Đánh giá kết quả áp dụng kỹ thuật lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn

Mở đầu: Lọc máu liên tục được nhiều tác giả cho là có thể lọc cytokine, cải thiện huyết động, ngăn chận tiến triển của suy đa tạng trong giai đoạn sớm và hỗ trợ chức năng các tạng, kiểm soát tốt nước, điện giải, thăng bằng kiềm toan, thanh thải các chất hòa tan trong giai đoạn muộn. Ở trong nước, lĩnh vực này đã có một số nghiên cứu bước đầu về hiệu quả lọc máu liên tục nhưng kết quả có một số kết luận trái chiều, vì thế chúng tôi thực hiện nghiên cứu đa trung tâm tại ba bệnh viện Chợ Rẫy, Bạch Mai, Việt Tiệp với đề tài “Đánh giá kết quả áp dụng kỹ thuật lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn” nhằm đánh giá hiệu quả lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân 18 tuổi, được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn dựa theo tiêu chuẩn của Hội nghị thống nhất các Hội hồi sức thế giới năm 2001(Error! Reference source not found.), nhập khoa HSCC bệnh viện Chợ Rẫy, Bạch Mai, Việt Tiệp từ 01/08/2008 đến 31/08/2010. Phương pháp nghiên cứu: can thiệp, tự chứng. Bệnh án nghiên cứu theo mẫu. Máy lọc máu liên tục Prismaflex của Hãng Gambro. Các bệnh nhân vào nghiên cứu được đánh giá hiệu quả trên huyết động, hiệu quả giảm tiến triển suy đa tạng, các biến chứng của lọc máu liên tục và các hiệu quả khác. Kết quả: 73 bệnh nhân được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn đã duy trì được huyết áp tâm thu ≥ 90mmHg bằng truyền dịch và thuốc vận mạch theo tiêu chuẩn của ACCP/SCCM-2001 được đưa vào nghiên cứu. Điểm APACHE II: 23,47 ± 5,52 và SOFA: 12,59 ± 3,26. Số tạng suy: 3,19 ± 0,95. Thời gian từ khi sốc đến khi lọc máu liên tục: 24,34 ± 13,26 (giờ). Thông số huyết động được cải thiện: nhịp tim giảm có ý nghĩa (p< 0,001), cải thiện huyết áp trung bình từ giờ thứ 6 trở đi (p < 0,001), tăng có ý nghĩa (p < 0,001) sức cản mạch hệ thống từ giờ thứ 6 lọc máu trở đi ở cả 2 nhóm sống và tử vong. Điểm SOFA giảm có ý nghĩa từ giờ thứ 48 (p < 0,001), giảm được liều thuốc vận mạch, cải thiện điểm SOFA ở nhóm sống có ý nghĩa sớm hơn từ giờ thứ 24 (p < 0,01). Cải thiện pH máu có ý nghĩa thống kê từ giờ thứ 48 (nhóm sống) (p<0,05) và cải thiện lactat máu từ giờ thứ 6 (p < 0,05) (nhóm sống). Tỉ lệ thoát sốc 54,79 % và tỉ lệ tử vong 49,3 %. Lọc máu liên tục trong vòng 12 giờ đầu từ khi khởi phát sốc nhiễm khuẩn cho kết quả tốt hơn lọc máu muộn sau 12 giờ (tỉ lệ tử vong 11,8% so với 72,4% với p < 0,05). Kết luận: Kỹ thuật lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch với thể tích dịch thay thế cao tỏ ra có hiệu quả tốt trong điều trị sốc nhiễm khuẩn: các chỉ số về lâm sàng và cận lâm sàng được cải thiện trong quá trình lọc máu, giảm được tỷ lệ tử vong, nhất là ở nhóm bệnh nhân được lọc máu sớm. Quy trình kỹ thuật lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch với thể tích dịch thay thế cao tỏ ra an toàn khi ứng dụng điều trị sốc nhiễm khuẩn, có thể áp dụng rộng rãi ở các cơ sở hồi sức - cấp cứu có khả năng thực hiện lọc máu liên tụ

pdf13 trang | Chia sẻ: thanhuyen291 | Ngày: 13/06/2022 | Lượt xem: 265 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá kết quả áp dụng kỹ thuật lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012 145 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ÁP DỤNG KỸ THUẬT LỌC MÁU LIÊN TỤC TRONG ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM KHUẨN Phạm Thị Ngọc Thảo*, Nguyễn Gia Bình**, Đặng Quốc Tuấn**, Trần Thanh Cảng*** TÓM TẮT Mở đầu: Lọc máu liên tục được nhiều tác giả cho là có thể lọc cytokine, cải thiện huyết động, ngăn chận tiến triển của suy đa tạng trong giai đoạn sớm và hỗ trợ chức năng các tạng, kiểm soát tốt nước, điện giải, thăng bằng kiềm toan, thanh thải các chất hòa tan trong giai đoạn muộn. Ở trong nước, lĩnh vực này đã có một số nghiên cứu bước đầu về hiệu quả lọc máu liên tục nhưng kết quả có một số kết luận trái chiều, vì thế chúng tôi thực hiện nghiên cứu đa trung tâm tại ba bệnh viện Chợ Rẫy, Bạch Mai, Việt Tiệp với đề tài “Đánh giá kết quả áp dụng kỹ thuật lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn” nhằm đánh giá hiệu quả lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn.. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân 18 tuổi, được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn dựa theo tiêu chuẩn của Hội nghị thống nhất các Hội hồi sức thế giới năm 2001(Error! Reference source not found.), nhập khoa HSCC bệnh viện Chợ Rẫy, Bạch Mai, Việt Tiệp từ 01/08/2008 đến 31/08/2010. Phương pháp nghiên cứu: can thiệp, tự chứng. Bệnh án nghiên cứu theo mẫu. Máy lọc máu liên tục Prismaflex của Hãng Gambro. Các bệnh nhân vào nghiên cứu được đánh giá hiệu quả trên huyết động, hiệu quả giảm tiến triển suy đa tạng, các biến chứng của lọc máu liên tục và các hiệu quả khác. Kết quả: 73 bệnh nhân được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn đã duy trì được huyết áp tâm thu ≥ 90mmHg bằng truyền dịch và thuốc vận mạch theo tiêu chuẩn của ACCP/SCCM-2001 được đưa vào nghiên cứu. Điểm APACHE II: 23,47 ± 5,52 và SOFA: 12,59 ± 3,26. Số tạng suy: 3,19 ± 0,95. Thời gian từ khi sốc đến khi lọc máu liên tục: 24,34 ± 13,26 (giờ). Thông số huyết động được cải thiện: nhịp tim giảm có ý nghĩa (p< 0,001), cải thiện huyết áp trung bình từ giờ thứ 6 trở đi (p < 0,001), tăng có ý nghĩa (p < 0,001) sức cản mạch hệ thống từ giờ thứ 6 lọc máu trở đi ở cả 2 nhóm sống và tử vong. Điểm SOFA giảm có ý nghĩa từ giờ thứ 48 (p < 0,001), giảm được liều thuốc vận mạch, cải thiện điểm SOFA ở nhóm sống có ý nghĩa sớm hơn từ giờ thứ 24 (p < 0,01). Cải thiện pH máu có ý nghĩa thống kê từ giờ thứ 48 (nhóm sống) (p<0,05) và cải thiện lactat máu từ giờ thứ 6 (p < 0,05) (nhóm sống). Tỉ lệ thoát sốc 54,79 % và tỉ lệ tử vong 49,3 %. Lọc máu liên tục trong vòng 12 giờ đầu từ khi khởi phát sốc nhiễm khuẩn cho kết quả tốt hơn lọc máu muộn sau 12 giờ (tỉ lệ tử vong 11,8% so với 72,4% với p < 0,05). Kết luận: Kỹ thuật lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch với thể tích dịch thay thế cao tỏ ra có hiệu quả tốt trong điều trị sốc nhiễm khuẩn: các chỉ số về lâm sàng và cận lâm sàng được cải thiện trong quá trình lọc máu, giảm được tỷ lệ tử vong, nhất là ở nhóm bệnh nhân được lọc máu sớm. Quy trình kỹ thuật lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch với thể tích dịch thay thế cao tỏ ra an toàn khi ứng dụng điều trị sốc nhiễm khuẩn, có thể áp dụng rộng rãi ở các cơ sở hồi sức - cấp cứu có khả năng thực hiện lọc máu liên tục. Từ khóa: sốc nhiễm trùng, lọc máu liên tục tĩnh mạch- tĩnh mạch *Khoa Hồi sức cấp cứu BV Chợ Rẫy, Bộ môn Hồi sức cấp cứu ĐHYDTPHCM ** Bệnh viện Bạch Mai *** Bệnh viện Việt Tiệp Tác giả liên lạc: BSCKII. Phạm Thị Ngọc Thảo, ĐT: 0903628016 Email: thaocrh10@yahoo.com Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012 146 ABSTRACT EVALUATING THE THERAPEUTIC EFFECTIVENESS OF THE CONTINUOUS RENAL REPLACEMENT THERAPY TECHNIQUE IN SEPTIC SHOCK Pham Thi Ngoc Thao, Nguyen Gia Binh, Dang Quoc Tuan, Tran Thanh Cang * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 2 - 2012: 145 - 157 Introduction: The continuous renal replacement therapy (CRRT) is recognized by many authors as being able to filtrate cytokines, improve hemodynamics, prevent the development of the multiple organ dysfunction syndrome in early stage and support organ function, control water, electrolyte and metabolic balance as well as clear the solute in the late stage of septic shock. In Vietnam, there have been some investigations on the therapeutic power of CRRT drawing somewhat contradictory conclusions which motivated us to conduct a multi-center study in there hospital Cho Ray, Bach Mai and Viet Tiep entitled “Evaluating the therapeutic effectiveness of the continuous renal replacement therapy in septic shock” with the aim at evaluating the therapeutic effectiveness of CRRT in septic shock. Patients and Methods: Patients: Patients of 18 year old diagnosed of septic shock based on the criteria issued by the American College of Chest Physicians/Society of Critical Care Medicine Consensus Conference 2001 (ACCP/SCCM-2001)(Error! Reference source not found.), hospitalized in Cho Ray Hospital, Bach Mai Hospital and Viet Tiep Hospital from August 1st 2008 to August 31st 2010. Methods: This was an interventional clinical study. Data were collected according to study protocol. CRRT machines used in the study were Prismaflex (Gambro Company). Patients recruited were evaluated the efficacy of CRRT on hemodynamics, regression of multiple organ dysfunction syndrome, potential complications of CRRT and other impacts. Results: Seventy three patients with septic shock who were maintained a systolic blood pressure of ≥ 90mmHg by fluid therapy and vasoactive drugs according to the criteria by ACCP/SCCM-2001 were recruited in to the study. The APACHE II score: 23.47 ± 5.52 and SOFA of 12.59 ± 3.26. Number of organ with dysfuntion: 3.19 ± 0.95. Time gap from shock to initiation of CRRT: 24.34 ± 13.26 hours. Improvement of hemodynamics: significant reduction of heart rate (p< 0.001), improved mean blood presure after 6h under CRRT (p< 0.001), significant increase (p< 0.001) of systemic vascular resistance after 6h in both patient groups of survival and death. The SOFA score decreased significantly after 48h under CRRT (p< 0.001), reduction of vasoactive drugs dosage and the SOFA score improved earlier in survived patients after 24h under CRRT (p< 0.01). The pH values and serum lactate levels in the survival group improved significantly from the 48th hour (p< 0.05) and from the 6th hour (p< 0.05), respectively. Shock was sucessfully treated in 54.79% of patients and death rate was of 49.3%. Early initiation of CRRT within 12 hours from onset of shock lead to better outcome in comparison with late initiation of CRRT after 12 hours from onset of shock (survival rate 11.8% versus 72.4%, respectively, p< 0.05). Conclusion: The veno-venous CRRT technique with high replacement fluid volume proved highly effective in the treatment of septic shock: improvement of clinical and laboratory indexes, reduction of death rate, especially in group of early initiation of CRRT. The technique of veno-venous CRRT with high replacement fluid volume was of safety in the treatment of septic shock and could be widely applied in the intensive care units where CRRT is available. Keywords: septic shock, veno-venous CRRT Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012 147 MỞ ĐẦU Lọc máu liên tục được nhiều tác giả cho là có thể lọc cytokine, cải thiện huyết động, ngăn chận tiến triển của suy đa tạng trong giai đoạn sớm và hỗ trợ chức năng các tạng, kiểm soát tốt nước, điện giải, thăng bằng kiềm toan, thanh thải các chất hòa tan trong giai đoạn muộn. Ở trong nước, lĩnh vực này đã có một số nghiên cứu bước đầu về hiệu quả lọc máu liên tục nhưng kết quả có một số kết luận trái chiều, vì thế chúng tôi thực hiện nghiên cứu đa trung tâm tại ba bệnh viện Chợ Rẫy, Bạch Mai, Việt Tiệp với đề tài “Đánh giá kết quả áp dụng kỹ thuật lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn” nhằm đánh giá hiệu quả lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn.. ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu Bệnh nhân 18 tuổi, được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn dựa theo tiêu chuẩn của Hội nghị thống nhất các Hội hồi sức thế giới năm 2001 (10), nhập khoa HSCC bệnh viện Chợ Rẫy, Bạch Mai, Việt Tiệp từ 01/08/2008 đến 31/08/2010. Phương pháp nghiên cứu Can thiệp, tự chứng. Bệnh án nghiên cứu theo mẫu. Máy lọc máu liên tục Prismaflex của Hãng Gambro. Các bệnh nhân vào nghiên cứu được đánh giá hiệu quả trên huyết động, hiệu quả giảm tiến triển suy đa tạng, các biến chứng của lọc máu liên tục và các hiệu quả khác. Xử lý số liệu Số liệu được xử lý bằng thống kê y học Stata 16.0. KẾT QUẢ Từ tháng 01/08/2008 đến tháng 31/08/2010, có 73 bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết theo tiêu chuẩn của ACCP/SCCM-2001. Đặc tính bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn trong nghiên cứu Tuổi trung bình: 55,77 ± 16,29 (tuổi), cao nhất 90 tuổi, thấp nhất 21 tuổi Giới: nam 79,5%, nữ 20,5% Loại nhiễm khuẩn: Nhiễm khuẩn cộng đồng 72,2%, bệnh viện 27,8%. Đường vào của nhiễm khuẩn: Hô hấp: 46,57%, tiêu hóa 24,66%, tiết niệu 12,33%, da 9,59%, khác 6,84%. Độ nặng của bệnh nhân trước khi được lọc máu. Bảng 1: Mức độ nặng của bệnh nhân trước khi được lọc máu liên tục Thông số Giá trị Số tạng suy (n = 73) 3,19 ± 0,95 (1 – 5) Điểm APACHE II (điểm) (n = 73) 23,47 ± 5,22 (12 – 34) Điểm SOFA (điểm) (n = 73) 12,59 ± 3,26 (5 – 20) Thời gian từ khi sốc đến khi LMLT (n = 64) 24,34 ± 13,26 (giờ) Số vận mạch dùng trước LMLT (n = 73) 2,5 ± 1,5 (1 – 4) Liều Noradrenalin (g/kg/phút) (n=68) 0,79 ± 0,65 (0,05 – 3) Liều Dopamin (g/kg/phút) (n= 15) 13,27 ± 4,37 (7 – 20) Liều Dobutamin (g/kg/phút) (n=61) 15,38 ± 5,6 (3 – 23) Liều Adrenalin (g/kg/phút) (n=10) 0,67 ± 0,92 (0,05 – 2,5) Hiệu quả lọc máu liên tục trong sốc nhiễm khuẩn Hiệu quả về mặt huyết động Bảng 2: Sự thay đổi mạch trong quá trình LMLT Mạch (lần/phút) Thời điểm Chung (n=73) Sống (n=37) Tử vong (n=36) P T0 128,1 ± 21,3 127,5 ± 21,4 128,7 ± 21,5 > 0,05 T1 125,1 ± 18.7*** 124,6 ± 15,8*** 125,7 ± 22,1 > 0,05 T2 123,2 ± 17,3*** 120,0 ± 18,4*** 126,3 ± 15,7 > 0,05 T3 119,1 ± 19,4*** 115,9 ± 15,9*** 122,5± 22,2 < 0,05 T4 113,2 ± 20,2*** 108,5 ± 17,5*** 118,5 ± 21,9* < 0,05 T5 109,3 ± 21,6*** 104,2 ± 16,6*** 119,8 ± 27,0 < 0,05 T6 101,5 ± 20,3*** 98,1 ± 16,8*** 110,2 ± 25,9 < 0,05 * P < 0,05; ** P < 0,01; ***P < 0,001 (so với T0) Nhận xét: Mạch giảm có ý nghĩa thống kê thống kê (p < 0,001) từ giờ thứ 6 ở nhóm sống Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012 148 trong khi ở nhóm tử vong mạch giảm có ý nghĩa giờ thứ 24. Bảng 3: Sự thay đổi về huyết áp trung bình trong quá trình LMLT Huyết áp trung bình (mmHg) Thời điểm Chung (n=73) Sống (n = 37) Tử vong (n = 36) P T0 69,25 ± 8,83 70,7 ± 9,7 67,75 ± 7,7 > 0,05 T1 74,90 ± 8,11*** 76,2 ± 6,8*** 73,4 ± 9,3*** > 0,05 T2 80, 54 ± 10,95*** 83,1 ± 10,3*** 78,0 ± 11,2*** < 0,05 T3 80,94 ± 13,03*** 86,6 ± 8,4*** 75,2 ± 14,4** < 0,05 T4 81,17 ± 14,27*** 87,6 ± 9,6*** 74,0 ± 15,3* < 0,05 T5 84,56 ± 12,85*** 89,6 ± 7,8*** 75,0 ± 15,1 < 0,05 T6 90,15 ± 8,33*** 92,0 ± 7,5*** 85,2 ± 8,7* < 0,05 * P < 0,05; ** P < 0,01; ***P < 0,001 (so với T0) Nhận xét: Huyết áp trung bình tăng có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) ở cả hai nhóm từ giờ thứ 6. Từ giờ thứ 12 huyết áp trung bình ở nhóm sống tăng nhiều hơn so với nhóm tử vong (p < 0,05). Bảng 4: Sự thay đổi CVP trong quá trình LMLT CVP (cmH2O) Thời điểm Chung (n = 73) Sống (n = 37) Tử vong (n = 36) p T0 10,87 ± 4,22 10,0 ± 4,4 11,8 ± 3,8 > 0,05 T1 10,67 ± 3,52 10,0 ± 3,3 11,4 ± 3,7 > 0,05 T2 10,74 ± 3,56 10,6 ± 3,8 10,9 ± 3,4 > 0,05 T3 11,11 ± 3,60 10,8 ± 3,4 11,4 ± 3,8 > 0,05 T4 11,10 ± 3,66 10,6 ± 3,9 11,6 ± 3,3 > 0,05 T5 10,70 ± 3,85 10,7 ± 4,0 10,6 ± 3,5 > 0,05 T6 9,78 ± 3,26 9,6 ± 3,5 10,3 ± 2,7 > 0,05 Nhận xét: CVP thay đổi không có ý nghĩa thống kê trước, trong và sau quá trình lọc máu. Bảng 5: Sự thay đổi về PAWP trong quá trình lọc máu liên tục PAWP (mmHg) Thời điểm Chung (n=16) Sống (n=8) Tử vong (n=8) p T0 13,6 ± 5,3 12,5 ± 5,1 14,8 ± 5,5 >0,05 T1 13,9 ± 4,4 13,3 ± 4,0 14,6 ± 4,9 >0,05 T2 14,2 ± 4,8 12,6 ± 4,1 15,8 ± 5,2 >0,05 T3 13,8 ± 4,9 12,8 ± 5,3 14,8 ± 4,7 >0,05 T4 12,7 ± 4,6 11,4 ± 4,8 15,3 ± 3,2 >0,05 T5 11,6 ± 3,8 10,5 ± 3,0 14,3 ± 4,9 >0,05 Nhận xét: PAWP ở nhóm tử vong cao hơn nhóm sống ở tất cả các thời điểm, tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê. Bảng 6: Sự thay đổi về CO trong quá trình LMLT CO (l/ph) Thời điểm Chung (n=16) Sống (n=8) Tử vong (n=8) P T0 7,48 ± 2,20 7,93 ± 2,21 7,03 ± 2,25 >0,05 T1 7,22 ± 1,85 7,82 ± 1,89 6,63 ± 1,71 >0,05 T2 6,91 ± 1,75* 7,57 ± 1,78 6,24 ± 1,54 >0,05 T3 6,38 ± 1,89** 6,96 ± 2,02* 5,79 ± 1,68* >0,05 T4 6,05 ± 1,92** 6,37 ± 1,96* 5,39 ± 1,93* >0,05 T5 5,75 ± 1,77*** 5,91 ± 1,62** 5,31 ± 2,46* >0,05 * P < 0,05; ** P < 0,01; ***P < 0,001 (so với T0) Nhận xét: CO giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) từ giờ thứ 24 ở cả nhóm sống và tử vong và CO ở nhóm sống và tử vong khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Bảng 7: Sự thay đổi CI trong quá trình LMLT CI (l/ph/m²) Thời điểm Chung (n=16) Sống (n=8) Tử vong (n=8) p T0 4,73 ± 1,18 4,95 ± 0,95 4,51 ± 1,40 >0,05 T1 4,60 ± 1,04 4,94 ± 0,94 4,25 ± 1,07 >0,05 T2 4,41 ± 1,01* 4,81 ± 0,96 4,00 ± 0,93 >0,05 T3 4,05 ± 0,99** 4,39 ± 0,92* 3,70 ± 0,98* >0,05 T4 3,91 ± 1,08** 4,15 ± 1,02* 3,43 ± 1,17* >0,05 T5 3,65 ± 0,97*** 3,75 ± 0,83** 3,38 ± 1,48* >0,05 * P < 0,05; ** P < 0,01; ***P < 0,001 (so với T0) Nhận xét: CI giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) tại thời điểm giờ thứ 24 ở cả nhóm sống và nhóm tử vong và khác biệt về CI giữa nhóm sống và nhóm tử vong qua các thời điểm không có ý nghĩa thống kê. Bảng 8: Sự thay đổi về SRV trong quá trình LMLT SRV (dynes/giây/cm5) Thời điểm Chung (n=16) Sống (n=8) Tử vong (n=8) p T0 714,3 ± 243,4 674,6 ± 235,1 754,0 ± 260,9 >0,05 T1 872,5 ± 262,7*** 845,9 ± 229,5*** 899,1±306,0** >0,05 T2 905,0 ± 297,8*** 826,2 ± 261,8** 983,8 ± 327,5*** >0,05 T3 1018,8 ± 293,8*** 926,4 ± 186,7*** 1111,3 ± 361,4*** >0,05 T4 1100,5 ± 453,2*** 1066,6 ± 281,3*** 1168,2 ± 749,9*** >0,05 T5 1281,7 ± 546,0*** 1218,8 ± 367,6*** 1449,6 ± 979,6*** >0,05 Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012 Nghiên cứu Y học Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012 149 * P < 0,05; ** P < 0,01; ***P < 0,001 (so với T0) Nhận xét: SRV tăng có ý nghĩa từ giờ thứ 6 ở cả nhóm sống và nhóm tử vong; không có sự khác biệt về SRV giữa 2 nhóm sống và tử vong qua các thời điểm. Bảng 9: Sự thay đổi về SV trong quá trình LMLT SV (ml/nhịp) Thời điểm Chung (n=16) Sống (n=8) Tử vong (n=8) P T0 54,2 ± 13,9 59,7 ± 10,9 48,7 ± 15,1 >0,05 T1 59,1 ± 17,6 69,2 ± 17,3 48,9 ± 11,3 <0,05 T2 57,6 ± 19,3 70,2 ± 19,1 45,1 ± 8,5 <0,05 T3 54,1 ± 17,0 63,5 ± 17,7 44,6 ± 10,0 <0,05 T4 54,8 ± 18,4 61,1 ± 19,3 42,1 ± 7,2 <0,05 T5 57,8 ± 17,0 61,4 ± 17,8 48,1 ± 12,0 <0,05 Nhận xét: SV thay đổi không có ý nghĩa qua các thời điểm lọc máu liên tục, tuy nhiên ở nhóm sống và từ thời điểm giờ thứ 6 SV cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm tử vong. Bảng 10: Sự thay đổi về liều noradrenalin trong quá trình LMLT Noradrenalin (g/kg/ph) Thời điểm Chung (n = 68) Sống (n = 33) Tử vong (n = 35) P T0 0,79 ± 0,65 0,70 ± 0,68 0,89 ± 0,62 > 0,05 T1 0,93 ± 0,71* 0,79 ± 0,70 1,08 ± 0,71** > 0,05 T2 0,89 ± 0,72* 0,64 ± 0,59* 1,13 ±0,75*** < 0,05 T3 0,87 ± 0,73 0,53 ± 0,52** 1,22 ± 0,76** < 0,05 T4 0,80 ± 0,82* 0,36 ± 0,41*** 1,25 ± 0,90* < 0,05 T5 0,49 ± 0,67** 0,22 ± 0,29*** 1,01 ± 0,87 < 0,05 T6 0,37 ± 0,63*** 0,11 ± 0,22*** 1,03 ± 0,86 < 0,05 * P < 0,05; ** P < 0,01; ***P < 0,001 (so với T0) Nhận xét: Liều noradrenalin trong 3 giờ đầu có xu hướng tăng lên và bắt đầu giảm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) từ giờ thứ 6 ở nhóm sống, trong khi nhóm tử vong liều noradrenalin có xu hướng tăng lên từ giờ thứ 3 lọc máu và không có xu hướng giảm liều có ý nghĩa thống kê. Bảng 11: Sự thay đổi liều Dopamin trong quá trình LMLT Dopamin (g/kg/ph) Thời điểm Chung (n = 15) Sống (n = 6) Tử vong (n = 9) P T0 13,27 ± 4,37 10,2 ± 2,9 15,3 ± 4,0 < 0,05 T1 13,43 ± 7,00 8,0 ± 7,6 17,5 ± 2,9 > 0,05 T2 13,25 ± 6,50 8,0 ± 7,6 16,4 ± 3,5 > 0,05 T3 11,00 ± 8,03 4,8 ± 6,9 16,2 ± 4,5 < 0,05 Dopamin (g/kg/ph) Thời điểm Chung (n = 15) Sống (n = 6) Tử vong (n = 9) P T4 8,07 ± 7,86** 0,5 ± 1,2* 13,1 ± 6,0 < 0,05 T5 5,20 ± 7,48** 0 10,4 ± 7,6 T6 6,44 ± 9,85* 0 11,6 ± 10,9 * P < 0,05; ** P < 0,01; ***P < 0,001 (so với T0) Nhận xét: Liều dopamin có ý nghĩa thống kê p<0,05) ở nhóm sống từ giờ thứ 24, ở nhóm tử vong hầu như không giảm được liều Dopamin. Từ giờ thứ 12 liều Dopamin ở nhóm sống giảm rõ rệt so với nhóm tử vong. Bảng 12: Sự thay đổi về liều dobutamin trong quá trình LMLT Dobutamin (g/kg/ph) Thời điểm Chung (n = 61) Sống (n = 30) Tử vong (n = 31) P T0 15,30 ± 5,61 13,8 ± 6,1 16,9 ± 4,7 < 0,05 T1 16,33 ± 4,80 15,0 ± 5,1 17,7 ± 4,2 < 0,05 T2 15,63 ± 5,35 13,2 ± 5,4 17,9 ± 4,2 < 0,05 T3 15,36 ± 5,76 12,3 ± 6,0 18,1 ± 4,0 < 0,05 T4 14,46 ± 6,46 10,8 ± 6,2* 18,5 ± 3,9 < 0,05 T5 11,48 ± 7,94** 8,4 ± 7,4*** 17,3 ± 5,1 < 0,05 T6 9,6 ± 8,74*** 7,0 ± 8,0*** 16,4 ± 3,5 < 0,05 * P < 0,05; ** P < 0,01; ***P < 0,001 (so với T0) Nhận xét: Liều Dobutamin có xu hướng tăng lên kể từ khi bắt đầu lọc máu tuy nhiên sau đó giảm có ý nghĩa (p< 0,05) từ giờ thứ 24 ở nhóm sống, nhóm tử vong có xu hướng tăng liều. Có sự khác biệt rõ rệt (p <0,05) về liều Dobutamin ở 2 nhóm qua các thời điểm lọc máu. Bảng 13: Sự thay đổi liều Adrenalin trong quá trình LMLT Adrenalin (g/kg/ph) Thời điểm Chung (n = 10) Sống (n = 4) Tử vong (n = 6) P T0 0,67 ± 0,92 0,23 ± 0,29 0,97 ± 1,1 > 0,05 T1 0,87 ± 1,23 0,15 ± 0,21 1,23 ± 1,41 > 0,05 T2 0,98 ± 1,13 0,30 ± 0,30 1,32 ± 1,27* > 0,05 T3 1,06 ± 0,97 0,23 ± 0,21 1,38 ± 0,96 > 0,05 T4 1,01 ± 1,22 0,03 ± 0,06 1,43 ± 1,25 > 0,05 T5 0,80 ± 1,79 0 2,00 ± 2,83 T6 1,13 ± 2,25 0 2,25 ± 3,18 * P < 0,05 (so với T0) Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 2 * 2012 Hội Nghị Khoa Học Kỹ Thuật Bệnh Viện Chợ Rẫy Năm 2012 150 Nhận xét: Liều adrenalin thay đổi qua các thời điểm lọc máu ở 2 nhóm sống và tử vong khác biệt không có ý thống kê. 0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100 T0 T1 T2 T3 T4 T5 Thêi ®iÓm H A T B ( m m H g) 0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4 1.6 N or ad re na lin (µ g/ kg /p h) HATB (sèng) HATB (tö vong) Nor (sèng) Nor (tö vong) Biểu đồ 1: Sự thay đổi của HATB và liều noradrenalin trong quá trình LMLT. Nhận xét: HATB tăng dần về mức bình thường tương ứng với liều noradrenalin giảm dần một các có ý nghĩa thống kê ở nhóm sống, trong khi đó ở nhóm tử vong HATB không cải thiện và liều noradrenalin có xu hướng tăng lên và không giảm được liều. 0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 T0 T1 T2 T3 T4 T5 Thêi ®iÓm S R V 0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4 1.6 N or ad re n al in SRV (sèng) SRV (tö vong) Nor (sèng) Nor (tö von