Yếu tố ảnh hưởng dẫn đến nghiện ma túy lần đầu ở người sau cai tại Thành phố Hồ Chí Minh

Đặt vấn đề: Mặc dù các nhà chức trách và người dân thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) đã sớm ý thức được sự nguy hiểm của tệ nạn ma túy và thực hiện nhiều biện pháp nhằm hạn chế số người sử dụng, nhưng số lượng người nghiện ma túy tại TPHCM vẫn không ngừng gia tăng. Mục tiêu: khảo sát các yếu tố dẫn đến nghiện ma túy ở người sau cai nghiện (học viên giai đoạn 2) tại các trung tâm cai nghiện của TPHCM. Phương pháp nghiên cứu: đây là nghiên cứu cắt ngang, 854 người sau cai tại 2 trung tâm GDDN & GQVL Bình Đức và Đức Hạnh đã cung cấp thông tin cho chúng tôi bằng cách tự trả lời vào bảng câu hỏi soạn sẵn trong thời gian từ 06/2006 đến 08/2006. Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tác động của bạn bè có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi sử dụng ma túy của người nghiện. Tuy nhiên, nếu có thêm các yếu tố nguy cơ về gia đình và bản thân, người nghiện càng dễ dàng chịu sự tác động của bạn bè hơn và thúc đẩy họ sử dụng ma túy sớm hơn. Đáng lưu ý hơn là người nghiện đã nhận ra trách nhiệm của bản thân. Kết luận: Ma túy là một hiềm họa. Cần có những chiến lược và kế hoạch can thiệp phòng ngừa sớm hành vi sử dụng ma túy ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên.Phát triển kỹ năng sống cho thanh thiếu niên. Khảo sát thêm những yếu tố bảo vệ trên đối tượng này để có những hướng giải quyết khác cho vấn đề nghiện và tái nghiện tại TPHCM.

pdf7 trang | Chia sẻ: thanhuyen291 | Ngày: 14/06/2022 | Lượt xem: 154 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Yếu tố ảnh hưởng dẫn đến nghiện ma túy lần đầu ở người sau cai tại Thành phố Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 220 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG DẪN ĐẾN NGHIỆN MA TÚY LẦN ĐẦU Ở NGƯỜI SAU CAI TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thanh Hiệp * TÓM TẮT Đặt vấn đề: Mặc dù các nhà chức trách và người dân thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) đã sớm ý thức được sự nguy hiểm của tệ nạn ma túy và thực hiện nhiều biện pháp nhằm hạn chế số người sử dụng, nhưng số lượng người nghiện ma túy tại TPHCM vẫn không ngừng gia tăng. Mục tiêu: khảo sát các yếu tố dẫn đến nghiện ma túy ở người sau cai nghiện (học viên giai đoạn 2) tại các trung tâm cai nghiện của TPHCM. Phương pháp nghiên cứu: đây là nghiên cứu cắt ngang, 854 người sau cai tại 2 trung tâm GDDN & GQVL Bình Đức và Đức Hạnh đã cung cấp thông tin cho chúng tôi bằng cách tự trả lời vào bảng câu hỏi soạn sẵn trong thời gian từ 06/2006 đến 08/2006. Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tác động của bạn bè có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi sử dụng ma túy của người nghiện. Tuy nhiên, nếu có thêm các yếu tố nguy cơ về gia đình và bản thân, người nghiện càng dễ dàng chịu sự tác động của bạn bè hơn và thúc đẩy họ sử dụng ma túy sớm hơn. Đáng lưu ý hơn là người nghiện đã nhận ra trách nhiệm của bản thân. Kết luận: Ma túy là một hiềm họa. Cần có những chiến lược và kế hoạch can thiệp phòng ngừa sớm hành vi sử dụng ma túy ở lứa tuổi vị thành niên và thanh thiếu niên.Phát triển kỹ năng sống cho thanh thiếu niên. Khảo sát thêm những yếu tố bảo vệ trên đối tượng này để có những hướng giải quyết khác cho vấn đề nghiện và tái nghiện tại TPHCM. Từ khóa: Khảo sát, Nghiện ma túy ABSTRACT INVESTIGATE THE FACTORS LEAD TO ADDICTION INITIAL DRUG ON THE ADDICTS AFTER DETOXIFICATION AT HO CHI MINH CITY Nguyen Thanh Hiep * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 1 - 2012: 220 - 226 Background: In Ho Chi Minh city (HCMC), the addiction problem is citywide acknowledged as a threat to society. The City authorities are struggling in slowering down the increasing rate of drugs addicts. Objectif: This study was conducted on the addicts after detoxification to find out influential factors leading to their drug abuse. Method: This is a cross – sectional survey, recruited 854 people staying in Binh Duc and Duc Hanh Rehabilitation Center after detoxificated, from June 2006 to August 2006. The interviews were performed using self – administered questionaires. Result: In short, the result of this research indicates that the peer group pressure was a significant influential factor to the practice of using drugs among drug addicts. However, the influential factors as problematic family and individual’s became an impetus to drug abuse and relapse. Moreover, addicts discerned their responsibilities. * Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch Tác giả liên lạc: TS.BS. Nguyễn Thanh Hiệp, ĐT: 0902651235 Email: nguyenthanhhiep@yahoo.com Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 221 Conclusion: The peer group pressure and family problems should be taken into consideration, the lifeskills should be introduced to the youth in the purpose of controlling the growing rate of newly addicts. Keywords: Investigation, Drug addiction ĐẶT VẤN ĐỀ Ma túy đang là một hiểm họa không chỉ mang tính quốc gia mà còn có tính toàn cầu. Theo World Drug Report 2005 của United Nations Office on Drug and Crime (UNODC), tỷ lệ người trong độ tuổi từ 15 – 64 được khảo sát trong một năm (2004) ít nhất 1 lần sử dụng ma túy là khoảng 200 triệu người, tức vào khoảng 5% tổng dân số thế giới, tăng 15 triệu người so với năm trước(11). Số người nghiện ma túy ở một số quốc gia lân cận Việt Nam như Trung Quốc trong những năm gần đây cũng không ngừng tăng lên chỉ tính riêng trong năm 2004 số người nghiện ma túy ở Trung Quốc được phát hiện là 791.000 người, tăng 6,8% so với năm 2003(2) Theo số liệu của UNODC tại Việt Nam tính đến năm 2004 số người nghiện ma túy tại Việt Nam đã lên đến 170.400 người tăng 6% so với năm 2003, riêng tại TPHCM số người nghiện ma túy là 32.000 người (chưa kể số người bị quản lý trong các trại giam, và ước tính còn hơn 5.000 người nghiện ngoài xã hội)(11). Theo Bộ Lao Động – Thương Binh – Xã Hội (LĐTBXH), đến cuối năm 2005 cả nước đã có trên 129.000 người nghiện có hồ sơ quản lý, tăng trên 36.300 người so với năm 2000. Trong đó thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM) tăng gần 10.000 người, Hà Nội tăng trên 6.300 người. Đến nay đã có 64/64 Tỉnh, Thành phố và 90% quận huyện, 58% xã phường thị trấn có người nghiện ma túy(3). Để có một cái nhìn tổng quan và sâu hơn về những khía cạnh quanh cuộc sống trước khi nghiện của người nghiện, chúng tôi chọn các học viên sau cai nghiện (giai đoạn 2) để phỏng vấn, khi thể chất và tinh thần của họ đã được cải thiện khỏi tình trạng lệ thuộc chất ma túy, có một nhận định đúng hơn về những yếu tố tác động đến bản thân dẫn đến con đường nghiện ngập. Khi nguồn gốc của vấn đề được hiểu rõ, thì việc giải quyết sẽ hiệu quả hơn. Đề tài được tiến hành tại 2 Trung tâm GDDN & GQVL Bình Đức và Đức Hạnh trực thuộc TPHCM trú đóng tại Tỉnh Bình Phước Mục tiêu nghiên cứu Xác định các yếu tố về bản thân, gia đình và bạn bè dẫn đến nghiện ma túy lần đầu ở người sau cai nghiện ma túy (học viên giai đoạn 2) tại Trung tâm Giáo dục - Dạy nghề và Giải quyết việc làm Bình Đức và Đức Hạnh trực thuộc Sở LĐTBXH TPHCM từ tháng 6/2006 đến tháng 8/2006. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu Nghiên cứu mô tả, cắt ngang Dân số mục tiêu Người sau cai nghiện (học viên giai đoạn 2) tại các TT GDDN & GQVL trực thuộc TPHCM. Học viên giai đoạn 2: là những người đã kết thúc thời gian cai nghiện tập trung bắt buộc, được chuyển sang đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện nhân cách tại các TT GDDN & GQVL để chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng. Dân số nghiên cứu Người sau cai nghiện (học viên giai đoạn 2) tại TT GDDN & GQVL Bình Đức và Đức Hạnh vào tháng 06-08 năm 2006. Cỡ mẫu Công thức tính cỡ mẫu 2 2 .)2/1( d qpZ n   Với: n : cỡ mẫu tối thiểu cần thiết Z(1 - α/2): hệ số tin cậy = 1,96 (ứng với độ tin cậy 95%) p = 0,5 (do không tìm được công trình nghiên cứu tương tự về người sau cai nghiện); q = 1 - p = 0,5; d : sai số chọn mẫu, d = 0,05 → n = 385. Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 222 Do hiệu ứng chọn mẫu, cỡ mẫu cần thiết là 385 x 2 = 770. Tiêu chuẩn chọn - Đã hoàn thành giai đoạn 1 (giai đoạn cai nghiện bắt buộc gồm: cắt cơn, phục hồi sức khỏe và lao động trị liệu trong 24 tháng) và đang ở giai đoạn 2 (giai đoạn quản lý dạy nghề và giải quyết việc làm). - Thường trú hoặc tạm trú dài hạn (có hộ khẩu hoặc KT3) tại TPHCM trước khi vào trung tâm cai nghiện. - Có khả năng hiểu và trả lời câu hỏi. - Đồng ý tham gia vào nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ Không thoả một trong các điều kiện trên. Phương pháp chọn mẫu Ngẫu nhiên cụm 2 bậc (chọn ngẫu nhiên phòng của các khu trại của 2 trung tâm, chọn ngẫu nhiên đối tượng từ các phòng). Thu thập số liệu Số liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi soạn sẵn học viên tự trả lời. Xử lý số liệu Số liệu được nhập, mã hóa, nhập vào máy tính và quản lý bằng phần mềm Exel 2003. Say khi được làm sạch, số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 11.5. KẾT QUẢ Qua khảo sát 854 đối tượng Đặc điểm chung Tuổi trung bình 27,69 ± 5,15 (18-51); lớp tuổi 26-35 chiếm 55,5%; 85% nam; 38% bắt đầu sử dụng ma túy khi < 19 tuổi; 77% có trình độ học vấn < cấp 2; 75% độc thân; 32% thất nghiệp; 20% là học sinh-sinh viên. Đặc điểm lần sử dụng ma túy đầu tiên Tuổi trung bình 21,62 ± 4,42 (13-37); 93,44% sử dụng hêroin;nơi mà đối tượng chọng sử dụng ma túy lần đầu tiên là quá cà phê chiếm tỷ lệ cao nhất 45,55%, kế đó là tại nhà bạn bè 29,86%; người sử dụng ma túy chung lần đầu đa số là bạn thân (63,11%), kế đến là bạn mới quen (24,94%); tình huống dẫn đến sử dụng ma túy lần đầu đa số đối tượng nêu là do tò mò(32,08%), đặc biệt cao ở nhóm vị thành niên (51,85%), do buồn thất vọng (31,97%), trong đó nữ sử dụng do buồn thất vọng chiến đến 53,90% cao hơn hẳn nam (p<0,001); nguồn ma túy sử dụng lần đầu đa số là do bạn bè cho (74,24%), tự mua (22,13%). Đặc điểm quan hệ gia đình, bạn bè và xã hội của đối tượng Bảng 1: Đặc điểm quan hệ gia đình, bạn bè và xã hội của đối tượng Đặc điểm n = 854 Tần số Tỷ lệ% Bạn bè Trong nhóm bạn sử dụng ma túy Không có ai 219 25,64 Có 635 74,36 Mức độ rủ rê sử dụng ma túy của nhóm bạn Hoàn toàn không rủ 264 30,91 Có rủ sử dụng ma túy 560 65,57 Ép sử dụng ma túy 26 3,04 Lén bỏ vào nước uống 4 0,47 Tệ nạn ma túy trong khu vực sống: Chứng kiến cảnh sử dụng ma túy quang khu vực sống Có chứng kiến 575 67,33 Không chứng kiến 279 32,67 Có thể tìm thấy ma túy quanh khu vực sống Có tìm thấy 399 46,72 Không tìm thấy 455 53,28 Gia đình Người thân nghiện ma túy Có người thân nghiện 73 8,55 Không qi nghiện 781 91,45 Mức độ quan tâm của người sống chung Không quan tâm 380 44,50 Có quan tâm 474 55,50 Người tâm sự trong gia đình Không có ai 734 85,95 Có người tâm sự 120 14,05 Nghề nghiệp cha mẹ Cha n (%) Mẹ n (%) Công nhân 132 (15,46) 44 (5,15) Nông dân 61 (7,14) 27 (3,16) Cán bộ – NVVP 111 (13,00) 46 (5,39) Buôn bán 262 (30,68) 327 (38,29) Hưu trí / giáo viên 83 (9,72) 27 (3,16) Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 223 Đặc điểm n = 854 Tần số Tỷ lệ% Thất nghiệp / nội trợ 78 (9,13) 344 (40,28) Nghề nghiệp không ổn định 127 (14,87) 39 (4,57) Trình độ học vấn Cha n (%) Mẹ n (%) Mù chữ 35 (4,10) 43 (5,04) Cấp 1 212 (24,82) 219 (25,64) Cấp 2 306 (35,83) 366 (42,86) Cấp 3 229 (26,82) 197 (23,06) Trên cấp 3 72 (8,43) 29 (3,40) Bảng 2: Các yếu tố ảnh hưởng (theo nhóm lý do nghiện được đối tượng đưa ra) Các yếu tố ảnh hưởng Lý do sử dụng ma túy Do bạn bè n (%) Do bản thân n (%) Do gia đình n (%) 1. Yếu tố bản thân: Tuổi bắt đầu sử dụng < 19 tuổi 107 (35,79) 159 (42,40)** 56 (31,11) > 19 tuổi 192 (64,21) 216 (57,60) 124 (68,89) Trình độ học vấn < Cấp 2 222 (74,25) 307 (81,87)** 130 (72,22) > Cấp 2 77 (25,75) 68 (18,13) 50 (27,78) Hôn nhân bản thân Độc thân, ly thân/ly dị, góa 230 (76,92) 319 (85,06)** 135 (75) Sống chung với vợ/chồng (đã hoặc chưa kết hôn) 69(23,08) 56 (14,94) 45 (25) 2. Yếu tố gia đình: Hôn nhân cha mẹ Ly thân/ly dị, goá 84 (28,09) 108 (28,80) 81 (45)** Sống chung (đã hoặc chưa kết hôn) 215 (71,91) 267 (71,20) 99 (55) Quan tâm của cha mẹ Không 128 (42,81) 155 (41,33) 97 (53,88)** Có quan tâm 171 (57,19) 220 (58,67) 83 (46,12) Gia đình có người nghiện Có 23 (7,69) 31 (8,27) 19 (10,55)** Không 276 (92,31) 344 (91,73) 161 (89,45) Người tâm sự trong gia đình Không có người tâm sự 257 (85,95) 313 (83,47) 164 (91,11) Có người tâm sự 42 (14,05) 62 (16,53) 16 (8,89) 3. Yếu tố bạn bè: Bạn sử dụng ma túy 239 (79,93)** 269 (71,73) 127 (70,55) Không sử dụng ma túy 60 (20,07) 106 (28.27) 53 (29,45) Có rủ sử dụng ma túy 228 247 (65,87) 115 (63,89) Các yếu tố ảnh hưởng Lý do sử dụng ma túy Do bạn bè n (%) Do bản thân n (%) Do gia đình n (%) (76,25)** Không rủ sử dụng ma túy 71 (23,75) 128 (34,13) 65 (36,11) Tổng n=854 299 (35,01) 375(43,91) 180 (21,08) **p< 0.005 Lý do dẫn đến nghiện ma túy theo đối tượng tự đánh giá nhiều nhất là do bản thân (tò mò, ham vui, bốc đồng, thiếu hiểu biết về tác hai của ma túy): 43,91%. Kiểm chứng cho thấy, nhóm đối tượng trên có nhiều yếu tố nguy cơ về bản thân hơn nhóm xác định lý do dẫn đến nghiện là từ bạn bè và gia đình. Phân tích mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng với lý do sử dụng cho thấy: những người có trình độ < cấp 2 bắt đầu sử dụng ma túy ở tuổi < 19 nhiều hơn nhóm có trình độ trên cấp 2 (p <0.05, RR = 1.33, KTC 95% =1.09 – 2.22) và sử dụng do bạn bè lôi kéo nhiều hơn (p < 0.001, RR = 1.17, KTC 95% = 1.04 – 1.32); nhóm có gia đình không đầy đủ bắt đầu sử dụng ma túy ở tuổi < 19 nhiều hơn nhóm còn lại (p < 0,001, RR = 1,3, KTC 95% = 1,1 – 1,6) và cũng đã sử dụng do bị bạn bè lôi kéo nhiều hơn (p< 0,05, RR = 1,12, KTC 95% = 1,02 –1,22). Tương tự với nhóm không được người sống chung trong gia đình quan tâm; không có người tâm sự; có gia đình không đầy đủ dễ bị bạn bè rủ sử dụng ma túy hơn nhóm còn lại (p <0,05, RR = 1,3, KTC 95% = 1,1 – 1,5). BÀN LUẬN Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tại thời điểm khảo sát, tất cả các đối tượng nghiên cứu chúng tôi đều từ 18 tuổi trở lên, do quy định của “Đề án tổ chức quản lý, dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện” chỉ áp dụng cho người đủ 18 tuổi. Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi có trình độ học vấn từ cấp 2 trở xuống chiếm tỷ lệ rất cao là 77,2% tương tự với tỷ lệ 85,1% trong báo cáo của hai trung tâm khảo sát nhưng cao hơn nhiều so với tỷ lệ 44,6% của Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 224 Huỳnh Tấn Sơn, và 44,5% của Phạm Thị Xuân Hằng và Nguyễn Thị Thu Hiền(9). Điều khác biệt này là do sự khác nhau giữa hai đối tượng nghiên cứu. Đối tượng của chúng tôi hầu hết là đối tượng cai nghiện bắt buộc khi có chương trình 3 giãm của TPHCM, bao gồm những người nghiện sống lang thang, vô gia cư hoặc đang cai nghiện tại nhà nên đa số đối tượng này có trình độ học vấn thấp, còn đối tượng của các tác giả trên là những người cai nghiện tự nguyện, thuộc gia đình khá giả, có trình độ học vấn từ cấp 3 và trên cấp 3 nhiều hơn. Trình độ học vấn tuy không phải là yếu tố trực tiếp thúc đẩy đối tượng đến sử dụng ma túy, nhưng có ảnh hưởng đến nhiều yếu tố nguy cơ khác như: khả năng nhận định tốt hay xấu, đúng hay sai, khả năng trao đổi với cha mẹ, khả năng từ chối rủ của bạn, khả năng tiếp cận những thông tin về ma túy. Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi bắt đầu sử dụng ma túy trong độ tuổi từ 20-25 là nhiều nhất với tỷ lệ 44.3%, độ tuổi vị thành niên (≤ 19 tuổi) cũng chiếm đến 37,9%. Tuổi bắt đầu sử dụng ma túy trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 21,62 ± 4,42, gần với kết qủa nghiên cứu về người nghiện chung tại TPHCM của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Châu là 21,47(8) Các yếu tố bản thân Nghiên cứu này đã để cho đối tượng tự đánh giá nguyên nhân khiến họ nghiện ma túy, và kết qua là 43,9% đánh giá mình nghiện là do chính bản than tò mò, ham vui, bốc đồng, muốn bắt chước bạn bè, thiếu hiểu biết về tac hại của ma túy 35% nói rằng do tác động của bạn bè như bạn rủ, nói khích, ép buộc sử dụng. Kiểm tra lại, chúng tôi nhận thấy nhóm đối tượng tự đánh giá lý do dẫn họ đến nghiện ma túy thuộc về bản thân thật sự có những yếu tố nguy cơ về bản thân nhiều hơn nhóm nghiện ma túy không phải do bản thân. Những yếu tố tiêu cực này bao gồm: trình độ học vấn dưới cấp 2, sống độc thân ly thân, ly dị hoặc góa và tuổi ≤ 19 (tại thời điểm sử dụng ma túy lần đầu). Trở ngược lại, phần phân tích về bạn bè đã nhấn mạnh “bạn bè thật sự có tác động thúc đẩy qúa trình tiến tới sử dụng và nghiện của đối tượng, nhưng còn những tác động khác khiến đối tượng quyết định sử dụng hay không sử dụng ma túy”. Kết qủa cho thấy đối tượng tự xác định yếu tố quyết định đó chính là bản thân chiếm tỷ lệ cao nhất (43,9%). Phân tích sâu hơn, riêng trong nhóm bắt đầu sử dụng vào tuổi vị thành niên, tỷ lệ đối tượng nghiện ma túy là do bản thân cao hơn của dân số nghiên cứu chung, với tỷ lệ là 49,1%. Điều này cho thấy vấn đề nâng cao ý thức và khả năng tự đấu tranh để nói không ma túy là hết sức quan trọng ở giới trẻ, đặc biệt là vị thành niên. Đây là một tín hiệu vui cho những nhà làm công tác hậu cai nghiện vì sự nhận diện đúng bản chất vấn đề và nhận ra trách nhiệm bản thân của người nghiện ma túy tại thời điểm này. Các yếu tố gia đình Tác giả Lâm Xuân Điền & cs nói rằng trong cộng đồng của người nghiện thì quan hệ giữa con cái và cha mẹ rất xấu(6). Tác giả Nguyễn Châu Xuân Phương còn cho biết thêm là có mối tương quan giữa hành vi sử dụng chất gây nghiện với sự thiếu quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình. Cộng thêm vào những nhận định trên, kết qủa của chúng tôi cho thấy những người không được cha mẹ quan tâm thì bắt đầu sử dụng ma túy ở tuổi vị thành niên nhiều hơn nhóm được sự quan tâm của cha mẹ, và cũng dễ bị bạn rủ sử dụng ma túy hơn. Như vậy, sự quan tâm của gia đình đặc biệt là cha mẹ, sự gắn bó giữa các thành viên là những yếu tố tác động tích cực. Các yếu tố bạn bè Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Châu thì việc có bạn thân sử dụng ma túy là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy đối tượng sử dụng ma túy(8), cũng như LI C, Pentz MA, Chou CP khẳng định có yếu tố có bạn thân sử dụng ma túy là một yếu tố nguy cơ cao dẫn đến nghiện(4). Vì vậy trong nhóm dân số hậu quả (đã nghiện) của nghiên cứu này, tỷ lệ 74,4% chơi chung với Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội nghị Khoa Học Kỹ Thuật Trường Đại Học Y Phạm Ngọc Thạch 2012 225 bạn đã sử dụng ma túy trước khi đối tượng bắt đầu sử dụng ma túy là một tỷ lệ có giá trị. Con số 69,1% đã từng bị bạn sử dụng ma túy khá tương ứng với 74,4% có bạn sử dụng. Khi trong nhóm bạn chơi chung có người sử dụng ma túy thì điều đương nhiên dẫn tới là sự rủ rê, lôi kéo hoặc kích thích sự tò mò, bắt chước của những người khác để cuối cùng tất cả cùng sử dụng. Chính vì vậy, tỷ lệ đối tượng xác định mình nghiện ma túy do chịu tác động của bạn bè (như rủ rê, nói khích, ép buộc) chiếm đến 35%, gần với kết qua 43,2% của Phạm Thị Xuân Hằng và Nguyễn Thị Thu Hiền(9). Tuy nhiên đi sâu vào nhóm ban đầu sử dụng ở tuổi vị thành niên, tỷ lệ bị bạn rủ cao hơn (75%) nhưng số đối tượng xác định nghiện ma túy do tác động của bạn bè lại thấp hơn (33%). Vậy đâu là yếu tố giúp ngăn bớt tác động của bạn bè ở nhóm đối tượng này? Đây là những điểm cần làm sáng tỏ bằng những nghiên cứu sắp tới. Một điểm chúng tôi muốn lưu ý là, tuy tỷ lệ từng bị bạn rủ rất nhiều nhưng phần lớn mức độ chỉ dừng ở rủ rê chú không ép buộc. Điều này cho thấy rõ, tuy bạn bè thực sự có tác động thúc đẩy qúa trình tiến tới sử dụng và nghiện của đối tượng nhưng còn những nhân tố tác động khác khiến đối tượng quyết định sử dụng hay không dụng ma túy. Qua khảo sát các mối tương quan giữa các yếu tố ảnh hưởng khác với khả năng bị bạn rủ sử dụng: Kết qua của chúng tôi cũng chỉ ra rằng những nhóm dân số sau dể bị bạn rủ sử dụng ma túy hơn: - Có trình độ học vấn từ cấp 2 trở xuống. Bởi vì khi nghỉ học sớm thì các mối quan hệ bạn bè của đối tượng là ngoài xã hội chứ không còn trong nhà trường, việc gặp gỡ tạo thành nhóm bạn chủ yếu từ các nơi vui chơi giải trí, với các đối tượng cùng sở thích, trình độ học vấn thấp. Họ tụ họp thành nhóm bạn, từ nhóm bạn này luôn bầu ra một người đứng đầu gọi là “Thủ lĩnh” và mọi thành viên trong nhóm đều bị chi phối bởi thủ lĩnh này, lúc này nhóm bạn trở thành nhóm xã hội. Một khi nhóm xã hội này có định hướng sai lệch sẽ làm ảnh hưởng đến xã hội và cộng đồng xung quanh. Do đó, yếu tố ảnh hưởng bị bạn bè rủ sử dụng có tiền đề là trình độ nhận thức và học vấn của đối tượng thấp, đối tượng không được cha mẹ quan tâm, cha mẹ ly thân, ly dị hoặc mất, không có người tâm sự trong gia đình. KẾT LUẬN Qua kết quả khảo sát
Tài liệu liên quan