Hiệu quả điều trị viêm nha chu đối với kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2

Đặt vấn đề: Ngày nay, bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và viêm nha chu (VNC) khá phổ biến. Kiểm soát đường huyết có thể cải thiện bệnh nha chu và ngược lại, kiểm soát nhiễm khuẩn mô nha chu giúp cải thiện việc kiểm soát đường huyết. Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của điều trị VNC đối với kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Phương pháp: Với thiết kế nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng mù đơn có nhóm chứng, mẫu nghiên cứu gồm 60 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 và VNC được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm. Tất cả bệnh nhân được hướng dẫn vệ sinh răng miệng, riêng nhóm can thiệp còn được kê toa doxycycline 100mg/ngày dùng 7 ngày, cạo vôi răng và xử lý mặt gốc răng. Các số liệu thu thập gồm chỉ số mảng bám PI, chỉ số nướu GI, độ sâu túi PPD, độ mất bám dính lâm sàng CAL, chảy máu nướu khi thăm khám BOP và giá trị HbA1c được ghi nhận vào lúc khám ban đầu và sau 3 tháng. Kết quả: Sau 3 tháng, thay đổi có ý nghĩa các chỉ số GI, PPD, BOP và giá trị HbA1c trong nhóm can thiệp, trong khi ở nhóm chứng sự thay đổi các chỉ số này không đáng kể. Kết luận: Việc điều trị nha chu không phẫu thuật kết hợp sử dụng kháng sinh không những cải thiện tình trạng nha chu mà còn góp phần nâng cao việc kiểm soát biến dưỡng đường trên BN ĐTĐ típ 2.

pdf7 trang | Chia sẻ: thuyduongbt11 | Ngày: 13/06/2022 | Lượt xem: 210 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Hiệu quả điều trị viêm nha chu đối với kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 110 HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ VIÊM NHA CHU ĐỐI VỚI KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2 Vũ Thị Thúy Hồng*, Nguyễn Thị Hồng** TÓM TẮT Đặt vấn đề: Ngày nay, bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và viêm nha chu (VNC) khá phổ biến. Kiểm soát đường huyết có thể cải thiện bệnh nha chu và ngược lại, kiểm soát nhiễm khuẩn mô nha chu giúp cải thiện việc kiểm soát đường huyết. Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của điều trị VNC đối với kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Phương pháp: Với thiết kế nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng mù đơn có nhóm chứng, mẫu nghiên cứu gồm 60 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 và VNC được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm. Tất cả bệnh nhân được hướng dẫn vệ sinh răng miệng, riêng nhóm can thiệp còn được kê toa doxycycline 100mg/ngày dùng 7 ngày, cạo vôi răng và xử lý mặt gốc răng. Các số liệu thu thập gồm chỉ số mảng bám PI, chỉ số nướu GI, độ sâu túi PPD, độ mất bám dính lâm sàng CAL, chảy máu nướu khi thăm khám BOP và giá trị HbA1c được ghi nhận vào lúc khám ban đầu và sau 3 tháng. Kết quả: Sau 3 tháng, thay đổi có ý nghĩa các chỉ số GI, PPD, BOP và giá trị HbA1c trong nhóm can thiệp, trong khi ở nhóm chứng sự thay đổi các chỉ số này không đáng kể. Kết luận: Việc điều trị nha chu không phẫu thuật kết hợp sử dụng kháng sinh không những cải thiện tình trạng nha chu mà còn góp phần nâng cao việc kiểm soát biến dưỡng đường trên BN ĐTĐ típ 2. Từ khoá: Đái tháo đường típ 2, viêm nha chu, kiểm soát biến dưỡng đường huyết. ABSTRACT THE EFFECT OF PERIODONTAL TREATMENT ON GLYCEMIC CONTROL IN TYPE 2 DIABETES PATIENTS Vu Thi Thuy Hong, Nguyen Thi Hong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 - Supplement of No 2 - 2013: 110 - 116 Background: At present, diabetes mellitus and periodontitis are quite common diseases. Glycaemic control can make periodontal status better, and in contrast, periodontal disease can improve glycaemic control. Objectives: The aim of the present study was to investigate the effect of periodontal treatment on glycemic control in type 2 diabetes mellitus (DM) patients. Material and methods: In this controlled single-blind randomized clinical trial, 60 patients with type 2 DM and periodontitis were selected. Subjects were randomly assigned into two groups. All patiens received oral hygiene instructions, the treatment group received full-mouth scaling and root planing combined with systemic doxycycline 100mg/day for 7 days. Data collection included plaque index (PI), gingival index (GI), probing pocket depth (PPD), clinical attachment levels (CALs), bleeding on probing (BOP) and glycated haemoglobin (HbA1c) were recorded at baseline and 3rd month. Results: A statistically significant effect could be demonstrated for PlI, GI, PPD and BOP for the treatment * Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức, **Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược TP.HCM Tác giả liên lạc: ThS Vũ Thị Thúy Hồng, ĐT: 0907515023, Email: thuyhong2906@yahoo.com Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 111 group. HbA1c levels in the treatment group decreased significantly whereas the control group showed a slight but insignificant decrease for this parameter. Conclusions: The results of this study showed that non-surgical periodontal therapy with adjunctive systemic antimicrobial treatment is associated with improved both periodontal health and glycaemic control in type 2 DM patients. Key words: Type 2 diabetes mellitus, periodontitis, glycemic control. ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) và viêm nha chu (VNC) hiện nay khá phổ biến trên thế giới(5). Ở Việt Nam, tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ trong cả nước trên 5%. Bên cạnh đó, bệnh nha chu luôn là nguyên nhân hàng đầu gây mất răng ở người trưởng thành, với 90% người mắc bệnh nha chu, trong đó 32% bị VNC(11). Mối liên hệ hai chiều giữa hai bệnh này đã được chứng minh từ lâu, kiểm soát đường huyết có thể cải thiện bệnh nha chu, và ngược lại, kiểm soát nhiễm khuẩn mô nha chu giúp cải thiện việc kiểm soát đường huyết(13). Cho đến nay, xét nghiệm HbA1c vẫn là phương pháp tốt nhất để theo dõi mức đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ(1). Huyết sắc tố kết hợp với glucose thành glycohemoglobin trong đó HbA1c chiếm 4-6% tổng số huyết sắc tố. HbA1c tăng trong trường hợp tăng đường huyết mạn tính. Glycohemoglobin sẽ tồn tại trong suốt đời sống của hồng cầu (khoảng 120 ngày), do vậy HbA1c cho biết sự kiểm soát đường huyết trong thời gian dài. Nồng độ HbA1c 5-7% cho biết đã ổn định đường huyết tốt trong 2-3 tháng trước, nếu HbA1c > 8% thì đường huyết không được kiểm soát tốt(1,9). Ở Việt Nam, đã có một số nghiên cứu về tình trạng bệnh nha chu trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Tuy nhiên, điều trị VNC có cải thiện được việc kiểm soát đường huyết vẫn còn là một vấn đề chưa rõ. Với mong muốn cải thiện tình trạng nha chu ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2, chúng tôi thực hiện đề tài này với mục tiêu xác định hiệu quả của việc điều trị VNC đối với việc kiểm soát đường huyết được đánh giá qua xét nghiệm HbA1c ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2. ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mẫu nghiên cứu Gồm 60 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 được chẩn đoán và điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Thủ Đức Tp.HCM. Tiêu chí chọn mẫu Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có 6,5% ≤ HbA1c ≤ 8%, được điều trị ngoại trú. Trên 40 tuổi(12). VNC có ≥ 2 răng túi nha chu từ 4-7mm hoặc ≥ 2 răng có độ mất bám dính ≥ 3mm(7). Còn nhiều hơn 10 răng và có khả năng tự chăm sóc răng. Đồng ý tham gia nghiên cứu và tái khám đúng hẹn. Tiêu chí loại trừ Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 kiểm soát đường huyết kém (HbA1c > 8%). Bệnh nhân ĐTĐ típ 2 đang điều trị nội trú. Bệnh nhân béo phì BMI ≥ 30. Có điều trị nha chu trong vòng 6 tháng tính đến thời điểm nghiên cứu. Bệnh nhân đủ những tiêu chí nghiên cứu được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm can thiệp (31 bệnh nhân) và nhóm chứng (29 bệnh nhân). Thiết kế nghiên cứu Thử nghiệm lâm sàng mù đơn, có nhóm chứng. Phương pháp thu thập dữ liệu Nhân lực 2 bác sĩ Răng Hàm Mặt và 3 y sĩ răng trẻ em, đã được huấn luyện định chuẩn tại bộ môn Nha Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 112 Chu của Khoa Răng Hàm Mặt, Đại học Y Dược Tp.HCM. Việc khám răng và nha chu trước và sau 3 tháng do hai bác sĩ RHM khác nhau thực hiện, không biết thông tin về tình trạng kiểm soát đường huyết của bệnh nhân. Bác sĩ đánh giá kết quả điều trị viêm nha chu không biết bệnh nhân thuộc nhóm can thiệp hay nhóm chứng, không biết tình trạng nha chu trước khi điều trị. Phương tiện nghiên cứu Xét nghiệm HbA1c tại phòng xét nghiệm huyết học Bệnh viện Đa Khoa Khu Vực Thủ Đức, bằng máy ADVIA 1650 Chemistry System. Máy này đã được Trung Tâm Kiểm Chuẩn Xét Nghiệm Tp.HCM thẩm định kết quả. Khám nha chu bằng bộ dụng cụ khám răng, cây đo túi William, mỗi bệnh nhân được chụp 6 phim quanh chóp (ở nhóm răng cửa trên, răng cửa dưới và các răng cối lớn thứ nhất) để xác định mức độ tiêu xương ổ răng. Dụng cụ điều trị nha chu gồm máy cạo vôi và bộ cạo vôi răng của Densply, bộ xử lý mặt gốc răng Gracey. Các biến nghiên cứu Đặc điểm mẫu nghiên cứu Họ tên, giới tính, tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, chiều cao, cân nặng, thời gian mắc bệnh ĐTĐ, số lần chải răng trong ngày, thói quen hút thuốc lá, loại phục hình đang sử dụng, số răng hiện diện trên hai hàm. Bệnh ĐTĐ Chẩn đoán bệnh ĐTĐ khi có kết quả một trong ba xét nghiệm sau(9): (1) Đường huyết lúc đói (sau 8 giờ không ăn) ≥ 126mg/dl (7mmol/l), (2) Một mẫu đường huyết bất kỳ ≥ 200mg/dl (11,1mmol/l) kết hợp với các triệu chứng của tăng đường huyết, (3) Đường huyết 2 giờ sau khi uống nước có chứa 75g glucose ≥ 200mg/dl (11,1mmol/l). Theo dõi tình trạng bệnh ĐTĐ: HbA1c. Viêm nha chu Chẩn đoán VNC: Khi có ≥ 2 răng có túi nha chu ≥ 4 mm hoặc ≥ 2 răng có độ mất bám dính ≥ 3mm(7). Tình trạng nha chu: Chỉ số mảng bám (PI), chỉ số nướu (GI), độ sâu túi (PPD), độ mất bám dính lâm sàng (CAL), chảy máu nướu khi thăm dò (BOP), mức độ VNC. Các bước thực hiện Bệnh nhân khám và điều trị ĐTĐ tại phòng khám Nội tiết được chỉ định xét nghiệm máu HbA1c và chuyển khám chuyên khoa Răng Hàm Mặt (RHM). Một bác sĩ RHM khám răng và nha chu, chọn những bệnh nhân đủ tiêu chí chọn mẫu. Sau đó, một y sĩ Răng trẻ em phân ngẫu nhiên bệnh nhân vào nhóm can thiệp hoặc nhóm chứng với sự đồng ý của bệnh nhân, ghi nhận giá trị HbA1c trong phiếu thu thập dữ liệu. Điều trị nha chu cho nhóm can thiệp: Hướng dẫn vệ sinh răng miệng, phát kem đánh răng, bàn chải, nước súc miệng, sử dụng kháng sinh doxycycline 100mg/ngày trong 7 ngày, cạo vôi răng, xử lý mặt gốc răng. Nhóm chứng được hướng dẫn vệ sinh răng miệng, phát kem đánh răng, bàn chải, nước súc miệng. Đánh giá tình trạng nha chu và biến dưỡng đường huyết sau 3 tháng: Tất cả BN tái khám sau 3 tháng, làm lại xét nghiệm HbA1c. Một y sĩ răng trẻ em ghi nhận giá trị HbA1C. Một bác sĩ RHM khác khám răng và nha chu, đánh giá kết quả điều trị viêm nha chu. Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm Excel và Stata 10. Dùng kiểm định Chi bình phương và chính xác Fisher để so sánh các tỉ lệ %, kiểm định t để so sánh các giá trị trung bình, tương quan Pearson để xác định tương quan giữa HbA1c với GI, PPD, BOP. Liên quan có ý nghĩa khi p<0,05. KẾT QUẢ Đặc điểm của bệnh nhân ĐTĐ có VNC Mẫu nghiên cứu ĐTĐ típ 2 có VNC mạn tính gồm 31 bệnh nhân trong nhóm can thiệp và 29 bệnh nhân trong nhóm chứng. Tại thời điểm ban đầu, không có sự khác biệt giữa hai nhóm về tuổi, chỉ số khối cơ thể (BMI), thời gian phát hiện ĐTĐ, thói quen hút thuốc, số lần chải răng, số Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 113 răng còn và loại phục hình răng (p>0,05). Tuy nhiên, có sự khác biệt về sự phân bố giới tính giữa nhóm can thiệp với nhóm chứng (p<0,05) (Bảng 1). Bệnh ĐTĐ típ 2 có VNC xảy ra ở nữ nhiều hơn nam (tỉ lệ nam: nữ là 0,71:1), thường gặp từ 50-70 tuổi (chiếm 70%), trung bình 58,5 ± 8,5 tuổi. Đa số BN có BMI ở mức bình thường (67%), còn trung bình 23,6 ± 4,3 răng. Thời gian bệnh đái tháo đường trung bình 4,61 ± 3,07 năm. Về thói quen răng miệng, 10% bệnh nhân có thói quen quen hút thuốc lá, 83% chải răng 2-3 lần trong ngày. Bảng 1. Đặc điểm của 60 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 có VNC. Nhóm can thi p (31 ca) Nhóm ch ng (29 ca) Tổng (60 ca) Giá trị p Tui (TB ± ðLC) 57,77 ± 8,82 59,52 ± 8,37 58,53 ± 8,54 0,44 (Kiểm ñịnh t) Gii tính Tỉ lệ nam:nữ 0,35:1 1,44:1 0,71:1 0,01* (Kiểm ñịnh χ2) S năm ñái tháo ñưng (TB ± ðLC) 4,85 ± 2,64 4,36 ± 3,15 4,61 ± 3,07 0,54 (Wilcoxon) Chi răng (tỉ lệ %) 1 lần/ngày 2 lần/ngày 3 lần/ngày 16 65 19 17 73 10 17 68 15 0,62 (Fisher) Hút thuc lá (%) 14 7 10 0,34 (Fisher) Ph$c hình Hàm giả (số ca) Cố ñịnh (số ca) 2 3 3 3 5 6 0,85 (Fisher) S răng còn (TB ± ðLC) 23,87 ± 3,65 23,87 ± 3,65 23,63 ± 4,3 0,66 (Kiểm ñịnh t) Tình trạng nha chu trước và sau 3 tháng Tại thời điểm ban đầu nghiên cứu, không có sự khác biệt về các chỉ số nha chu và HbA1c giữa nhóm can thiệp và nhóm chứng (p>0,05). Sau 3 tháng, có một số thay đổi ở hai nhóm (Bảng 2). Cả hai nhóm đều có sự cải thiện việc kiểm soát mảng bám: nhóm can thiệp từ 1,81 ± 0,59 giảm xuống 0,91 ± 0,34 rất có ý nghĩa (p<0,001), nhóm chứng từ 1,87 ± 0,52 giảm còn 1,47 ± 0,39 có ý nghĩa (p<0,05). Sự khác biệt giữa hai nhóm rất có ý nghĩa (p<0,001). Cả hai nhóm đều giảm điểm số viêm nướu: nhóm can thiệp từ 1,09 ± 0,30 giảm còn 0,46 ± 0,22 rất có ý nghĩa (p<0,001); trong khi nhóm chứng giảm rất ít từ 1,13 ± 0,34 còn 0,99 ± 0,26 không có ý nghĩa (p>0,05). Có sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ giảm viêm nướu giữa hai nhóm (p<0,05). Cả hai nhóm đều giảm độ sâu túi nha chu, nhóm can thiệp từ 2 ± 0,27 giảm còn 1,54 ± 0,19 rất có ý nghĩa (p<0,001); trong khi nhóm chứng giảm rất ít từ 1,95 ± 0,23 còn 1,92 ± 0,27 không có ý nghĩa (p>0,05). Sự khác biệt về giảm độ sâu túi nha chu giữa hai nhóm rất có ý nghĩa (p<0,001). Tỉ lệ % vị trí nướu chảy máu khi thăm khám (BOP) đều giảm ở cả hai nhóm, tuy nhiên ở nhóm can thiệp từ 21,54 ± 13,81 giảm còn 4,62 ± 2,7 rất có ý nghĩa (p<0,001); trong khi nhóm chứng giảm rất ít từ 20,47 ± 10,52 còn 18,32 ± 10,69 không có ý nghĩa (p>0,05). Mức độ giảm chảy máu nướu giữa hai nhóm khác nhau rất có ý nghĩa (p<0,001). Mất bám dính lâm sàng CAL không cải thiện ở cả hai nhóm (p>0,05). Kiểm soát đường huyết Sau 3 tháng, trung bình HbA1c giảm ở cả hai nhóm, nhóm can thiệp giảm 0,74% có ý nghĩa thống kê (từ 7,43% xuống còn 6,68%) (p<0,05), trong khi nhóm chứng giảm 0,17% (từ 7,40% còn 7,24%) không có ý nghĩa (p>0,05). Mức độ giảm HbA1c giữa hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Nghiên cứu Y học Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 114 Bảng 2: Các chỉ số nha chu và HbA1c trước và sau 3 tháng. PI (TB ± ðLC) GI (TB ± ðLC) PPD (mm) (TB ± ðLC) CAL (mm) (TB ± ðLC) BOP (%) (TB ± ðLC) HbA1c (%) (TB ± ðLC) Nhóm can thiệp Ban ñầu 1,81 ± 0,59 1,09 ± 0,3 2 ± 0,27 2,69 ± 0,57 21,54 ± 13,81 7,43 ± 0,47 Sau 3 tháng 0,91 ± 0,34 0,46 ± 0,22 1,54 ± 0,19 2,57 ± 0,58 4,62 ± 2,7 6,68 ± 1,09 ∆ -0,9 -0,64 -0,47 -0,12 -17 -0,74 p 0,000 0,000 0,000 0,41 0,000 0,001 Nhóm chứng Ban ñầu 1,87 ± 0,52 1,13 ± 0,34 1,95 ± 0,23 2,54 ± 0,66 20,47 ± 10,52 7,4 ± 0,50 Sau 3 tháng 1,47 ± 0,39 0,99 ± 0,26 1,92 ± 0,27 2,58 ± 0,62 18,32 ± 10,69 7,24 ± 0,33 ∆ -0,4 -0,13 -0,037 0,04 -2,14 -0,17 p 0,001 0,1 0,67 0,83 0,45 0,46 pCT-Chứng 0,000 0,000 0,000 0,38 0,000 0,08 ∆: thay đổi giữa lúc ban đầu và sau 3 tháng. p: giá trị p khi so sánh trước và sau 3 tháng. pCT-Chứng: giá trị p khi so sánh nhóm can thiệp với nhóm chứng. Tương quan giữa thay đổi tình trạng nha chu với HbA1C sau 3 tháng Phân tích tương quan Pearson cho thấy không có mối tương quan giữa sự thay đổi HbA1c với sự thay đổi về mức độ viêm nướu (GI), độ sâu túi nha chu (PPD) và tỉ lệ % vị trí nướu chảy máu khi thăm khám (BOP) sau 3 tháng. BÀN LUẬN Đây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng đầu tiên ở Việt Nam về hiệu quả điều trị VNC trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Mẫu nghiên cứu gồm 60 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 và VNC, theo dõi bệnh 3 tháng. Tại thời điểm ban đầu, không có sự khác biệt giữa nhóm chứng và nhóm can thiệp về tuổi, trình độ văn hóa, BMI, thời gian bị ĐTĐ, thói quen hút thuốc, số lần chải răng, phục hình răng và số răng còn. Bên cạnh đó, các chỉ số về VNC và các chỉ số đường huyết giữa hai nhóm cũng tương đương nhau. Về tình trạng nha chu của bệnh nhân ĐTĐ típ 2 Tất cả 60 BN đều được hướng dẫn vệ sinh răng miệng và phát kem đánh răng, bàn chải và nước súc miệng. Các bệnh nhân nhóm can thiệp được điều trị VNC theo phác đồ cạo vôi, xử lý mặt gốc răng và sử dụng kháng sinh như nhiều nghiên cứu(6,12). Có sự cải thiện đáng kể PI, GI, BOP và PPD sau 3 tháng ở nhóm can thiệp có điều trị VNC, trong khi ở nhóm chứng chỉ thay đổi ở chỉ số PI còn các chỉ số khác hầu như không thay đổi. Kết quả đã cung cấp thêm bằng chứng cho thấy việc loại bỏ nhiễm khuẩn ở mô nha chu thông qua việc điều trị nha chu không phẫu thuật và dùng kháng sinh toàn thân là có hiệu quả. Có những ý kiến khác nhau về thời điểm đánh giá đáp ứng của việc điều trị nha chu không phẫu thuật. Morrison đề nghị đánh giá sau 1 tháng(10), Badersten cho rằng việc thay đổi túi có độ sâu 4-7mm xảy ra trong 4-5 tháng(2). Việc đáp ứng tốt đối với việc điều trị nha chu trên bệnh nhân ĐTĐ trong nghiên cứu này khẳng định kết quả của những nghiên cứu trước đây(8,12). Tuy nhiên, CAL và mức độ cải thiện tình trạng nha chu trong thời gian dài thì cần nghiên cứu thêm. Về ổn định đường huyết sau khi điều trị nha chu trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 Mối liên hệ hai chiều giữa bệnh ĐTĐ và bệnh nha chu là một ví dụ của bệnh toàn thân ảnh hưởng lên nhiễm khuẩn răng miệng và ngược lại nhiễm khuẩn răng miệng sẽ làm trầm trọng thêm bệnh toàn thân sẵn có(3,5). Cơ chế biến chứng VNC trong bệnh ĐTĐ có thể liên quan đến sự gắn dính glucose vào một số phân tử lớn (như protid, lipid, acid nucleic), tạo thành những Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 2 * 2013 Nghiên cứu Y học Chuyên Đề Răng Hàm Mặt 115 sản phẩm cuối cùng glucose hóa tích cực (AGE). Khi các thụ thể của đại thực bào kết hợp với những sản phẩm cuối cùng này sẽ thay đổi kiểu hình, sinh ra nhiều cytokin viêm như interleukin IL-1, IL-6 và TNF-α. Các IL-1 hoạt hóa các lymphô bào B và T, TNF-α gây tiêu xương, IL-6 kích thích sản sinh các hủy cốt bào làm tăng tiêu xương(3). Mặt khác, trong VNC, các cytokin viêm cũng được phóng thích ra, trong đó TNF-α giữ vai trò quan trọng nhất, có tác dụng làm tăng đề kháng với insulin trong bệnh ĐTĐ típ 2, làm khó kiểm soát đường huyết. Khi VNC được điều trị, sẽ làm giảm các chất AGE, TNF-α, HbA1c(4). Hiện nay, ĐTĐ được xem là một yếu tố nguy cơ của bệnh nha chu, và bệnh nha chu ảnh hưởng đến việc kiểm soát đường huyết trong bệnh ĐTĐ(14). Do vậy, đối với bệnh nhân ĐTĐ và VNC, phác đồ điều trị nha chu phụ thuộc phần lớn vào việc kiểm soát đường huyết. Trong những biện pháp tại chỗ, đầu tiên vẫn là những biện pháp vệ sinh cá nhân bao gồm chải răng, chải niêm mạc, dùng chỉ nha khoa và nước súc miệng diệt khuẩn để làm giảm mảng bám và viêm nướu. Kết hợp cạo vôi răng, xử lý mặt gốc răng và sử dụng kháng sinh sẽ cải thiện tình trạng nha chu và việc kiểm soát đường huyết ở những bệnh nhân này(6,8,13). Tuy nhiên, không phải tất cả nghiên cứu cho thấy HbA1c được cải thiện sau khi điều trị nha chu, mà có khi chỉ cải thiện được tình trạng bệnh nha chu(12). Mục tiêu chính của nghiên cứu này là đánh giá hiệu quả của điều trị nha chu lên khả năng ổn định đường huyết trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Cùng với hiệu quả điều trị VNC ở nhóm can thiệp, kết quả HbA1c cũng đã giảm đáng kể 0,74% sau 3 tháng (p<0,05), trong khi nhóm chứng chỉ giảm 0,17% (p>0,05). Tuy nhiên, phân tích tương quan Pearson cho thấy không có mối tương quan giữa sự thay đổi HbA1c với sự thay đổi GI, BOP và PPD. Như vậy, mặc dù tình trạng nha chu và đường huyết ở nhóm can thiệp sau 3 tháng điều trị nha chu có cải thiện hơn so với nhóm chứng, nhưng nghiên cứu này chưa thể kết luận việc cải thiện mức độ ổn định đường huyết sau 3 tháng điều trị VNC là do hiệu quả của việc giảm viêm nhiễm nha chu. Sự không tương quan giữa mức độ cải thiện tình trạng nha chu với mức độ cải thiện đường huyết trong nghiên cứu này phản ánh những thay đổi trong kiểm soát đường huyết có thể do những yếu tố khác hơn là những thay đổi trong VNC. Sự kiểm soát biến dưỡng đường phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, không chỉ VNC mà còn liên quan với những yếu tố quan trọng khác như chế độ dinh dưỡng, việc tập thể dục(9). Nếu trước đây người ta coi biến chứng của ĐTĐ là một điều đương nhiên thì ngày nay nhiều nghiên cứu cho thấy kiểm soát đường huyết chặt chẽ có thể làm biến chứng ít xảy ra hơn, chỉ cần HbA1c giảm 0,9% đã giảm được hầu hết các biến chứng liên quan đến ĐTĐ(9). KẾT LUẬN Việc điều trị nha chu bao gồm vôi răng, xử lý mặt gốc răng, kết hợp sử dụng kháng sinh không những cải thiện tình trạng nha chu mà còn góp phần nâng cao việc kiểm soát biến dưỡng đường trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2. Cần tiếp tục nghiên cứu dọc, cỡ mẫu lớn hơn, dân số mẫu đồng nhất hơn, thử nghiệm lâm sàng với thời gian theo dõi dài hơn để đánh giá chính xác quan hệ nhân quả của mối liên hệ hai chiều giữa bệnh nha chu với bệnh ĐTĐ và để khẳng