứ tự. Nồng độ CA15-3 huyết thanh tăng sau khi phẫu thuật chiếm 56,0% các trường hợp. Độ mô học tương quan có ý nghĩa với ER (p<0,01, r = - 0,43), PR (p<0,001, r = -0,4), HER2 (p<0,01, r = 0,35) và với sự tăng nồng độ CA13-5 huyết thanh (p<0,05, r = 0,25) của bệnh nhân ung thư biểu mô vú xâm nhập. Tình trạng di căn hạch nách có tương quan có ý nghĩa với HER2 và sự tăng nồng độ CA15-3 huyết thanh (p=0,0001, r = 0,32). Kích thước u tương quan có ý nghĩa với HER2 và CA15-3 (p<0,01, r=0,25). Kết luận: Sự biểu lộ HER2 và sự tăng nồng độ CA15-3 huyết thanh của bệnh nhân ung thư biểu mô vú xâm nhập tương quan có ý nghĩa với các yếu tố tiên lượng truyền thống (kích thước u, độ mô học và tình trạng di căn hạch). Từ khóa: ER, PR, HER2, CA15-3, ung thư vú xâm nhập. ABSTRACT THE EXPRESSION OF ER, PR, HER2 AND THE SERUM LEVELS OF CA15-3 IN INVASIVE BREAST CARCINOMA Dang Cong Thuan, Nguyen Phuc Duy Quang * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 15 - Supplement of No 2 - 2011: 107 - 113 Background: Breast cancer is the most common malignancy in women, the options for treatment of breast cancers are complex and varied. There is a need for biomarkers that would, alone or in combination with others, be sufficient to predict disease recurrence and the basis for supplemental treatment after local therapy. The aim of this study was to determine the expression and the association between the biomarkers (ER, PR, HER2), serum levels of CA 15-3 and traditional prognostic factors (tumor size, histological grading, lymph node status) in invasive breast carcinoma. Patients and methods: 150 patients with breast cancer are enrolled in our descriptive, cross-sectional study. ER, PR and HER2 were immunohistochemically stained by ABC method. CA15-3 in sera after operation was monitored by sandwich method. * Bộ môn GPB, Trường ĐHYD Huế ** Khoa GPB, BV Trung Ương Huế Tác giả liên lạc: TS. Đặng Công Thuận ĐT: 0913.427.196 Email: thuandangcong@gmail.com Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh 109 Results: The common size of the tumor was 2-5 cm in diameter in 86 patients (57.4%). 117 patients (78.0%) had invasive duct carcinoma. ER, PR, HER2 were positive in 53.3%, 46.7% and 61.3% of the total cases, respectively. Serum levels of CA15-3 increasing after operation comprised 56.0% of all cases. The histological grading had a significant correlation with the expression of ER (p<0.01, r = - 0.43), PR (p<0.001, r = - 0.4), HER2 (p<0.01, r = 0.35) and elevated serum levels of CA 15-3 (p<0.05, r = 0.25) in invasive breast carcinoma. Axillary lymph node metastasis status had a significant correlation with HER2 (p=0.0043, r = 0.23) and elevated serum levels of CA 15-3 (p=0.0001, r =0.32). Tumor size had a significant correlation with HER2 and CA15-3 (p<0.01, r = 0.25). Conclusions: The expression of HER2 and elevated serum levels of CA15-3 in invasive breast carcinoma significantly correlated with traditional prognostic factors (tumor size, histological grading and lymph node status). Key words: ER, PR, HER2, CA15-3, invasive breast carcinoma ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ Hoa Kỳ (2006). Năm 2008, theo điều tra của IARC, ung thư vú đứng hàng thứ hai trong các loại ung thư ở châu Âu và là một trong những nguyên nhân gây tử vong trong ung thư hàng đầu ở phụ nữ(5). Tại Việt Nam, từ năm 2001 đến 2007 ghi nhận ung thư vú chiếm 24,8% các trường hợp ung thư ở nữ. Ghi nhận ung thư tại Thừa Thiên Huế từ 2001 - 2004 cho thấy tỷ lệ mắc ung thư vú trên người Thừa Thiên Huế là 12,3/100.000 dân. Tại Huế, cho đến năm 2004 việc chẩn đoán xác định ung thư vú chủ yếu dựa vào kết quả mô bệnh học nhuộm HE thường quy và tham khảo nồng độ CA 15-3, CEA trong máu. Từ năm 2006 trở lại đây, xét nghiệm hóa mô miễn dịch cho các trường hợp ung thư vú là một trong những chỉ định thường quy để xác định phác đồ điều trị sau phẫu thuật, dự đoán kết quả điều trị và tiên lượng bệnh. Các dấu ấn sinh học đơn độc hoặc kết hợp đã và đang là nhu cầu cấp thiết để dự đoán sự tái phát bệnh và là cơ sở để đưa ra phác đồ điểu trị bổ trợ sau khi điều trị tại chỗ. Với mục đích tìm hiểu giá trị và ý nghĩa của sự bộc lộ các thụ thể nội tiết, HER2 và chất chỉ điểm CA 15-3 với các yếu tố tiên lượng kinh điển trong ung thư vú xâm nhập là kích thước u, độ mô học và di căn hạch chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu sau: - Xác định tình trạng bộc lộ ER, PR, HER2 và chất chỉ điểm khối u CA15-3 trong ung thư biểu mô vú xâm nhập. - Khảo sát mối liên quan giữa các yếu tố tiên lượng kinh điển với các dấu ấn miễn dịch và chất chỉ điểm khối u CA15-3 trong ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu là 150 bệnh nhân được chẩn đoán là ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập đến điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế và Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế từ 1/2009 đến 12/2010. Tiêu chuẩn chọn bệnh Có chẩn đoán mô bệnh học là ung thư biểu mô tuyến xâm nhập. Được phẫu thuật cắt tuyến vú tại Bệnh viện Trung ương Huế hoặc Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế. Tiêu chuẩn loại trừ - Ung thư biểu mô tuyến vú tái phát hoặc đã điều trị (phẫu thuật, hóa trị, xạ trị). Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh 110 - Bệnh nhân có các bệnh về tụy, gan, lao, lupus ban đỏ kèm theo. Phương pháp nghiên cứu Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Phương pháp nhuộm Nhuộm mảnh mô bằng kỹ thuật nhuộm HE thường quy. Phân loại ung thư vú theo WHO 1981 cải biên của các tác giả Mỹ năm 1990, phân độ mô học ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập theo Scarff- Bloom - Richardson cải biên bởi Elston và Ellis (1991). Kỹ thuật hóa mô miễn dịch Nhuộm HMMD 3 dấu ấn sinh học: ER, PR, HER2 bằng phương pháp Avidin Biotin tiêu chuẩn. Kháng thể sử dụng, kiểu bắt màu và cách đánh giá kết quả * Đối với ER, PR Sử dụng kháng thể đơn dòng kháng chuột. Kiểu bắt màu nhuộm khi dương tính: nhuộm nhân. Đánh giá kết quả theo tiêu chuẩn của Allred và nhà sản xuất Dako dựa vào tỷ lệ và cường độ bắt màu của tế bào u như sau : Tỷ lệ (TL) 0 1/100 1/10 1/3 2/3 3/4 Điểm 0 1 2 3 4 5 Cường độ (CĐ) Không bắt màu Yếu Vừa Mạnh Điểm 0 1 2 3 Tổng điểm = TL + CĐ (xếp từ 0 đến 8) Phản ứng dương tính khi tổng điểm >0 0 : 0 điểm 1+ : 2-4 điểm 2+ : 5-6 điểm 3+ : 7-8 điểm * Đối với HER2 Sử dụng kháng thể thỏ đa dòng kháng người. Kiểu bắt màu nhuộm khi dương tính : nhuộm màng tế bào. Đánh giá kết quả : Theo tiêu chuẩn nhà sản xuất Dako. 0: Hoàn toàn không bắt màu. 1+ : Không nhìn thấy hoặc nhuộm màng bào tương dưới 10% tế bào u. 2+ : Màng bào tương bắt màu từ yếu đến trung bình được thấy trên 10% tế bào u. 3+ : Màng bào tương bắt màu toàn bộ với cường độ mạnh được quan sát thấy trên 10% các tế bào u. Chỉ 2+ và 3+ mới được coi là dương tính. * Xét nghiệm định lượng CA 15-3 trong máu CA 15-3 được định lượng trên mẫu máu tĩnh mạch tại khoa Sinh hóa Bệnh viện Trung ương Huế bằng phương pháp miễn dịch điện hóa phát quang dựa trên nguyên lý cơ bản của phương pháp sandwich. Thiết bị đo COBAS 6000 (Roche, Mỹ). Bộ kít hóa chất của Roche sản xuất. * Xử lý số liệu Lưu trữ bằng chương trình Microsoft Excel 2003. Xử lý số liệu bằng phần mềm Medcal 10.6. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Tuổi mắc bệnh Nhóm tuổi Số lượng Tỷ lệ < 30 7 4,7% 30 – 39 19 12,7% 40 – 49 47 31,3% 50 – 59 43 28,7% ≥ 60 34 22,6% Tổng cộng 150 100,0% Kích thước u Kích thước Số lượng Tỷ lệ % ≤ 2 cm 56 37,3% 2-5 cm 86 57,4% ≥ 5 cm 8 5,3% Tổng cộng 150 100,0% p<0,001 Loại mô học Loại mô học Số lượng Tỷ lệ Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh 111 Thể ống xâm nhập 105 Thể ống xâm nhập trội nội ống 12 78,0% Thể tiểu thùy xâm nhập 14 9,3% Biến thể nhầy 6 4,0% Dị sản vảy 3 2,0% Các thể khác 10 6,7% Tổng cộng 150 100,0% p<0,001 Tình trạng di căn hạch Không di căn hạch 73 48,7% Có di căn hạch 77 51,3% Tổng cộng 150 100,0% p<0,001 Độ mô học (122 trường hợp UTBM thể ống xâm nhập) Độ mô học Số lượng Tỷ lệ % I 7 5,7% II 54 44,3% III 61 50,0% Tổng cộng 122 100,0% p<0,001 Sự biểu lộ các thụ thể nội tiết, HER2 (n = 150) ER (+) PR (+) ER+ PR+ ER+ PR- ER- PR+ ER- PR- HER2 (+) Số lượng 80 70 80 66 14 4 92 Tỷ lệ % 53,3% 46,7% 53,3% 44,0% 9,3% 2,7% 61,3% Số trường hợp có CA15-3 tăng trong quá trình điều trị Nồng độ CA 15-3 Số lượng Tỷ lệ Không tăng 66 44,0% Tăng 84 56,0% Tổng cộng 150 100,0% p<0,05 Tương quan giữa nhóm tuổi và ER, PR, HER2 và nồng độ CA15-3 ER PR HER CA15-3 Nhóm tuổi (-) (+) (-) (+) (-) (+) 25 <=29 3 3 3 3 1 5 3 3 30 – 39 9 10 11 8 7 12 11 8 40 – 49 19 28 21 26 26 21 40 7 50 – 59 22 22 26 18 14 30 31 13 >=60 17 17 19 15 10 24 31 3 ER PR HER CA15-3 Nhóm tuổi (-) (+) (-) (+) (-) (+) 25 Tổng cộng 70 80 80 70 58 92 116 34 r -0,04 -0,05 0,08 -0,20 Tương quan giữa độ mô học và ER (122 trường hợp UTBM thể ống xâm nhập). Độ mô học ER I II III Số lượng (Tỷ lệ) ER- 0 16 41 57 (46,7%) ER+ 7 38 20 65 (53,3%) Tổng cộng 7 (5,7%) 54 (44,3%) 61 (50,0%) 122 (100,0%) p<0,01, r = - 0,43 Tương quan giữa độ mô học và PR Độ mô học PR I II III Số lượng (Tỷ lệ) PR- 1 19 44 64 (52,5%) PR+ 6 35 17 58 (47,5%) Tổng cộng 7 (5,7%) 54 (44,3%) 61 (50,0%) 122 (100,0%) p<0,001, r = - 0,4 Tương quan giữa độ mô học và HER2 Độ mô học HER I II III Số lượng (Tỷ lệ) 0, 1+ 4 27 12 43 (35,2%) 2+ 2 7 6 15 (12,3%) 3+ 1 20 43 64 (52,5%) Tổng cộng 7 (5,7%) 54 (44,3%) 61 (50,0%) 122 (100,0%) p<0,01; r = 0,35 Tương quan giữa độ mô học và tăng CA15- 3 Độ mô học CA15-3 I II III Tổng cộng (tỷ lệ) Không tăng 6 27 20 53 (43,4%) Tăng 1 27 41 69 (56,6%) Tổng cộng 7 (5,7%) 54 (44,3%) 61 (50,0%) 122 (100,0%) p<0,05; r = 0,25 Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh 112 Tương quan giữa kích thước u với ER, PR, HER2 và CA 15-3 ER PR HER2 CA15-3 Kích thước u - + - + - + 25 <=2cm 25 31 29 27 32 24 48 8 2 – 5 cm 42 44 48 38 23 63 66 20 > 5 cm 3 5 3 5 3 5 2 6 p 0,76 0,48 0,004 0,006 r -0,01 0,01 0,25 0,25 Tương quan giữa di căn hạch và Her2/ Di căn hạch HER2 Không Có Tổng cộng Tỷ lệ - 36 22 58 38,7% + 37 55 92 61,3% Tổng cộng 73 (48,7%) 77 (51,3%) 150 100,0 % p=0,0043; r = 0,23 Tương quan giữa tình trạng di căn hạch và sự gia tăng nồng độ CA15-3 Di căn hạch Tăng CA153 Không Có Tổng cộng Tỷ lệ Không 44 22 66 44,0% Tăng 29 55 84 56,0% Tổng cộng 73 (48,7%) 77 (51,3%) 150 100,0 % p=0,0001; r = 0,32 BÀN LUẬN Tuổi mắc bệnh Nhóm tuổi mắc bệnh ung thư vú thường gặp nhất trong nghiên cứu của chúng tôi là 40-49 tuổi, chiếm 31,3%; tiếp theo sau là nhóm tuổi 50-59, chiếm 28,7%. Kết quả này phù hợp với các kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước khác với tỷ lệ mắc bệnh cao nhất ở nhóm tuổi 40-49 và giảm dần ở các nhóm tuổi 50-59 và trên 60 tuổi(7,4,2,6). So sánh về tuổi mắc bệnh cao nhất Tác giả Tuổi mắc bệnh cao nhất Tỷ lệ Nguyễn Sào Trung (1993) 40-49 30,17% Lê Quốc Sử (2004) 40-49 43,0% Nguyễn Văn Luân (2005) 40-49 35,2% Đặng Công Thuận (2006) 40-49 38,7% Tác giả Tuổi mắc bệnh cao nhất Tỷ lệ Nghiên cứu này 40-49 31,3% Kích thước u Khối u có kích thước 2-5cm chiếm đa số, 57,4%. Tiếp theo là khối u có kích thước dưới 2cm, 37,3%. Các tác giả khác cũng công bố kết quả tương tự(10, 4, 2). So sánh về kích thước u thường gặp Tác giả Kích thước u Tỷ lệ Trần Hoà (2001) 2-5 cm 73% Lê Quốc Sử (2004) T2 49,7% Đặng Công Thuận (2006) T2 47,5% Nghiên cứu này T2 57,4% Loại mô học Thể ống xâm nhập chiếm đa số 78%, thể thùy xâm nhập chiếm 9.3%; các loại khác ít gặp hơn. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác trong nước và nước ngoài(3,10,7,4,9,6). Tình trạng di căn hạch Tỷ lệ ung thư vú di căn hạch trong nghiên cứu của chúng tôi là 51,3%. Tình trạng hạch nách và thông tin về số lượng hạch đã bị di căn luôn được coi là yếu tố tiên lượng quan trọng nhất liên quan đến tỷ lệ tái phát và sống thêm trong ung thư vú. Nghiên cứu của Osborne cho thấy, số lượng hạch di căn càng tăng thì tiên lượng bệnh càng xấu. Tỷ lệ sống thêm sau 5 năm ở những bệnh nhân không có bằng chứng di căn hạch là 82,8%, tỷ lệ này giảm xuống còn 80,1% nếu có 1 hạch di căn, 70% nếu có 2 hạch di căn, 64,6% nếu có 3 hạch di căn, 54,1% nếu có 4-6 hạch di căn, 50% nếu có 7-12 hạch di căn và 28,4% nếu bệnh nhân có trên 13 hạch di căn. Một nghiên cứu khác tại Mỹ trên 1.741 bệnh nhân cũng cho thấy, tỷ lệ sống thêm trên 10 năm giảm dần là 75%, 62%, 42%, 20% theo số lượng hạch di căn tương ứng là 0 hạch, 1 đến 3 hạch, 4 đến 9 hạch và trên 10 hạch. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh 113 Độ mô học Ung thư vú có độ mô học cao chiếm đa số trong nghiên cứu của chúng tôi với tỷ lệ độ III chiếm ưu thế, 50%. Độ II chiếm 44,3%. Thấp nhất là độ I, 5,7%. Một số nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự nhưng đa số các nghiên cứu khác thường có độ mô học II chiếm ưu thế. Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc phân độ mô học là sự nhận định của các tác giả trong việc đánh giá các đặc điểm, các tiêu chuẩn phân độ mô học cũng phần nào mang tính chủ quan. Ngoài ra, việc điều trị hỗ trợ trước phẫu thuật cắt vú ở một số nghiên cứu cũng làm ảnh hưởng đến tính chính xác của phân độ mô học do các tế bào u đang phân bào bị tiêu diệt làm giảm hoặc thay đổi độ mô học của khối u. Sự biểu lộ các thụ thể nội tiết, HER2 và CA 15-3 Tỷ lệ dương tính với ER, PR và HER2 trong nghiên cứu của chúng tôi theo thứ tự là: 53,3%, 46,7% và 61,3%. So sánh với kết quả của các tác giả khác được trình bày ở các bảng sau: Kết quả nhuộm ER, PR dương tính qua các nghiên cứu trong nước Tác giả Năm ER(+)(%) PR(+)(%) Đặng Thế Căn 2000 53,6 42,6 Lê Đình Roanh 2001 60,7 61,7 Âu Nguyệt Diệu 2003 60,3 52,0 Hứa Thị Ngọc Hà 2004 50,3 57,4 Lê Quốc Sử 2004 49,7 42,7 Tạ Văn Tờ 2004 59,1 51,4 Trần Hòa 2005 48,7 51,3 Nguyễn Sào Trung 2005 49,7 46,4 Đặng Công Thuận 2006 55,2 39,2 Nghiên cứu này 2011 53,3 46,7 Kết quả nhuộm HER2 qua các nghiên cứu trong nước Tác giả Năm Her2(+)(%) Lê Quốc Sử(12) 2004 29,0 Tạ Văn Tờ(14) 2004 35,1 Trần Hòa(7) 2005 29,8 Nguyễn Sào Trung(15) 2005 28,8 Đặng Công Thuận 2006 44,2 Nghiên cứu này 2011 61,3 CA 15-3 CA 15-3 tăng trong quá trình điều trị trong nghiên cứu này là 83 trường hợp, chiếm 55,3%; trong đó, 32 trường hợp có nồng độ CA 15-3 tăng cao >25 U/ml. CA 15-3 là chất chỉ điểm hữu ích trong việc theo dõi đáp ứng điều trị, theo dõi tái phát và di căn của ung thư vú. Xét nghiệm CA 15-3 vẫn được tiến hành sau khi phẫu thuật và điều trị nhằm theo dõi tình trạng tái phát và di căn. Sự gia tăng nồng độ CA 15-3 còn có liên quan dến các yếu tố như nội tiết tố, HER2 và gen BRCA(8). Giá trị tham chiếu 98,7% người khỏe mạnh có CA 15-3 < 25 U/ml. Tiên lượng: Hàm lượng > 50 U/ml : nhiều nghi ngờ đã di căn. Hàm lượng này sau phẫu thuật hoặc điều trị tăng cho thấy bệnh nhân kháng điều trị, tiên lượng xấu. Trong nghiên cứu của Suhail M. Ali (2002) cho thấy ở bệnh nhân ung thư vú tăng CA 15-3 kèm biểu hiện HER2 (+) có tiên lượng xấu hơn là bệnh nhân chỉ tăng CA 15-3(1). Phạm Thị Thu Hạnh (2003), cho rằng tỷ lệ bệnh nhân ung thứ vú tái phát di căn có hàm lượng CA15-3 ≥ 31,3 U/ml là 52,2%, đặc biệt có 26,1% bệnh nhân có hàm lượng CA15-3 > 120 U/ml(8). Nguyễn Đình Tùng (2006) ghi nhận giá trị chẩn đoán di căn của CA15-3 ở ngưỡng ≥ 31 U/ml là 56,6%. Thời gian sống thêm sau 36 tháng đối với bệnh nhân ≥ 31 U/ml là 33,9%. Nồng độ CA15-3 tăng cao nhất là ở bệnh nhân di căn gan và thấp nhất là di căn hạch. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 2 * 2011 Chuyên Đề Giải Phẫu Bệnh 114 Tương quan giữa nhóm tuổi, độ mô học, kích thước u, tình trạng di căn hạch với sự biểu lộ ER, PR, HER2 và sự tăng nồng độ CA15-3 huyết thanh Không có mối tương quan giữa nhóm tuổi với sự biểu lộ ER, PR, HER2 và sự tăng nồng độ CA13-5 huyết thanh. Kích thước u có tương quan yếu với HER2 và CA15-3 (p<0,01, r=0,25). Độ mô học tương quan có ý nghĩa với ER (p<0,01, r = - 0,43), PR (p<0,001, r= -0,4), HER2 (p<0,01, r = 0,35) và với sự tăng nồng độ CA13-5 huyết thanh (p<0,05, r = 0,25) của bệnh nhân ung thư biểu mô vú. Tình trạng di căn hạch nách tương quan có ý nghĩa với HER2 (p=0,0043, r =0,23) và sự tăng nồng độ CA15-3 huyết thanh (p=0,0001, r =0,32). Suhail M. Ali và cộng sự (2002) cho thấy HER2 là một yếu tố tiên lượng quan trọng và dự báo độc lập bên cạnh CA 15-3. Sự kết hợp của tăng đồng thời HER2 và CA 15-3 trong huyết thanh dự đoán một tiên lượng xấu hơn là chỉ đơn thuần tăng CA 15-3(1). Molina R và cộng sự (1999) nghiên cứu vai trò của c-erbB-2, CEA, CA 15-3 huyết thanh trong chẩn đoán sớm sự tái phát của bệnh nhân ung thư vú. Đề tài tiến hành trên 250 bệnh nhân trong vòng 04 năm cho thấy đây là công cụ hữu ích trong việc chẩn đoán sớm sự tái phát và di căn. Các yếu tố này đánh giá sớm và đúng 69,5% bệnh nhân tái phát và 76,3% bệnh nhân di căn(5). KẾT LUẬN Ung thư vú thường gặp ở nhóm tuổi 40-49 (31,3%); kích thước u 2-5cm chiếm đa số (57,4%); loại mô học thường gặp là thể ống xâm nhập (78%); di căn hạch chiếm 51,3%. Độ mô học III chiếm ưu thế (50%). Tỷ lệ dương tính với ER, PR và HER2 là: 53,3%, 46,7% và 61,3% theo thứ tự. Có 55,3% các trường hợp tăng CA 15-3 trong quá trình điều trị. Không có mối tương quan giữa nhóm tuổi với sự biểu lộ ER, PR, HER2 và sự tăng nồng độ CA13-5 huyết thanh. Kích thước u có tương quan yếu với HER2 và CA15-3 (p<0,01, r=0,25). Độ mô học tương quan có ý nghĩa với ER (p<0,01, r = - 0,43), PR (p<0,001, r= -0,4), HER2 (p<0,01, r = 0,35) và với sự tăng nồng độ CA13-5 huyết thanh (p<0,05, r = 0,25). Tình trạng di căn hạch nách tương quan có ý nghĩa với HER2 (p=0,0043, r =0,23) và sự tăng nồng độ CA15-3 huyết