Thu hoạch vấn đề giáo dục đạo đức cho học viên nhà trường Quân đội hiện nay

Đạo đức là gì? Đạo đức là một hiện tượng xã hội, phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ nguồn gốc bản thân cuộc sống con người. Đó là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với xã hội. Đạo đức có những chức năng cơ bản sau: - Định hướng giáo dục Chức năng định hướng giáo dục của đạo đức quy định nội dung giáo dục và tự giáo dục phải tuân theo những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức do xã hội thừa nhận. Người học viên muốn được mọi người đánh giá tốt, không bị tập thể lên án thì họ phải nắm được những quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản. Trên cơ sở đó mà có thể tự do lựa chọn cho mình những hành vi phù hợp, đồng thời mới có khả năng đánh giá đúng đắn các hiện tượng, hành vi trong quan hệ với tập thể và xã hội theo quan điểm đạo đức đúng đắn. Vì vậy việc giáo dục đạo đức góp phần quan trọng vào việc hình thành phát triển nhân cách của học viên.

doc6 trang | Chia sẻ: candy98 | Lượt xem: 756 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Thu hoạch vấn đề giáo dục đạo đức cho học viên nhà trường Quân đội hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
THU HOẠCH VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC VIÊN NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY Chúng ta đang sống trong thời đại của văn minh khoa học công nghệ, của thời kì mở cửa và hội nhập quốc tế làm cho cuộc sống vật chất và tinh thần ngày càng được nâng cao. Để đạt được những mục tiêu đã xác định và khắc phục nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì yếu tố quan trọng quyết định nhất là phát huy nhân tố con người. Với tính cách là gốc của người cách mạng, là tiêu chuẩn hàng đầu của cán bộ, đảng viên và là nền tảng của các yếu tố khác trong nhân tố con người - đạo đức và việc giáo dục đạo đức trở lên quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết. Mặc dù nhận thức rõ tầm quan trọng của đạo đức và đã có nhiều chủ trương, biện pháp với những hoạt động cụ thể để giáo dục đạo đức cách mạng, nhưng hiệu quả chưa đạt được như mong muốn. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh việc lợi dụng tất cả các hạn chế tiêu cực để đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” nhằm tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng cũng như trong xã hội ta. Hoạt động tuyên truyền các giá trị phi vô sản; mua chuộc, lôi kéo làm tha hóa cán bộ, đảng viên; truyền bá lối sống thực dụng trong giới trẻ; xuyên tạc chủ trương, đường lối và nói xấu cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; chia rẽ nhân dân với Đảng, quân đội với Đảng phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; kích động gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội đang là những thủ đoạn thâm độc của “Diễn biến hòa bình” đối với cách mạng nước ta hiện nay. Việc làm rõ cơ sở tâm lý của giáo dục đạo đức, trong đó có cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức và các biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức cho học viên trong thời gian đào tạo tại trường có một ý nghĩa to lớn trong giáo dục, đào tạo ở các nhà trường quân đội. 1. Hành vi đạo đức, cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức 1.1. Khái niệm đạo đức, hành vi đạo đức Đạo đức là gì? Đạo đức là một hiện tượng xã hội, phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắt nguồn từ nguồn gốc bản thân cuộc sống con người. Đó là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó mà con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích của con người và tiến bộ xã hội trong quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với xã hội. Đạo đức có những chức năng cơ bản sau: - Định hướng giáo dục Chức năng định hướng giáo dục của đạo đức quy định nội dung giáo dục và tự giáo dục phải tuân theo những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức do xã hội thừa nhận. Người học viên muốn được mọi người đánh giá tốt, không bị tập thể lên án thì họ phải nắm được những quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cơ bản. Trên cơ sở đó mà có thể tự do lựa chọn cho mình những hành vi phù hợp, đồng thời mới có khả năng đánh giá đúng đắn các hiện tượng, hành vi trong quan hệ với tập thể và xã hội theo quan điểm đạo đức đúng đắn. Vì vậy việc giáo dục đạo đức góp phần quan trọng vào việc hình thành phát triển nhân cách của học viên. - Điều chỉnh hành vi Việc điều chỉnh hành vi của cá nhân do nhiều thiết chế xã hội chế ước như pháp luật, phong tục tập quán, nhưng về bình diện đạo đức là do dư luận xã hội định hướng điều chỉnh bằng việc lên án hay đồng tình, do lương tâm thức tỉnh, làm cho cá nhân thoải mái hay không thoải mái. Bản chất của sự điều chỉnh hành vi đạo đức tức là quá trình đấu tranh chiến thắng của cái thiện với cái ác, của cái tốt với cái xấu, của cái lương tâm và vô lương tâm - Kiểm tra đánh giá Mỗi cá nhân, vì cuộc sống và vì hoạt động cho tiến bộ của xã hội đều phải có những phẩm chất đạo đức và năng lực nhất định. Vì vậy họ phải nắm được những tri thức phản ánh đời sống xã hội một cách tích cực, đó là những quan điểm tư tưởng, những nguyên tắc, những chuẩn mực hành vi đạo đức tiến bộ. Nhờ đó mà chủ thể đạo đức phân biệt được cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác trong thực tiễn cuộc sống thường xuyên biến đổi Hành vi đạo đức là gì? Hệ thống quan niệm đạo đức (các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức) chỉ có thể tồn tại dưới hình thức hành vi đạo đức sinh động của những nhân cách cụ thể đang hoạt động dưới sự chỉ đạo của hệ thống quan niệm đạo đức ấy. Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một hoặc nhiều động cơ có ý nghĩa về đạo đức. Khi nói đến hành vi đạo đức của những con người cụ thể sống trong nền văn minh nhất định, thì có vấn đề “không thuần nhất” của hành vi đạo đức. Ở một thời điểm nhất định trong một hoàn cảnh xã hội cụ thể tồn tại nhiều nền đạo đức khác nhau, bên cạnh đạo đức “chính thống”, còn tồn tại những tàn dư của đạo đức xã hội cũ. Vì thế trong quá trình giáo dục đạo đức cho học viên chúng ta phải làm cho đạo đức của họ phù hợp với chuẩn mực đạo đức XHCN, biết kết hợp những nét tốt đẹp của truyền thống đạo đức dân tộc, khắc phục tàn dư đạo đức của của các chế độ cũ lỗi thời và kiên quyết chống lại các ảnh hưởng của lối sống đạo đức tư sản đề cao chủ nghĩa cá nhân, thực dụng chạy theo đồng tiền và các ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường, của mở cửa hội nhập trong điều kiện hiện nay. Tiêu chuẩn để đánh giá hành vi đạo đức Để đánh giá con người có hành vi đạo đức hay không, người ta căn cứ vào hành vi đạo đức của người đó. Giá trị đạo đức của hành vi được xét theo tiêu chuẩn sau: Tính tự giác của hành vi: Khi xem xét một hành vi xem nó là hành vi đạo đức hay phi đạo đức, điều rất quan trọng là phải xét tính tự giác của chủ thể hành vi. Có những hành động của con người nếu chủ thể của hành động đó chưa có ý thức về hành vi của mình, chưa tự giác hành động và hành động đó còn tính chất bắt buộc thì không thể coi là hành vi có đạo đức được. Chỉ xem là hành vi có đạo đức khi hành vi đó được học viên ý thức đầy đủ về mục đích, ý nghĩa về hành vi của mình và hoàn toàn tự mình hành động dưới sự thúc đẩy của những động cơ xuất phát từ chính nội tâm của mình. Tính có ích của hành vi: Đòi hỏi hành vi của con người phải hướng vào sự phát triển của xã hội. Đây cũng là một đặc điểm nổi bật của hành vi đạo đức. Tính có ích của hành vi phụ thuộc vào thế giới quan, nhân sinh quan của học viên. Tính không vụ lợi của hành vi: Hành vi đạo đức phải là hành động có mục đích vì đồng chí, đồng đội, vì tập thể lớp học, vì xã hội theo tinh thần “mình vì mọi người”. Người có hành vi đạo đức không bao giờ tính toán thiệt hơn, lấy lợi ích cá nhân làm trung tâm hoặc giúp đỡ người khác theo kiểu tính toán vụ lợi. Tính không vụ lợi của hành vi đạo đức hoàn toàn phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của người cách mạng, sẵn sàng xả thân hy sinh vì lý tưởng XHCN, vì đồng chí đồng đội. 1.2. Cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức Ở góc độ Tâm lý học, hành vi đạo đức được xem xét là phẩm chất nhân cách, giá trị nhân cách. Hành vi đạo đức cần phải hình thành ở các học viên có cấu trúc tâm lý phức tạp bao gồm: - Tri thức và niềm tin đạo đức. - Động cơ hành vi đạo đức và tình cảm đạo đức. - Ý chí và thói quen hành vi đạo đức. * Tri thức và niềm tin đạo đức Tri thức đạo đức là sự hiểu biết của người học viên về những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức quy định hành vi của họ trong mối quan hệ với người khác và với xã hội. Tri thức đạo đức hình thành trên cơ sở của quá trình học tập, lĩnh hội các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức trong nhà trường, trong gia đình, trong quá trình sống và hoạt động của mỗi cá nhân. Niềm tin đạo đức là sự tin tưởng một cách sâu sắc và vững chắc của con người vào tính chính nghĩa và chân lý các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức và thừa nhận tính tất yếu phải tôn trọng triệt để các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức ấy. Niềm tin đạo đức là một trong những yếu tố quyết định hành vi đạo đức của học viên là cơ sở để làm bộc lộ những phẩm chất ý chí của đạo đức như lòng dũng cảm dám nhận sai lầm khuyết điểm, tính kiên quyết đấu tranh với các thói hư, tật xấu, tính kiên trì, nhẫn nại trong công việc * Động cơ hành vi đạo đức và tình cảm đạo đức Hành vi đạo đức của học viên nhà trường quân đội không chỉ nảy sinh trên cơ sở những tri thức và niềm tin đạo đức mà phải được thúc đẩy bởi một yếu tố rất quan trọng đó là động cơ hành vi đạo đức và tình cảm đạo đức. Động cơ hành vi đạo đức là cái được phản ánh vào người học viên, trở thành động lực kích thích thúc đẩy họ thực hiện một hành vi đạo đức nhất định. Động cơ hành vi đạo đức được phát triển từ nhu cầu đạo đức. Nhu cầu đạo đức cũng như các nhu cầu khác, nằm trong hệ thống các nhu cầu cá nhân. Do đó, trong quá trình giáo dục đạo đức cần chủ động tạo ra những hoàn cảnh cụ thể thuận lợi tạo điều kiện cho học viên có cơ hội để bộc lộ động cơ và ý thức đạo đức tương ứng. Chỉ có tổ chức tốt hoạt động sư phạm mới tạo điều kiện xây dựng cho học viên có những động cơ đạo đức bền vững, mới liên tục hình thành hành vi đạo đức cho học viên. Ngoài nhu cầu đạo đức, với tư cách là nguồn gốc nảy sinh động cơ đạo đức, còn một yếu tố nữa cũng tham gia vào việc tạo ra động cơ đạo đức thể hiện thái độ tích cực của cá nhân trong mối quan hệ giữa cá nhân với người khác và với xã hội. Đó chính là tình cảm đạo đức. Tình cảm đạo đức là những thái độ rung cảm của cá nhân đối với hành vi của người khác và với hành vi của chính mình trong quá trình quan hệ với người khác và với xã hội. Tình cảm đạo đức của học viên có vai trò to lớn trong việc khơi dậy những nhu cầu đạo đức, thúc đẩy hành vi đạo đức của học viên trong mối quan hệ với người khác, với tập thể và với xã hội, đáp ứng các đòi hỏi chuẩn mực đạo đức xã hội. Với ý nghĩa đó, tình cảm đạo đức được xem như là một trong những loại động cơ thúc đẩy và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người. * Ý chí và thói quen hành vi đạo đức Ý chí hành vi đạo đức là khả năng tự điều khiển, điều chỉnh hành động của học viên vượt qua khó khăn thực hiện được các hành vi đạo đức mong muốn. Học viên có tri thức đạo đức, động cơ và tình cảm đạo đức chưa hẳn đã có hành vi đạo đức thực sự, nếu như chúng không được cọ sát trong thực tiễn, chưa được chuyển hóa thành hành vi đạo đức cụ thể. Mỗi một hành vi đạo đức bao giờ cũng đứng trước sự lựa chọn giữa một bên là điều muốn làm và một bên là điều phải làm. Do đó, trong giáo dục đạo đức cần hình thành ở người học viên khát vọng thực hiện cùng với rèn cho học viên có nghị lực, ý chí vượt qua khó khăn để biến khát vọng, mong muốn đó trở thành hành vi đạo đức thực sự của mình. Thói quen đạo đức là những hành vi đạo đức ổn định mang tính chất như một nhu cầu đạo đức của học viên cần được thỏa mãn. Muốn có thói quen hành vi đạo đức cần phải tổ chức tốt cuộc sống và hoạt động của học viên sao cho các hành vi đạo đức được lặp đi lặp lại một cách thường xuyên, có hệ thống; phải làm chuyển biến những chuẩn mực, các cách ứng xử có đạo đức thành những nhu cầu tự nhiên của mỗi người trong quá trình học tập và rèn luyện. Các thành tố trong cấu trúc tâm lý của hành vi đạo đức có mối tương quan, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau. Như vậy, giáo dục đạo đức, thực chất là tạo ra ở các học viên một cách đồng bộ các yếu tố tâm lý, bao gồm tri thức, niềm tin, động cơ, tình cảm và thói quen hành vi đạo đức là hình thành ở các học viên phẩm chất đạo đức thể hiện trong các hành vi đạo đức cụ thể trong học tập và rèn luyện. 2. Biện pháp tâm lý sư phạm cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học viên nhà trường quân đội Nhà trường quân đội không chỉ là nơi trang bị kiến thức mà chính là nơi giáo dục đạo đức cho học viên trong quá trình đào tạo. Đây là một quá trình phức tạp với sự tham gia của nhiều lĩnh vực khoa học, nhiều lực lượng trong đó có Tâm lý học sư phạm quân sự nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học viên trong thời gian học tập tại nhà trường quân đội. 2.1 Tăng cường các hoạt động giáo dục trong nhà trường Trước hết, cần giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan, niềm tin, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa cho học viên, thông qua dạy học và giáo dục để hình thành các chuẩn mực đạo đức XHCN, đồng thời làm chuyển hóa tri thức đạo đức thành động cơ thúc đẩy hành vi đạo đức của học viên. Việc giáo dục thế giới quan Mác - Lênin, niềm tin, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa luôn gắn bó với việc giáo dục những tri thức đạo đức cho học viên, gắn liền với sự hình thành quan điểm sống đúng đắn, hình thành thái độ đối với các chuẩn mực, quy tắc đạo đức, đến ý thức về nghĩa vụ và bổn phận của người công dân, người cán bộ, sĩ quan trong các lực lượng vũ trang của Đảng. Cùng với giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan và lý tưởng xã hội chủ nghĩa còn phải giáo dục và tuyên truyền cho học viên các giá trị đạo đức truyền thống đã được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Đó là lòng yêu nước thương dân, tự tôn tự hào dân tộc, sống có nghĩa có tình, uống nước nhớ nguồn, hiếu với cha mẹ, tôn sư trọng đạo, thương người như thể thương thân, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau lúc khó khăn, gian khổ Bên cạnh việc giáo dục thế giới quan, niềm tin cộng sản chủ nghĩa, trang bị những tri thức lý luận về đạo đức và hành vi đạo đức, cần tổ chức tốt hoạt động dạy học và giáo dục để biến tri thức đạo đức thành niềm tin đạo đức, thành tình cảm, ý chí, thúc đẩy hành vi đạo đức của học viên trong cuộc sống và hoạt động hàng ngày. 2.2. Hình thành mối quan hệ, giao tiếp và bầu không khí tâm lý đạo đức tích cực lành mạnh trong tập thể học viên Mối quan hệ qua lại giữa giáo viên với học viên, học viên với cán bộ quản lý hệ, lớp, giữa học viên với học viên trong hoạt động sư phạm là cơ sở nảy sinh các hành vi đạo đức của học viên. Muốn vậy, các mối quan hệ và giao tiếp này phải thể hiện bản chất xã hội chủ nghĩa, chuẩn mực đạo đức của người quân nhân cách mạng, thể hiện tính nhân văn, dân chủ và bình đẳng, tôn trọng về nhân cách, đồng thời đảm bảo được các nguyên tắc của mối quan hệ và giao tiếp của những người đồng chí đồng đội, cán bộ và chiến sĩ, của thầy và trò trong nhà trường quân sự. Trong thời gian học tập tại nhà trường, học viên đều sống trong một tập thể nhất định, bầu không khí tâm lý đạo đức của tập thể có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi đạo đức của học viên. Một tập thể học viên vững mạnh là tập thể mà trong đó mọi người luôn thương yêu, đoàn kết, đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau, đồng thời đòi hỏi cao lẫn nhau trong việc thực hiện mục đích hoạt động chung vì xã hội, vì tập thể. 2.3. Xây dựng nền nếp sinh hoạt, học tập theo đúng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa, đúng điều lệnh, kỷ luật quân đội Trong giáo dục đạo đức cho học viên không phải chỉ để hình thành tri thức, niềm tin, động cơ đạo đức mà còn phải tạo ra thói quen hành vi đạo đức cho học viên. Để hình thành thói quen hành vi đạo đức của học viên nhất thiết phải duy trì thường xuyên nghiêm túc nền nếp sinh hoạt, học tập theo đúng quy tắc, chuẩn mực đạo đức, đúng điều lệnh, điều lệ quân đội trong mọi hoạt động, từ ăn, ở, sinh hoạt, học tập, lễ tiết, tác phong, vui chơi, giải trí Trong việc hình thành các thói quen hành vi đạo đức cho học viên cần lưu ý một số vấn đề sau: - Quá trình hình thành thói quen hành vi đạo đức cho học viên bắt đầu từ việc học viên ý thức được tính hợp lý, có lợi và tính tất yếu của thói quen hành vi đạo đức, trong hoạt động, trong quan hệ của bản thân. Đây là cơ sở của thói quen hành vi đạo đức. - Muốn hình thành thói quen hành vi đạo đức phải được lặp đi lặp lại thường xuyên trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau để trở thành các “động hình” bền vững. Thông qua việc thực hiện các hành động đó đem lại cho học viên sự thỏa mãn cao về cảm xúc - trí tuệ - đạo đức. - Việc hình thành các thói quen hành vi đạo đức có quan hệ chặt chẽ với việc khắc phục một cách triệt để các thói quen hành vi tiêu cực, phi đạo đức mà người học viên đã có từ trước khi về trường học tập rèn luyện. 2.4. Phát huy tính chủ động, tích cực tự tu dưỡng, tự giáo dục của mỗi học viên Sự hình thành và phát triển đạo đức của mỗi cá nhân là một quá trình lâu dài và phức tạp. Trong mỗi qua trình đó, các tác động bên ngoài (giáo dục) và những sự vận động bên trong (tự giáo dục) thường xuyên có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau. Quá trình giáo dục chỉ có kết quả khi nó trở thành quá trình tự giáo dục. Để chủ động, tích cực tiến hành tự tu dưỡng, tự giáo dục học viên cần phải có những điều kiện nhất định: - Người học viên phải nhận thức được bản thân mình, đánh giá đúng, luôn luôn có thái độ cầu thị, nghiêm túc phê phán những hành vi đạo đức không đúng của chính mình. Những thái độ tự mãn, kiêu ngạo hay tự ti đều trái với điều kiện này. - Người học viên phải có một viễn cảnh đẹp đẽ về cuộc sống tương lai, về lý tưởng của đời mình. Vì con người chỉ tích cực tu dưỡng đạo đức của mình khi biết mình phải đi đến đâu, phải trở thành con người như thế nào. - Học viên phải có động cơ tự tu dưỡng đạo đức đúng đắn, tốt đẹp, có ý nghĩa xã hội cao cả. Cùng với đó, học viên phải có phẩm chất ý chí mạnh, phải có nghị lực đối với chính mình, vì có nghị lực mới tiến hành tự tu dưỡng một cách liên tục và hệ thống. - Công việc tu dưỡng của học viên phải được tập thể giúp đỡ, phải được dư luận tập thể đồng tình ủng hộ. - Việc tu dưỡng của học viên phải được giảng viên, cán bộ quản lý hướng dẫn, đánh giá và uốn nắn thường xuyên. Để giúp đỡ việc tự tu dưỡng đạo đức của học viên, giảng viên, cán bộ quản lý cần hướng dẫn học viên: - Nắm vững mục đích, phương pháp và tổ chức tốt việc tu dưỡng đạo đức cho bản thân. Trong tổ chức việc tự tu dưỡng, đầu tiên phải hướng dẫn cho học viên lập kế hoạch tự tu dưỡng. Trong đó cần hoạch định cụ thể những phẩm chất đạo đức mà học viên cần rèn luyện, củng cố hay khắc phục. - Cần làm cho học viên hiểu rằng, tự tu dưỡng diễn ra trong quá trình hoạt động thực tiễn, quá trình học tập, rèn luyện theo mục tiêu yêu cầu đào tạo, vì chỉ có thông qua thực tiễn thì niềm tin đạo đức, thói quen hành vi đạo đức mới được hình thành và củng cố vững chắc. - Giúp người học luôn tự kiểm tra, tự đánh giá thường xuyên quá trình tự tu dưỡng đạo đức của mình để tự bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu phát triển của từng giai đoạn cụ thể trong quá trình hoạt động, học tập và rèn luyện tại trường. Giáo dục đạo đức cho học viên nhà trường quân đội là một trong những yêu cầu, nhiệm vụ cơ bản, cấp thiết nhằm đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội trong thời kỳ mới. Để nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học viên, phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” phải tiến hành đồng bộ các giải pháp, kết hợp tuyên truyền, giáo dục; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện tốt Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”; phát huy vai trò các tổ chức, các lực lượng, đồng thời chú trọng tính tích cực tự giáo dục, rèn luyện của cán bộ, đảng viên và quần chúng; đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, xây dựng, nhân điển hình tiên tiến trong rèn luyện đạo đức cách mạng; đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hiện tượng vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội./.