So sánh bộ kit Lê Thị Xuân với bộ kit Scimedx trong chẩn đoán bệnh do giun sán xâm nhập mô

Mục tiêu: So sánh bộ kit Lê Thị Xuân với bộ kit Scimedx trong chẩn đoán bệnh do giun sán xâm nhập mô. Phương pháp: Thử nghiệm labo. Kết quả: Hệ số biến thiên của các bộ kit của Lê Thị Xuân và của Scimedx trong chẩn đoán Cysticercus cellulosae là 3,8% và 3,5%, Fasciola sp là 3,3% và 2,8%, Strongyloides stercoralis là 3,5% và 3,5% và Toxocara sp là 3,6% và 1,8%. Các hệ số biến thiên đều ở trong giới hạn cho phép (CV < 15%). Chỉ số Kappa của các bộ kit của Lê Thị Xuân và của Scimedx trong chẩn đoán C. cellulosae là 0,93; Fasciola sp là 0,92; Strongyloides stercoralis là 0,91 và Toxocara sp là 0,95. Tỉ số OD bệnh /OD cutoff của 2 bộ kit khác nhau không ý nghĩa thống kê. Kết luận: Không có sự khác biệt giữa các bộ kit trong chẩn đoán các ký sinh trùng nêu trên

pdf7 trang | Chia sẻ: thanhuyen291 | Ngày: 14/06/2022 | Lượt xem: 159 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu So sánh bộ kit Lê Thị Xuân với bộ kit Scimedx trong chẩn đoán bệnh do giun sán xâm nhập mô, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Chuyên Đề Nội Khoa 160 SO SÁNH BỘ KIT LÊ THỊ XUÂN VỚI BỘ KIT SCIMEDX TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH DO GIUN SÁN XÂM NHẬP MÔ Trần Xuân Mai*, Phan Anh Tuấn*, Trần Thị Huệ Vân*, Trần Thị Kim Chi*, Nguyễn Thị Cẩm Nhung*, Võ Thị Trúc Nguyên* TÓM TẮT Mục tiêu: So sánh bộ kit Lê Thị Xuân với bộ kit Scimedx trong chẩn đoán bệnh do giun sán xâm nhập mô. Phương pháp: Thử nghiệm labo. Kết quả: Hệ số biến thiên của các bộ kit của Lê Thị Xuân và của Scimedx trong chẩn đoán Cysticercus cellulosae là 3,8% và 3,5%, Fasciola sp là 3,3% và 2,8%, Strongyloides stercoralis là 3,5% và 3,5% và Toxocara sp là 3,6% và 1,8%. Các hệ số biến thiên đều ở trong giới hạn cho phép (CV < 15%). Chỉ số Kappa của các bộ kit của Lê Thị Xuân và của Scimedx trong chẩn đoán C. cellulosae là 0,93; Fasciola sp là 0,92; Strongyloides stercoralis là 0,91 và Toxocara sp là 0,95. Tỉ số OD bệnh /OD cutoff của 2 bộ kit khác nhau không ý nghĩa thống kê. Kết luận: Không có sự khác biệt giữa các bộ kit trong chẩn đoán các ký sinh trùng nêu trên. Từ khóa: So sánh các bộ kit, giun sán xâm nhập mô ABSTRACT COMPARATIVE ANALYSIS OF LE THI XUAN KIT TO SCIMEDX KIT IN THE DIAGNOSIS OF TISSUE INVADING HELMINTHIASIS Tran Xuan Mai, Phan Anh Tuan, Tran Thi Hue Van, Tran Thi Kim Chi, Nguyen Thi Cam Nhung, Vo Thi Truc Nguyen * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 160 – 165 Objectives: Compare the kit of Le Thi Xuan and to that of Scimedx in the diagnosis of tissue invading helminthiases. Method: Comparative laboratory screening tests. Results: Coeficients of variance of Le Thi Xuan kit and Scimedx kit in the diagnosis of cysticercosis are 3.8% and 3.5%, in fascioliasis 3.3% and 2.8%, in strongyloidiasis 3.5% and 3.5% and in toxocariasisa are 3.6% và 1.8%, respectively. All are in acceptable limits. Kappa indexes of Le Thi Xuan kit and Scimedx kit in cysticercosis, fascioliasis strongyloidiasis, toxocariasisa are 0.93, 0.92, 0.91, and 0.9, respectively. The mean ratio of OD/OD cutoff of two ksts are not significantly different (p>0.05). Conclusion: There are no differences in capacity of antibody detection between two kits Key words: Comparative analysis of two kits, tissue invading helminthiasis ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh ký sinh trùng có thể phát hiện bằng phương pháp trực tiếp như bệnh ký sinh trùng do Ascaris lumbricoides, gium móc, Trichuris trichiura. Nhưng cũng có một số bệnh ký sinh trùng không thể dùng phương pháp trực tiếp do ký sinh trùng ở sâu trong cơ quan nội tạng, ký sinh trùng ở giai đoạn còn non chưa đẻ trứng hoặc ký sinh trùng lạc chủ như bệnh ký sinh trùng do sán lá lớn ở gan (Faciola sp), giun đũa *: Bộ môn Ký sinh học – Khoa Y – Đại học Y Dược TP. HCM. Tác giả liên lạc: PGS. TS. Phan Anh Tuấn ĐT: 0908 686277 Email: drtuandhyd@yhoo.com Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Nội Khoa 161 chó mèo (Toxocara sp), gạo heo (Cysticercosis cellulosae). Trong vài trường hợp, người ta có thể chẩn đoán bệnh bằng hình ảnh học như CT scanner, MRI nhưng chẩn đoán bằng hình ảnh học đắt tiền, có độ nhạy thấp, đôi khi khó chẩn đoán phân biệt với tổn thương do các nguyên nhân khác. Xu hướng ngày nay là dùng phương pháp chẩn đoán huyết thanh miễn dịch, thường là kỹ thuật ELISA để tìm kháng thể đặc hiệu cuả ký sinh trùng. Hiện nay, có nhiều bộ kit dùng trong chẩn đoán bệnh được sản xuất ở trong và ngoài nước. Tại Bộ môn Ký Sinh trùng, Lê Thị Xuân đã sản xuất bộ kit chẩn đoán một số ký sinh trùng. Để chọn bộ kit sử dụng tại Bộ môn, chúng tôi so sánh kết quả chẩn đoán của bộ kit này và bộ kit của Scimedx. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Các bộ kit chẩn đoán ký sinh trùng của Lê Thị Xuân (đang được sử dụng tại Bệnh viện Đại học Y Dược cơ sở 2) và của Scimedx (đang được Bộ Y tế cho phép lưu hành) để chẩn đoán Cysticercus cellulosae (C. cellulosae), Fasciola sp, Strongyloides stercoralis và Toxocara sp. Phương pháp nghiên cứu Thử nghiệm labo Cỡ mẫu Cỡ mẫu nghiên cứu hệ số biến thiên của các bộ kit: n=30. Cỡ mẫu nghiên cứu chỉ số Kappa của bộ kit chẩn đoán C. cellulosae n = 101, Fasciola sp n = 101, Strongyloides stercoralis n= 104 và Toxocara sp n= 106 Nguyên vật liệu và dụng cụ Huyết thanh chứng dương, chứng âm, huyết thanh bệnh nhân. Cộng hợp thỏ kháng IgG người gắn men peroxydase. Các pipette 0-100mcl, 0-200mcl, 0-1000mcl. Máy đọc ELISA hiệu Human. Tiến hành nghiên cứu Kỹ thuật viên nhận các plaque, không biết plaque là của Scimedx hay của Lê Thị Xuân. Thực hiện kỹ thuật ELISA, đọc kết quả trị số OD bằng máy đọc ELISA ở bước sóng 450nm; trị số OD ≥ 0,5: dương tính, OD< 0,5: âm tính. Người vào số liệu thống kê trị số OD không biết đó là số liệu của Scimedx hay của Lê Thị Xuân. Xử lý số liệu Bằng phần mềm SPSS 17.0, dùng phương pháp thống kê Wilcoxon. Phân tích số liệu Hệ số biến thiên CV = S/Xtb (S: độ lệch chuẩn, Xtb: trị số trung bình) x 100%(1) Chỉ số Kappa: Để so sánh sự phù hợp của 2 bộ kit, dùng chỉ số Kappa.(2) Chỉ số Kappa K = (Po – Pe)/ (1- Pe) với Po = (a+d) / N, Pe = ((r1s1 + r2s2)/N) / N Ý nghĩa: Chỉ số Kappa < 0,2: Phù hợp kém, từ 0,2-0,39: Tạm được, từ 0,4-0,59: tương đối, từ 0,6-0,79: Đáng kể và chỉ số Kappa > 0,8: Hầu như hoàn hảo. So sánh tỉ số OD của bệnh nhân mắc bệnh ký sinh trùng/OD cut off của 2 bộ kit. KẾT QUẢ Hệ số biến thiên của 2 bộ kit Lê Thị Xuân và Scimedx 1 mẫu huyết thanh được làm xét nghiệm kỹ thuật ELISA 30 lần khác nhau tại các thời điểm khác nhau, trị số trung bình (OD tb) và độ lệch chuẩn (SD) của OD của 2 bộ kit như sau: Bộ kit Lê Thị Xuân Bộ kit của Scimedx Tổng cộng Âm tính Dương tính Âm tính a b r1 Dương tính c d r2 Tổng cộng s1 s2 N Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Chuyên Đề Nội Khoa 162 Bảng 1: Hệ số biến thiên của 2 bộ kit trong chẩn đoán bệnh ký sinh trùng. C. cellulosae (n=30) Fasciola sp (n=30) Strongyloides stercorlis (n=30) Toxocara sp (n=30) LTXuân Scimedx LTXuân Scimedx LTXuân Scimedx LT Xuân Scimedx OD tb 0,846 1,025 1,125 1,250 1,129 1,298 1,094 1,230 SD 0,032 0,036 0,037 0,035 0,040 0,045 0,040 0,022 CV% 3,8 3,5 3,3 2,8 3,5 3,5 3,6 1,8 Nhận xét: Các hệ số biến thiên của 2 bộ kit Lê Thị Xuân và Scimedx đều trong giới hạn cho phép (CV<15%). So sánh kết quả xét nghiệm phát hiện kháng thể kháng ký sinh trùng từ bộ kit của Lê Thị Xuân và của Scimedx Bảng 2: Kết quả xét nghiệm chẩn đoán C. cellulosae từ hai bộ kit. Bộ kit Lê Thị Xuân Bộ kit của Scimedx Tổng cộng Âm tính Dương tính Âm tính 93 1 94 Dương tính 0 7 7 Tổng cộng 93 8 101 Chỉ số Kappa K = 0,93. Nhận xét: Chỉ số Kappa: K =0,93; cho thấy kết quả xét nghiệm kỹ thuật ELISA trong chẩn đoán C. cellulosae với bộ kit của Lê Thị Xuân và bộ kit của Scimedx có sự phù hợp rất cao. Bảng 3: Kết quả xét nghiệm chẩn đoán Fasciola sp từ hai bộ kit. Bộ kit Lê Thị Xuân Bộ kit của Scimedx Tổng cộng Âm tính Dương tính Âm tính 94 1 95 Dương tính 0 6 6 Tổng cộng 94 7 101 Chỉ số Kappa K = 0,92 Nhận xét: Chỉ số Kappa: K =0,92; cho thấy kết quả xét nghiệm kỹ thuật ELISA trong chẩn đoán Fasciola sp với bộ kit của Lê Thị Xuân và bộ kit của Scimedx có sự phù hợp rất cao. Bảng 4: Kết quả xét nghiệm chẩn đoán Strongyloides stercoralis từ hai bộ kit. Bộ kit Lê Thị Xuân Bộ kit của Scimedx Tổng cộng Âm tính Dương tính Âm tính 90 2 92 Dương tính 0 12 12 Tổng cộng 90 14 104 Chỉ số Kappa K = 0,91. Nhận xét: Chỉ số Kappa: K =0,91; cho thấy kết quả xét nghiệm kỹ thuật ELISA trong chẩn đoán Strongyloides stercoralis với bộ kit của Lê Thị Xuân và bộ kit của Scimedx có sự phù hợp rất cao. Bảng 5: Kết quả xét nghiệm chẩn đoán Toxocara sp từ hai bộ kit. Bộ kit Lê Thị Xuân Bộ kit của Scimedx Tổng cộng Âm tính Dương tính Âm tính 94 1 95 Dương tính 0 11 11 Tổng cộng 94 12 106 Chỉ số Kappa K = 0,95. Nhận xét: Chỉ số Kappa: K =0,95; cho thấy kết quả xét nghiệm kỹ thuật ELISA trong chẩn đoán Toxocara sp với bộ kit của Lê Thị Xuân và bộ kit của Scimedx có sự phù hợp rất cao. So sánh tỉ số OD+/OD cut off của các bệnh nhân mắc bệnh ký sinh trùng từ 2 bộ kit, dùng phương pháp thống kê C. cellulosae (n=13) Fasciola sp (n=14) Strongyloides stercoralis (n=19) Toxocara sp (n=14) LTXuân Scimedx LTXuân Scimedx LTXuân Scimedx LTXuân Scimedx min (T+,T-) min (39,5;50,5)= 39.5 min (45,5;59,5)= 45,5 min (87;101)= 87 min (49,5;56)=49 T wilcoxon T0,05(13)=17,2<39,5 T0,05(14)=21,1<45,5 T0,05(19)=46,1<87 T0,05(14)=21,1<49 Kết luận p>0,05: khác nhau không có ý nghĩa thống kê p>0,05: khác nhau không có ý nghĩa thống kê p>0,05: khác nhau không có ý nghĩa thống kê p>0,05: khác nhau không có ý nghĩa thống kê Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Nội Khoa 163 Nhận xét: Tỉ số OD của bệnh /OD cut off của 2 bộ kit khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). BÀN LUẬN Hệ số biến thiên của 2 bộ kit Lê Thị Xuân và Scimedx Hệ số biến thiên của các bộ kit của Lê Thị Xuân và của Scimedx trong chẩn đoán C. cellulosae là 3,8% và 3,5%, Fasciola sp là 3,3% và 2,8%, Strongyloides stercoralis là 3,5% và 3,5% và Toxocara sp là 3,6% và 1,8%. Các hệ số biến thiên đều ở trong giới hạn cho phép (CV < 15%). Trong qui trình chẩn đoán, có các bước: Gắn kháng nguyên vào plaque. Pha loãng huyết thanh và conjugate. Thực hiện qui trình xét nghiệm. Đọc trị số OD. Một mẫu huyết thanh được làm xét nghiệm nhiều lần theo cùng một qui trình, tại các thời điểm khác nhau (30 lần), hệ số biến thiên CV<15%, cho thấy kháng nguyên dùng trong 2 bộ kit có tính ổn định cao. Điều này là cơ sở của độ tin cậy lâm sàng, rất có ý nghĩa đối với những quốc gia có khí hậu nhiệt đới như Việt Nam. Về độ nhạy, độ đặc hiệu của các bộ kit chẩn đoán ký sinh trùng của Lê Thị Xuân và Scimedx. Theo các nhà sản xuất kit cung cấp số liệu Về kit chẩn đoán C. cellulosae, bộ kit của Lê Thị Xuân có độ nhạy 94,1%, độ đặc hiệu 91,8%; kit của Scimedx có có độ nhạy 87%, độ đặc hiệu 96%. Trên thế giới, nghiên cứu của Shiguekawa K.Y. và cs cho biết tùy loại kháng nguyên sử dụng trong kỹ thuật chẩn đoán ELISA, độ nhạy từ 85- 95% và độ đặc hiệu từ 52%-88%(22). Gekeler F. và cs dùng kháng nguyên toàn nang C. cellulosae có độ nhạy là 83%, độ đặc hiệu 75,3%(10). Như vậy, bộ kit chẩn đoán C. cellulosae của Lê Thị Xuân có độ nhạy và độ đặc hiệu cao và có thể sử dụng trong chẩn đoán thường qui. Về kit chẩn đoán Fasciola sp, bộ kit chẩn đoán của Lê Thị Xuân có độ nhạy 98,8%, độ đặc hiệu 97,3% và của Scimedx có có độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 100%. Nghiên cứu của Espinoza JR từ kháng nguyên tiết, độ nhạy 95%, độ đặc hiệu 100%(9). Nghiên cứu của Cornejo H với kháng nguyên nội ngoại tiết có độ nhạy 95,5%-97%, độ đặc hiêu 86,6%-96,6%(6). Như vậy, bộ kit chẩn đoán Fasciola sp của Lê Thị Xuân có độ nhạy và độ đặc hiệu cao và có thể sử dụng trong chẩn đoán thường qui. Về kit chẩn đoán Strongyloides stercoralis, bộ kit chẩn đoán của Lê Thị Xuân có độ nhạy 93,6%, độ đặc hiệu 92,9% và của Scimedx có có độ nhạy 100%, độ đặc hiệu 100%. Costa-Cruz JM, dùng ấu trùng giun Strongyloides ratti làm kháng nguyên để phát hiện IgE, độ nhạy chỉ có 55%(7), Krolewiecki AJ và cs dùng ấu trùng Strongyloides stercoralis thì có độ nhạy 97.8% và độ đặc hiệu 100%, giá trị tiên đoán âm >97%(13). Như vậy, bộ kit chẩn đoán Strongyloides stercoralis của Lê Thị Xuân có độ nhạy và độ đặc hiệu cao và có thể sử dụng trong chẩn đoán thường qui. Về kit chẩn đoán Toxocara sp, bộ kit chẩn đoán của Lê Thị Xuân có độ nhạy 94,4%, độ đặc hiệu 96,2% và của Scimedx có có độ nhạy 87,5%, độ đặc hiệu 94,4%. Theo nghiên cứu của Mohamad S. và cs, tùy từng thành phần kháng nguyên tiết có độ nhạy từ 80-100%, độ đặc hiệu 92-96,2%(16). Nghiên cứu của Watthanakulp và cs dùng kháng nguyên tiết phát hiện từng thành phần IgG, độ nhạy từ 50- 98% và độ đặc hiệu từ 71-81%(23). Như vậy, bộ kit chẩn đoán Toxocara sp của Lê Thị Xuân có độ nhạy và độ đặc hiệu cao và có thể sử dụng trong chẩn đoán thường qui. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Chuyên Đề Nội Khoa 164 So sánh kết quả chẩn đoán ký sinh trùng từ bộ kit của Lê Thị Xuân và bộ kit của Scimedx Về độ phù hợp giữa 2 bộ kit: Kết quả xét nghiệm bằng kỹ thuật miễn dịch ELISA để chẩn đoán C. cellulosae, Fasciola sp, Strongyloides stercoralis, Toxocara sp của bộ kit Lê Thị Xuân và của Scimedx có sự phù hợp rất cao (Kappa > 0,9). Điều này cho thấy có thể sử dụng bộ kit Lê Thị Xuân trong chẩn đoán thường qui với độ tin cậy cao. Trong 4 loại kháng nguyên của Lê Thị Xuân kể trên thì có 2 loại kháng nguyên gồm kháng nguyên chẩn đoán Fasciola sp, Toxocara sp là kháng nguyên tiết, còn kháng nguyên C. cellulosae trích từ dịch nang, kháng nguyên chẩn đoán Strongyloides stercoralis từ ấu trùng Strongyloides stercoralis giai đoạn 2. Về kháng nguyên dùng trong bộ kit chẩn đoán C. cellulosae, kháng nguyên dịch nang thường được sử dụng. Shiguekawa K.Y. và cs, dùng 2 loại kháng nguyên từ C. cellulosae là kháng nguyên dịch nang và kháng nguyên toàn nang, tác giả nhận thấy kháng nguyên dịch nang cho kết quả ít chéo với các loại ký sinh trùng khác hơn kháng nguyên toàn nang(22). Các tác giả Phạm Trí Tuệ, Nguyễn Thị Minh Tâm, nghiên cứu kỹ thuật ELISA, xác định kháng nguyên dịch nang đặc hiệu hơn kháng nguyên toàn nang(2). Guo và cs, so sánh kháng nguyên dịch nang C. cellulosae và kháng nguyên nội- ngoại tiết dùng trong kỹ thuật ELISA thì thấy độ nhạy của dịch nang cao hơn(11). Gần đây, nghiên cứu của Amit P và cộng sự cũng dùng kháng nguyên dịch nang(4). Như vậy, với bộ kit chẩn đoán gạo heo C. cellulosae, Lê Thị Xuân dùng kháng nguyên dịch nang là phù hợp với xu thế chẩn đoán hiện hành. Về kháng nguyên dùng trong bộ kit chẩn đoán Fasciola sp, theo các nghiên cứu có thể dùng kháng nguyên thân hoặc kháng nguyên tiết. Tuy nhiên, khi dùng kháng nguyên tiết thì phản ứng chéo ít gặp hơn dùng kháng nguyên thân(14,17,21). Các nghiên cứu gần đây về chẩn đoán sán lá gan đều dùng kháng nguyên tiết(6,9). Bộ kit chẩn đoán sán lá gan của Lê Thị Xuân dùng kháng nguyên tiết là phù hợp với xu hướng hiện nay. Về kháng nguyên dùng trong bộ kit chẩn đoán Strongyloides stercoralis, những nơi không có giun lươn, Costa-Cruz JM, Rodrigues RM phải dùng Strongyloides ratti thay thế(7,20). Những năm gần đây, nghiên cứu của Dekumyoy P, kháng nguyên cũng điều chế từ ấu trùng Strongyloides stercoralis(8). Bộ kit chẩn đoán Strongyloides stercoralis của Lê Thị Xuân cũng dùng ấu trùng của loại giun này để làm kháng nguyên trong kit chẩn đoán, tính phù hợp và đặc hiệu ký chủ tốt hơn. Về kháng nguyên dùng trong bộ kit chẩn đoán Toxocara sp., trên thế giới các nghiên cứu đang dùng kháng nguyên tiết như nghiên cứu của Iddawela RD, Ponce-Macotela M, Alcântara-Neves NM(3,12,19), và gần đây các nghiên cứu của Peixoto PL, Watthanakulpanich D. cũng đều dùng kháng nguyên tiết trong kit chẩn đoán Toxocara sp(18,23). Như vậy, với bộ kit chẩn đoán Toxocara sp, Lê Thị Xuân dùng kháng nguyên tiết là phù hợp với xu hướng của thế giới. Tóm lại, các kháng nguyên dùng trong bộ kit chẩn đoán Fasciola sp, Toxocara sp của kit Lê Thị Xuân, đã dùng kháng nguyên tiết để chẩn đoán bệnh ký sinh trùng đang là xu hướng hiện đại vì tránh được các phản ứng chéo mà kháng nguyên thân mắc phải. Còn kháng nguyên dùng trong chẩn đoán gạo heo C. cellulosae là kháng nguyên dịch nang, dùng trong chẩn đoán Strongyloides stercoralis là ấu trùng giai đoạn 2 Strongyloides stercoralis phù hợp với xu thế của thế giới. So sánh tỉ số OD bệnh/ OD cut off của các bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng từ 2 bộ kit Các mẫu huyết thanh của những bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng được thực hiện kỹ thuật ELISA trên 2 bộ kit. Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Nội Khoa 165 Tính toán thống kê cho thấy sự khác biệt của tỉ số OD bệnh/OD cut off của 2 bộ kit dùng trong chẩn đoán các bệnh ký sinh trùng không có ý nghĩa thống kê, nghĩa là có sự tương đồng về khả năng tầm soát bệnh của 2 bộ kit này. KẾT LUẬN Bộ kit của Lê Thị Xuân có độ ổn định, khả năng tầm soát cao, sử dụng kháng nguyên phù hợp với xu thế hiện đại, độ nhạy và độ đặc hiệu tương đương với kit ngoại. ĐỀ NGHỊ Với các kết quả kiểm định chất lượng khả quan như đã trình bày, Bộ môn Ký sinh Khoa Y Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh xin được sử dụng bộ kit chẩn đoán ký sinh trùng của Lê Thị Xuân thay thế bộ kit của Scimedx trong thời gian chờ đợi bộ kit của Lê Thị Xuân được cấp giấy phép. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Xuân Phách (1995), Đánh giá một mẫu, Đánh gía kiểm định, Thống kê y học – Nhà xb Y học, tr. 20-25, 38-55 2. Phạm Trí Tuệ, Nguyễn Thị Minh Tâm (1991), “Điều chế thăm dò tính đặc hiệu của kháng nguyên ấu trùng sán lợn và ứng dụng phản ứng miễn dịch men ELISA trong chẩn đoán bệnh ấu trùng sán lợn ở người”, Tạp chí Y học thực hành, 4, tr. 23-28. 3. Alcântara-Neves NM, dos Santos AB, Mendonça LR, Figueiredo CA, Pontes-de-Carvalho L. (2008), “An improved method to obtain antigen-excreting Toxocara canis larvae”, Exp Parasitol.’, 119(3):349-51. 4. Amit P, Prasad KN, Kumar GR, Shweta T, Sanjeev J, Kumar PV, Mukesh T (2011), “Immune response to different fractions of Taenia solium cyst fluid antigens in patients with neurocysticercosis” Exp Parasitol., 127(3):687-92. 5. Cook RJ. (1998), Kappa. In: The Encyclopedia of Biostatistics, T. P. Armitage, Colton, eds., pp. 2160-2166. New York: Wiley, 1998. 6. Cornejo H, Oblitas F, Cruzado S, Quispe W. (2010), “Evaluation of an ELISA test with Fasciola hepatica metabolic antigen for diagnosis of human fascioliasis in Cajamarca, Peru”. Rev Peru Med Exp Salud Publica., 27(4):569-74 7. Costa-Cruz JM et al. (2003), “Heterologous antigen extract in ELISA for the detection of human IgE anti-Strongyloides stercoralis.”, Rev Inst Med Trop Sao Paulo., 45(5):265-8 8. Dekumyoy P, Somtana K, Jantanawiwat P, Nuamtanong S, Sa- nguankiat S, Nuchfaong S, Janyapoon K, Chindanond D (2002), “Improved antigens for IgG-ELISA diagnosis of strongyloidiasis”, Southeast Asian J Trop Med Public Health. 33 Suppl 3:53-9. 9. Espinoza JR, Timoteo O, Herrera-Velit P. (2005), “Fas2-ELISA in the detection of human infection by Fasciola hepatica”, J Helminthol. 79(3):235-40. 10. Gekeler F. et al. (2002), “Sensitivity and Specificity of ELISA and Immunoblot for Diagnosing Neurocysticercosis”, Eur J Clin Microbiol Infect Dis, 21, pp. 227-229. 11. Guo H., Zhao Z. F., Shi D. Z. (1997), “A study on the culture medium antigens of C. cellulosae for detecting antibodies of cysticercosis by means of ELISA”, Southeast Asian J Trop Med Public Health, 28 Suppl 1, pp. 125-127. 12. Iddawela RD, Rajapakse RP, Perera NA, Agatsuma T (2007), “Characterization of a Toxocara canis species-specific excretory- secretory antigen (TcES-57) and development of a double sandwich ELISA for diagnosis of visceral larva migrans”, Korean J Parasitol. 2007 Mar;45(1):19-26 13. Krolewiecki AJ et al (2010), “Improved diagnosis of Strongyloides stercoralis using recombinant antigen-based serologies in a community-wide study in northern Argentina”, Clin Vaccine Immunol. 17(10):1624-30. 14. Maleewong W et al (1996), “Comparison of adult somati and excretory-secretory antigens in enzyme-linked immunosorbent assay for serodiagnosis of hunam infection with Fasciola gigantica”, S
Tài liệu liên quan